CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.4. Hiện trạng và đề xuất công tác bảo tồn và phát triển cánh cứng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
3.4.3. Đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển cánh cứng
3.4.3.2. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Cơ sở của biện pháp KTLS là tạo môi trường sống, nơi cư trú phù hợp và tạo nguồn thức ăn đa dạng cho các loài CC. Những biện pháp KTLS tác động vào Khu BTTN Pù Luông, thuộc rừng đặc dụng cần phải tuân thủ theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về thành phần, tính đa dạng CC ở các dạng SC cũng như đặc điểm tài nguyên rừng ở Khu BTTN Pù Luông và Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ NN&PTNT, Quy định về các biện pháp lâm sinh [5], chúng tôi đề xuất các biện pháp KTLS áp dụng cho từng SC nhằm bảo tồn và PT các loài CC được đề xuất bảo tồn ở Khu BTTN Pù Luông được tóm tắt theo bảng 3.39.
Bảng 3.39. Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh ở các dạng sinh cảnh nhằm bảo tồn và phát triển cánh cứng Sinh
cảnh Nhóm cánh cứng dễ bị tác động Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 1. Rừng
nguyên sinh
Các loài trong họ Lucanidae, Passlidae, Scarabaeidae, Carabidae. Loài Micraspis discolor họ Coccinellidae.
- Bảo vệ rừng
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên
2. Rừng thứ sinh
Các loài Dorcus affinis, Prismognathus angularis, Prosopocoilus buddha, P.
inquinatus nigritus, Serrognathue platymelus sika họ Lucanidae. Loài Aceraius grandis, Ceracupes arrowi, Leptaulax dentatus họ Passlidae. Các loài thuộc họ Scarabaeidae và Carabidae.
- Bảo vệ rừng
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung - Nuôi dưỡng rừng
- Làm giàu rừng
Sinh
cảnh Nhóm cánh cứng dễ bị tác động Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
3. Trảng cỏ thứ sinh
Loài Onitis virens và Onthophagus kindermanni họ Scarabaeidae. Loài Micraspis hirashimai họ Coccinellidae.
Loài Chlaenius bimaculatus, C.
circumdatus, Cosmodela virgula và Pseudognathaphanus punctilabris họ Carabidae
- Làm giàu rừng theo băng và theo đám;
- Trồng mới.
4. Trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh
Các loài Dorcus affinis, Prismognathus angularis, Prosopocoilus buddha, Serrognathue platymelus sika họ Lucanidae. Loài Ceracupes arrowi, Leptaulax dentatus họ Passlidae. Các loài thuộc họ Scarabaeidae trừ loài Chalcosoma atlas. Loài Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor và Synonycha grandis họ Coccinellidae. Các loài thuộc họ Carabidae.
- Bảo vệ rừng
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung
- Nuôi dưỡng rừng
- Làm giàu rừng theo băng và theo đám
- Trồng mới.
5. Rừng tre luồng
Loài Paragymnopleurus melanarius họ Scarabaeidae. Loài Micraspis hirashimai họ Coccinellidae. Loài Cosmodela virgula và Scarites terricola thuộc họ Carabidae.
- Nuôi dưỡng rừng
- Làm giàu rừng theo băng và theo đám
6. Quanh bản làng và nương rẫy
Các loài thuộc họ Scarabaeidae. Loài Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor và Synonycha grandis họ Coccinellidae. Các loài Chlaenius bimaculatus, C. circumdatus, C.
praefectus, C. sericimicans, Colfax stevensi, Cosmodela virgula, Trigonotoma chalceola họ Carabidae.
- Trồng mới
- Xây dựng vườn hộ
- Bảo vệ sinh cảnh của cánh cứng
Biện pháp này cần được thực hiện ở các dạng SC là rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh nhằm bảo vệ môi trường sống các loài
trong họ Lucanidae, Passlidae, Scarabaeidae, Carabidae. Các loài Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor và Synonycha grandis thuộc họ Coccinellidae.
Ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: gồm các Tiểu khu: 27, 30, 41, 52, 53, 65, 74, 74A, 75, 84, 96, 250, 251, 252, 254, 257, 258, 259, 261, 262, 263, 268, 270. Áp dụng biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt toàn bộ diện tích rừng và đất rừng, xác định vị trí trọng điểm để tăng cường tuần tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng, đặc biệt ở các khu vực trọng điểm như: thôn Đuốm xã Phú Lệ, thôn Pan, thôn Mỏ xã Phú Xuân, huyện Quan Hóa; thôn Khuyn, thôn Hiêu xã Cổ Lũng, thôn Kịt, thôn Cao xã Lũng Cao, thôn Báng, thôn Đông Điểng xã Thành Sơn huyện Bá Thước. Ở phân khu phục hồi sinh thái: gồm các Tiểu khu: 96, 115, 136, 145, 156, 158, 264, 269, 271, cần bảo vệ diện tích rừng hiện có ở khu vực này, nghiêm cấm chặt phá cây rừng, săn bắt động vật rừng.
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung
+ Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên
Trên cơ sở hiện trạng rừng và đặc điểm phân bố của CC, có thể áp dụng biện pháp này ở SC rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh nhằm bảo vệ và tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài trong họ Lucanidae, Passlidae, Scarabaeidae, Carabidae.
loài Micraspis discolor họ Coccinellidae. Cụ thể trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt nơi có cây bụi xen cây gỗ có mật độ cây tái sinh mục đích đạt chiều cao trên 0,5m lớn hơn 500 cây/ha, cây tái sinh mục đích phân bổ tương đối đều trên toàn diện tích hoặc có các khoảng trống dưới 1000 m2. Biện pháp thực hiện là bảo vệ, chống chặt phá cây tái sinh hiện có, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát dọn dây leo, cây bụi và chặt bỏ cây cong queo, sâu bệnh, cây phi mục đích; Sửa gốc chồi và tỉa bớt chồi xấu, để lại mỗi gốc không quá 02 chồi và thực hiện vệ sinh rừng.
+ Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung
Biện pháp này cần áp dụng ở SC rừng thứ sinh, trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh thuộc phân khu phục hồi sinh thái của Khu BTTN Pù Luông nhằm bảo vệ và tạo môi trường sống phù hợp cho các loài trong họ Lucanidae, Passlidae,
Scarabaeidae, Carabidae. Các loài Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor và Synonycha grandis họ Coccinellidae. Diện tích cần áp dụng biện pháp này gồm:
Diện tích không đạt tiêu chí thành rừng do khai thác kiệt gồm: diện tích có cây bụi xen cây gỗ với mật độ cây tái sinh mục đích đạt chiều cao trên 0,5 m từ 100 cây/ha trở lên, phân bố không đều, có các khoảng trống từ 1000 m2 đến dưới 3000m2. Biện pháp thực hiện là: Bảo vệ, chống chặt phá cây tái sinh hiện có và phòng cháy, chữa cháy rừng; Phát dọn dây leo, cây bụi và chặt bỏ cây cong queo, sâu bệnh, cây phi mục đích; và sửa gốc chồi, tỉa bớt chồi xấu, để lại mỗi gốc không quá 2 chồi và thực hiện vệ sinh rừng;
Diện tích sau khai thác có tỷ lệ che phủ dưới 20%, có khả năng tự tái sinh phục hồi thành rừng, thực hiện biện pháp: chặt những cây bị sâu bệnh, dập gãy, cụt ngọn và không được khai thác măng trong giai đoạn khoanh nuôi. Loài cây trồng bổ sung là cây bản địa, các loài cây gỗ, cây đa tác dụng, cây lâm sản ngoài gỗ như:
Vàng Tâm, Xoan ta, Sến mật, Mun, Thông tre, Vầu, Lát hoa, Lim, Luồng. Tiêu chuẩn cây giống: trồng bằng cây con có bầu, chiều cao cây con từ 0,5 m trở lên;
Điều tra xác định mật độ cây tái sinh hiện có để xác định mật độ trồng bổ sung, đảm bảo không quá 800 cây/ha. Phương thức trồng: Trồng theo băng đối với diện tích cây tái sinh phân bố không đều hoặc trồng theo đám đối với các khoảng trống lớn; hố trồng có bề mặt hình vuông, kích thước hố có chiều dài cạnh 30 cm và chiều sâu 30 cm trở lên. Chăm sóc cây tái sinh mục đích và cây trồng bổ sung, trồng dặm cây trồng bị chết; làm cỏ, vun xới xung quanh gốc cây trồng bổ sung theo hình tròn có đường kính từ trên 0,6m, thời gian chăm sóc là 6 năm, trong 3 năm đầu sau khi trồng, mỗi năm chăm sóc ít nhất 2 lần, các năm sau chăm sóc mỗi năm 1 lần.
- Làm giàu rừng
Biện pháp này được áp dụng ở phân khu phục hồi sinh thái với đối tượng là rừng phục hồi có cây gỗ đạt chiều cao tham gia vào tán rừng với số lượng dưới 400 cây/ha hoặc cây tái sinh mục đích có chiều cao trên 1m với số lượng dưới 500 cây/ha. Cây gỗ và cây tái sinh mục đích phân bố không đều trên toàn bộ diện tích.
Rừng tre nứa có tỷ lệ che phủ trên 60% và dưới 200 bụi/ha, áp dụng biện pháp làm giàu rừng như bảng 3.40.
Bảng 3.40. Biện pháp làm giàu rừng theo băng và theo đám Làm giàu rừng theo băng Làm giàu rừng theo đám - Dạng SC: rừng thứ sinh, trảng cỏ thứ sinh, trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh và rừng tre luồng nhằm tạo môi trường sống phù hợp cho các loài Dorcus affinis, Prismognathus angularis, Prosopocoilus buddha, P. inquinatus nigritus, Serrognathue platymelus sika họ Lucanidae. Loài Aceraius grandis, Ceracupes arrowi, Leptaulax dentatus họ Passlidae. Các loài thuộc họ Scarabaeidae, Carabidae, Coccinellidae.
- Vị trí: Khoảng trống có diện tích dưới 1000 m2 hoặc nơi cây rừng phân bố không đều;
- Vị trí: Những khoảng trống từ 1000 m2 đến dưới 3000 m2; - Loài cây trồng: cây bản địa; Sến mật, các loài Lát, Lim, Mun, Thông tre, Vầu, Lát hoa, Xoan ta, Luồng.
- Tiêu chuẩn cây trồng: Trồng bằng cây con gieo từ hạt, có bầu, chiều cao cây con từ 0,5m trở lên; Kích thước hố trồng từ 30 x 30 x 30cm trở lên;
- Thời vụ trồng: trồng vào đầu mùa mưa tháng 7, tháng 8.
- Mật độ trồng: tối đa 500 cây/ha, mỗi băng trồng tối thiểu 1 hàng cây;
- Băng trồng bố trí theo đường đồng mức ở nơi có độ dốc cao trên 25°; ở nơi dưới 25° bố trí băng theo hướng Đông Tây; Chiều rộng băng trồng tối thiểu bằng 2/3 chiều cao tán rừng của băng chừa; Phát dọn cây trong băng chặt nhưng để lại cây mục đích;
- Băng chừa: rộng từ 6m đến 12m, trong băng thực hiện các biện pháp phát dây leo, cây bụi, chặt bỏ cây cong queo sâu bệnh, không làm vỡ tầng tán của băng chừa;
- Mật độ trồng: tối đa 500 cây/ha; vị trí cây trồng cách mép rừng từ 3m đến 4m và cách những cây tái sinh mục đích có sẵn với cự ly thích hợp, đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng tốt.
- Chăm sóc rừng: trong 3 năm đầu sau khi trồng, chăm sóc ít nhất 2 lần/năm.
Biện pháp thực hiện: trồng dặm, phát dây leo, cỏ dại xâm lấn trên băng trồng, vun xới đất xung quanh gốc cây trồng theo hình tròn có đường kính từ 0,6 m trở lên. Từ năm thứ tư trở đi đến khi cây trồng đạt chiều cao từ 8 m trở lên, chăm sóc ít nhất mỗi năm 01 lần, với các công việc chặt tỉa cây chồi, cây tạp tái sinh xâm lấn trên băng trồng và cây phi mục đích trong băng chừa.
- Nuôi dưỡng rừng
Áp dụng đối với các dạng SC: Rừng thứ sinh, trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh và rừng tre luồng ở phân khu phục hồi sinh thái nhằm bảo tồn và PT các loài Dorcus affinis, Prismognathus angularis, Prosopocoilus buddha, P. inquinatus
nigritus, Serrognathue platymelus sika họ Lucanidae. Loài Aceraius grandis, Ceracupes arrowi, Leptaulax dentatus họ Passlidae. Các loài thuộc họ Scarabaeidae và Carabidae, Coccinellidae.
Đối tượng áp dụng là rừng phục hồi có cây gỗ đạt chiều cao tham gia vào tán rừng với số lượng từ 400 cây/ha trở lên hoặc cây tái sinh mục đích có chiều cao trên 1m với số lượng từ 500 cây/ha trở lên. Cây gỗ và cây tái sinh mục đích phân bố tương đối đều trên toàn diện tích; Biện pháp thực hiện đối với rừng gỗ là: phát dây leo, không phát cây bụi, thảm tươi; chặt những cây cong queo, sâu bệnh, dập gãy, cụt ngọn, giữ lại những cây sinh trưởng khỏe mạnh, đảm bảo độ tàn che tối thiểu 0,6. Số lần chặt từ 01 lần đến 02 lần, giữa hai lần chặt cách nhau 3-7 năm. Đối với rừng tre nứa, thực hiện phát dây leo, cây bụi lấn át tre nứa; chặt những cây tre nứa cụt ngọn, dập nát, già cỗi; không khai thác măng trong thời gian nuôi dưỡng.
- Trồng mới
Có thể áp dụng trảng cỏ thứ sinh, trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh, khu vực quanh bản làng và nương rẫy ở phân khu phục hồi sinh thái Khu BTTN Pù Luông nhằm bảo tồn và PT những loài thuộc họ Scarabaeidae, Carabidae, Coccinellidae.
Đối tượng gồm: diện tích đất chưa có rừng, đất trống; đất có thực bì là cỏ thưa, lau lách; đất có cây bụi, cây gỗ rải rác, cây tái sinh mục đích có chiều cao trên 0,5m với số lượng dưới 100 cây/ha.
Nội dung thực hiện: Chọn loài cây: chọn cây bản địa có phân bố ở Khu BTTN Pù Luông như Sến mật, các loài Lát, Lim, Mun, Kim giao,Thông tre, Vầu, Xoan ta, Luồng. Tiêu chuẩn cây giống đem trồng: cây gieo từ hạt, có bầu, cao trên 0,5m.
Xử lý thực bì: phát dọn thực bì theo băng hoặc theo đám, thực bì được gom lại từng dải dọc theo đường đồng mức và không được đốt. Khi xử lý thực bì phải chừa lại cây gỗ có sẵn và cây tái sinh mục đích;
Cuốc hố, bón phân: cuốc hố theo hàng, kích thước hố trồng từ 30 x 30 x 30cm trở lên, lấp hố kết hợp với bón lót trước khi trồng;
Phương thức trồng: trồng hỗn giao ít nhất hai loài cây trở lên, theo băng hoặc theo đám; trồng thuần loài đối với nơi có điều kiện lập địa đặc thù hoặc loài cây ưa sáng; mật độ trồng tối thiểu 500 cây/ha.
- Phát triển vườn hộ
Một số mô hình phát triển vườn hộ trồng các loài rau. Su su, Rau sắng, Mướp đắng và cây ăn quả có giá trị Cam, Quýt bản địa ở một số xã như Cổ Lũng, Lũng Cao, Thành Lâm, Phú Lệ... đã đạt được hiệu quả kinh tế cao. Do đó có thể nhân rộng các mô hình này trên các dạng SC như trảng cỏ thứ sinh; trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh; quanh bản làng và nương rẫy thuộc phân khu phục hồi sinh thái và vùng đệm của khu bảo tồn nhằm đảm bảo sinh kế cho cộng đồng. Như vậy việc áp dụng các biện pháp KTLS là điều kiện cần thiết để bảo tồn và PT môi trường sống cho CC, tăng tính đa dạng hệ thực vật, từ đó thực hiện được mục tiêu bảo tồn và PT khu hệ CC.