CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về cơ sở bảo tồn bộ Cánh cứng trên thế giới
Ở Thái Lan, để mở rộng vùng đệm, phục vụ công tác bảo ĐDSH, Kitching (1996) [82] đã sử dụng một số loài động vật trong đó có CC. Theo ông cần có phương pháp rõ ràng, hiệu quả và phù hợp khi xác định thứ tự ưu tiên trong bảo tồn ĐDSH. Vườn quốc gia, các khu rừng tự nhiên, khu vực cấm khai thác là nơi bảo tồn ĐDSH có hiệu quả, ngoài ra cần thiết phải nghiên cứu xác định đặc điểm SH, STH của loài bảo tồn.
Jennifer et al. (2000) [77] đã phát biểu, những hiểu biết về sự phân bố côn trùng theo không gian và thời gian là thông tin quan trọng giúp chúng ta xác định các hoạt động trong bảo tồn côn trùng và mục tiêu trong bảo tồn là phải xác định được dẫn liệu về kiểu đa dạng, cấu trúc quần xã côn trùng trong mối quan hệ với nguồn gốc các tác động đến môi trường sống.
Với những kết quả nghiên cứu thu được, Martin et al. (2000) [92] đưa ra một số ý kiến cần lưu ý trong bảo tồn. Theo tác giả những vấn đề quan trọng để duy trì đa dạng CC là:
- Duy trì sự đa dạng về tầng đất như thảm mục, thảm tươi, chế độ thủy văn và sự kế tiếp về tuổi rừng, để bảo tồn ĐDSH, một kiểu mang tính đại diện của SC cần được bảo tồn;
- Liên tục tạo ra khu vực với nhiều dạng SC khác nhau, đây là những yếu tố then chốt quyết định sự đa dạng.
- Đất trống và thực vật tiên phong cũng là môi trường sống quan trọng của những loài CC nguy cấp, liên tục được thay thế bằng kiểu SC khác. Những khu vực này cần đưa vào khu vực bảo tồn.
Connor et al. (2002) [55] cho rằng, môi trường sống bị chia cắt, thu hẹp và mất đi do quá trình đô thị hóa ảnh hưởng xấu đến đời sống côn trùng. Giải pháp trong công tác bảo tồn côn trùng, đặc biệt những loài có nguy cơ tuyệt chủng là bảo vệ, phát triển thực vật, khôi phục môi trường sống của chúng.
Andresen (2003) [41] cũng chỉ ra rằng, ở mảnh rừng có diện tích 1ha thì số loài và số cá thể côn trùng họ Bọ hung giảm 50% so với nơi có diện tích rừng 10ha.
Đồng quan điểm này, Lewis and Basset (2007) [88] cho rằng, môi trường sống bị
tác động càng mạnh thì tính đa dạng côn trùng càng giảm, đặc biệt nạn khai thác rừng, phát nương làm rẫy hay sự phân mảnh từ HST rừng có diện tích lớn thành lâm phần nhỏ do việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông.
Mittal (2005) [96] đã nêu một loạt các yếu tố tiêu cực cho bảo tồn như môi trường sống bị thu hẹp do đô thị hóa và thay đổi chất lượng thức ăn do ô nhiễm, sự gia tăng thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi gia súc, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông lâm nghiệp, sự gia tăng nhiệt độ là nguyên nhân chính làm suy giảm đa dạng CC.
Maleque et al. (2006) [90] nghiên cứu về bảo tồn côn trùng trên các lâm phần, áp dụng các biện pháp lâm sinh khác nhau cho thấy, ở lâm phần có tỉa thưa theo tuyến thì lượng sinh khối có thể làm thức ăn cho côn trùng lớn hơn 130% so với lâm phần không có tác động, từ đó làm gia tăng sinh khối và tính đa dạng của nhóm côn trùng có ích. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đa dạng của nhóm côn trùng thể hiện đa dạng toàn bộ HST cũng như sinh vật rừng. Do đó tỉa thưa theo tuyến là biện pháp lâm sinh hiệu quả cả về kinh tế và sinh thái.
Khi xác định các mối đe dọa đối với CC, New (2010) [98] đã đề cập đến vai trò của môi trường sống, đặc trưng về kiểu môi trường và tài nguyên của cảnh quan địa lý, yếu tố địa hình, vật liệu rơi rụng và tác động qua lại giữa CC bản địa với sinh vật ngoại lai. Trong công tác bảo tồn, tác giả coi trọng hình thức bảo tồn ngoại vi, điều tra xác định loài mới, tăng cường công tác quản lý, phòng trừ loài có hại, cứu hộ và nhân nuôi loài có ích, vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đối với tính đa dạng côn trùng. Những thách thức trong bảo tồn được xác định là nạn cháy rừng, sự thay đổi thành phần loài, biến động mật độ quần thể côn trùng và khôi phục lại môi trường sống của côn trùng.
Ở khu vực Bukit Timah, Singapore ước tính có đến 10.000 loài CC ở HST rừng. Mặc dù được bảo vệ nhưng vẫn tiềm ẩn mối đe dọa đến côn trùng do sự phân mảnh, chia cắt, ô nhiễm môi trường do lửa rừng, ánh sáng trực tiếp. Đặc biệt nhóm CC hoại sinh có vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất và năng lượng.
Nhóm này rất dễ mẫn cảm với hóa chất, nên có nguy cơ suy giảm về số lượng và thành phần loài. Biện pháp để bảo tồn là duy trì rừng tự nhiên hỗn giao, duy trì lớp
thảm mục rừng, trồng bổ sung các loài hoa, cây cỏ, cây bụi. Đồng thời quản lý và duy trì nguyên vật liệu dư thừa từ cây gỗ lớn như cành nhánh theo hướng tự nhiên hay bán tự nhiên, từ đó tạo được môi trường hoạt động: di chuyển, tìm kiếm thức ăn, cư trú, giao phối… của CC (Cheong. 2011) [53].
Trong công tác bảo tồn côn trùng, ở nơi mà chưa xác định được một tỷ lệ lớn tên loài cũng như ổ sinh thái của chúng thì cần xác định trọng tâm chính là bảo vệ khu vực hầu như không bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người. Đó là nơi cư trú an toàn của các loài côn trùng thụ phấn cho thực vật, những loài có vai trò điều tiết, kiểm soát sinh học giữa thực vật và dịch hại. Những loài côn trùng này cũng là tác nhân thúc đẩy tái tuần hoàn vật chất, chuyển hóa động thực vật đã chết thành nguồn thức ăn hay môi trường sống phù hợp cho các loài sinh vật khác. “Nguyên tắc về biện pháp phòng ngừa” liên quan đến chính sách bảo tồn côn trùng là để bảo vệ hoặc giảm thiểu càng nhiều càng tốt bất kỳ tổn thất ĐDSH nào. Hawksworth (2011) [72] đã phát biểu, thực tế chúng ta biết rất ít về hậu quả của sự mất mát bất kỳ loài nào, do đó tiếp cận theo biện pháp phòng ngừa là phương pháp phù hợp trong công tác bảo tồn ĐDSH côn trùng.
Những khu rừng được bảo vệ là nơi bảo tồn những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, kể cả những loài có kích thước lớn như Heliocopris gigas, Catharsius molossus, C. sagax, C. pithecius, Copris repertus, C. surdus, Paragymnopleurus sinuatus và Onthophagus bengalensis. Từ lâu những loài này đã không xuất hiện ở vùng đồng bằng, nhưng vẫn xuất hiện ở các khu bảo tồn. Các loài thuộc họ Bọ hung có vai trò gia tăng dinh dưỡng đất, tạo cho đất tơi xốp, thoáng khí, hạn chế hoạt động của sinh vật gây hại, phán tán hạt giống thứ cấp, do đó cần bảo tồn SC của chúng và bảo tồn đủ số lượng các loài thú lớn (Jain and Mittal 2012) [76].
Bouchard et al. (2017) [47] thống kê các loài CC có trong Danh lục đỏ IUCN (2015) [74] được thể hiện qua bảng 1.3, trong đó họ Carabidae và Dytiscidae thuộc phân bộ Adephaga; các họ còn lại thuộc phân bộ Polyphaga. Kết quả cho thấy có 791 loài CC xuất hiện trong Danh sách đỏ IUCN (2015) [74] trong đó 12 loài bị tuyệt chủng, 17 loài cực kỳ nguy cấp, 47 loài nguy cấp (có nguy cơ tuyệt chủng) và 45 loài sắp nguy cấp hay dễ bị tổn thương.
Bảng 1. 3. Số loài cánh cứng trong danh lục đỏ IUCN (2015)
Họ EX CR EN VU NT LR LC DD Tổng
Carabidae 1 2 2 2 0 1 0 0 8
Dytiscidae 6 2 8 6 0 0 0 0 22
Leiodidae 0 0 0 1 1 0 0 0 2
Silphidae 0 1 0 0 0 0 0 0 1
Lucanidae 0 4 6 4 1 1 4 0 20
Scarabaeidae 0 2 15 15 20 0 302 232 586
Buprestidae 0 0 1 0 0 0 0 0 1
Elmidae 0 0 0 1 0 0 0 0 1
Eucnemidae 0 0 0 1 3 0 7 4 15
Elateridae 0 0 3 2 7 0 6 38 56
Bostrichidae 0 0 0 0 1 0 2 0 3
Ptinidae 0 0 0 0 1 0 0 0 1
Trogossitidae 0 0 1 1 0 0 1 3 6
Erotylidae 0 0 0 1 0 0 2 6 9
Cucujidae 0 0 0 0 1 0 0 1 2
Mycetophagidae 0 0 0 0 1 0 0 1 2
Tenebrionidae 0 0 0 3 0 0 0 0 3
Anthicidae 0 0 1 0 0 0 0 0 1
Cerambycidae 0 1 9 8 3 0 8 8 37
Anthribidae 0 4 0 0 1 0 0 0 5
Curculionidae 5 1 1 0 0 0 3 0 10
Tổng cộng 12 17 47 45 40 2 335 293 791
Nguồn: Bouchard et al. 2017.
Ghi chú: EX- Bị tuyệt chủng; CR- Cực kỳ nguy cấp; EN- Nguy cấp; VU- Sắp nguy cấp; NT, Gần bị đe dọa; LR- Đe dọa thấp; LC- Ít quan tâm; DD- Thiếu dữ liệu.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các hoạt động của con người như phá hủy môi trường sống, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hay sự xâm nhập của loài ngoại lai đã đe dọa nhiều HST tự nhiên trong đó có nhiều loài CC.
Tóm lại, những nghiên cứu về bảo tồn CC như đề cập ở trên đã tập trung vào việc xác định hiện trạng CC, mối quan hệ giữa các nhân tố của môi trường sống với tính đa dạng CC, các dạng SC và xu hướng điều khiển môi trường sống phù hợp cho chúng, đây là cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển những loài CC có vai trò trong HST rừng.