CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2. Nghiên cứu về tính đa dạng, đặc điểm sinh học, sinh thái học của cánh cứng
Hoàng Đức Nhuận (2007) [29] đã ghi nhận và bổ sung những loài thuộc họ Bọ rùa (Cocinellidae) ở Việt Nam và đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản, tính đa dạng
côn trùng họ Bọ rùa. Nguyễn Thị Việt và Trần Ngọc Lân (2011) [38] đã cung cấp những dẫn liệu về tính đa hình của Bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus (Fabricius). Cụ thể đã xác định được 30 kiểu hình của Bọ rùa sáu vằn so với Hoàng Đức Nhuận (2007) chỉ bắt gặp 12 kiểu biến dạng hình thái màu sắc và vân cánh của Bọ rùa sáu vằn ở Việt Nam.
Đánh giá về vai trò chỉ thị của côn trùng đối với HST rừng, điển hình là nghiên cứu của Vũ Văn Liên (2007) [19]. Tác giả đã sử dụng giá trị IndiVal để đánh giá vai trò chỉ thị hay phát hiện của các bậc taxon tại Vườn quốc gia Tam Đảo. Ở đây tác giả cũng đã xác định những loài có giá trị IndiVal trên 70% là loài chỉ thị cho SC đó, những loài có giá trị IndiVal từ 50% đến 70% là loài phát hiện.
Lê Thị Diên và cs. (2012) [15] xác định ở VQG Bạch Mã có 178 loài thuộc 128 giống, 17 họ, trong đó họ Hổ trùng có số giống và loài phong phú nhất với 65 loài, 33 giống, đồng thời đã bổ sung thêm 4 họ, 60 giống và 110 loài vào danh lục CC ở VQG Bạch Mã. Công trình này cũng cho biết, ở rừng phục hồi có chỉ số đa dạng cao nhất (d=23,36); SC có chỉ số đa dạng thấp nhất là rừng rậm với d=2,09;
rừng phục hồi và cây bụi có chỉ số tương đồng cao nhất là 0,16, các cặp SC còn lại có chỉ số tương đồng về thành phần loài rất thấp hoặc bằng 0.
Nghiên cứu của Lê Trọng Sơn và cs. (2014) [32] và Phu V.V. (2017) [101], đã xác định được 521 loài côn trùng thuộc 357 giống, 69 họ, 9 bộ ở HST rừng Cao Muôn và Cà Đam, tỉnh Quảng Ngãi. Trong kết quả công bố, bộ CC có 13 họ, nhưng chỉ có 6 họ có số loài ưu thế gồm: họ Xén tóc, họ CC ăn lá, Bọ rùa, họ Vòi voi, họ Sừng hươu và họ Bọ hung. Kiểu SC cây bụi có số loài cao nhất 59 loài, rừng phục hồi 38 loài, rừng ven suối 22 loài và ở rừng rậm tìm thấy 18 loài.
Trên cơ sở so sánh với taxon có quan hệ gần nhất thuộc giống Neolucanus, năm 2013, Thai N.Q [107] đã mô tả và xác định được loài mới là Neolucanus baongocae. Theo tác giả đã có 15 loài mới thuộc giống Neolucanus được mô tả từ năm 2004, trong đó Nguyễn Quang Thái và Schenk (2013) đã mô tả loài Neolucanus punctulatus. Ngoài ra Fujita (2010) [67] cũng đã mô tả 4 loài thuộc giống Neolucanus gồm: Neolucanus suzumurai, N. pseudovicinus, N. hagiangensis và N. iijimai.
Cuong Do and Drumont (2014) [59] và Cuong Do (2015) [58], đã xác định 14 loài thuộc giống Aegosoma, trong đó có 2 loài được phát hiện ở Việt Nam là Aegosoma katsurai ở tỉnh Cao Bằng, Lào Cai và A. sinicum ở Lâm Đồng. 1 loài mới thuộc giống Aegosoma phát hiện ở tỉnh Lâm Đồng đã được các tác giả mô tả khá chi tiết. Năm 2017, Cuong Do and Alain Drumont [60] đã mô tả và đặt tên loài mới Aegolipton tavakiliani, giống Aegolipton ở Bắc Trung Bộ, loài này có đặc điểm giống với loài Aegolipton kumei do Komiya mô tả năm 2006 nên loài A. tavakiliani đã được xác định thông qua so sánh với loài A. kumei và cho đến nay loài A. kumei (Komiya, 2006) có quan hệ gần nhất với loài A. tavakiliani.
Nhìn chung, những nghiên cứu trên cho thấy thành phần loài CC khá đa dạng.
Trên cơ sở đó kết hợp với đặc điểm tài nguyên rừng ở Khu BTTN Pù Luông cũng như vai trò của các nhóm CC, các họ thường gặp có ý nghĩa cần điều tra nghiên cứu gồm:
họ Bọ hung (Scarabaeidae), họ Bọ chân chạy (Carabidae), họ Xén tóc (Cerambycidae), họ Vòi voi (Curculionidae), họ Kẹp kìm (Lucanidae), họ Giả kẹp kìm (Passalidae).
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu cho từng loài, từng họ nhưng điều tra nghiên cứu thành phần loài các họ chính ở rừng đặc dụng vẫn còn nhiều hạn chế, do đó chưa xác định đầy đủ thành phần loài, đặc điểm phân bố và tính ĐDSH các họ chính.
Nghiên cứu về đặc điểm SH, STH ở Việt Nam cũng khá đa dạng, đặc biệt nghiên cứu về CC ở HST nông nghiệp, tiêu biểu như nghiên cứu về họ Bọ rùa (Coccinellidae) của Hoàng Đức Nhuận (2007) [29]. Nghiên cứu về tập tính ghép cặp, giao phối ở loài Bọ rùa sáu vằn đen (Menochilus sexmaculatus Fabricius) trong điều kiện phòng thí nghiệm, Nguyễn Quang Cường và Trương Xuân Lam (2014) [12] chỉ ra rằng thời gian trước giao phối của trưởng thành đực TB khoảng 2,8 ngày, đối với trường thành cái TB khoảng 3,5 ngày. Thời gian giao phối trong ngày TB 97,2 phút/lần, số lần giao phối trong ngày TB là 2,5 lần, thời điểm hoạt động giao phối diễn ra mạnh nhất là 11h và 16h30, kết quả nghiên cứu còn đề cập đến đặc điểm hoạt động giao phối, ảnh hưởng của số lần giao phối đến khả năng sinh sản, tỉ lệ nở của trứng và tuổi thọ của bọ rùa sáu vằn.
Lê Anh Sơn 2016 [33] đã nghiên cứu về thành phần loài Bọ chân chạy họ Carabidae (Coleoptera), nhưng nghiên cứu này được thực hiện ở vùng đồng bằng
tỉnh Nghệ An. Tác giả cũng đã nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm SH, STH của loài Chlaenius inops Chaudoir và loài Ophionea indica Thunberg.
Nghiên cứu về đặc điểm SH, STH của CC ở HST rừng hay ở các Khu BTTN điển hình là nghiên cứu của Nguyễn Đình Lưu và Lê Bảo Thanh (2015) [21] về một số đặc điểm hình thái, tập tính của Xén tóc vân hình sao (Anoplophora chinensis Forster) trên cây Phi lao tại Hà Tĩnh. Ngoài ra các tác giả như Nguyễn Thế Nhã, Lê Bảo Thanh (Trường Đại học Lâm nghiệp), Phạm Quang Thu (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã có nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm SH, STH của CC ở các HST rừng.
Sách đỏ Việt Nam (2007) [4] chỉ mô tả một cách sơ bộ một số đặc điểm SH, STH của 10 loài CC có giá trị bảo tồn (bảng 1.4), qua đó cho thấy những dẫn liệu cụ thể về đặc điểm SH, STH của CC còn hạn chế.
Bảng 1. 4. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của cánh cứng trong Sách đỏ Việt Nam (2007)
Tên loài Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học Bọ hung chữ Y
(Trypoxylus dichotomus politus)
Sống trong môi trường rừng ẩm nhiệt đới ở độ cao trung bình đến rất cao.
Bọ hung năm sừng
(Eupatorus gracilicornis)
Chỉ gặp ở những nơi có khí hậu ôn đới núi cao và chỉ gặp các cá thể trưởng thành.
Bọ hung ba sừng (Chalcosoma atlas)
Loài thích sống ở rừng ẩm nhiệt đới gần xích đạo thuộc Đông Nam châu Á.
Kẹp kìmsừng cong (Dorcus curvidens curvidens)
Thường sống trên những vùng rừng núi cao, khí hậu mát mẻ
Kẹp kìm sừng lưỡi hái (D. antaeus);
Kẹp kìm sừng đao (D. titanus westermanni); Kẹp kìm nẹp vàng (Odontolabis cuvera fallaciosa)
Thường sống trên những vùng rừng núi cao, khí hậu ôn hòa
Cua bay hoa (Cheirotonus battareli)
Chưa rõ. Theo tài liệu, chúng xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 8 ở vùng rừng núi có khí hậu ôn hòa
Cua bay đen (Cheirotonus jansoni)
Chưa rõ. Thường gặp ở các vùng núi đá cao như Tam Đảo, Hà Giang
Cánh cam xanh bốn chấm (Jumnos ruckeri tonkinensis)
Chưa rõ. Theo tài liệu và mẫu vật sưu tầm chỉ thấy ở vùng núi đá vào tháng 8 và tháng 9
Nguồn: Sách đỏ Việt Nam, 2007
Nhìn chung cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về đặc điểm đặc điểm SH, STH các loài CC gây hại, tuy nhiên những nghiên cứu về các loài CC có ích, loài có giá trị bảo tồn và phát triển ở các khu rừng đặc dụng vẫn còn hạn chế. Vì vậy để góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển CC, nghiên cứu sinh đã tiến hành nuôi phân loài Serrognathue platymelus sika Krieshe, 1920 và loài Aceraius grandis Burmeister, 1847.