Tình hình sử dụng phân hữu cơ cho lúa

Một phần của tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ vi sinh tt 159 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa hương thanh 8 tại huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa (Trang 25 - 28)

Độ phì nhiêu của đất Việt Nam có biểu hiện rõ ràng nhất là hiện tượng giảm sút hàm lượng hữu cơ trong đất cùng với sự mất mát nhanh chóng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng ở dạng vô cơ. Có hai nhóm yếu tố cùng tác động: yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Những năm cuối thập kỷ 50 rất nhiều loại đất có hàm lượng hữu cơ vượt quá 2-3% là phổ biến thì nay đã hiếm thấy, trừ những đất dưới tán rừng. Ngay cả những loại đất thuần thục, vốn là “cái nôi của văn minh lúa nước” cũng chỉ còn trên dưới 1% [5].

1.3.2. Tình hình sử dụng phân hữu cơ cho lúa ở Việt Nam

Vào những năm của thập kỷ 60 thế kỷ XX, do nguồn phân khoáng có hạn nên sử dụng phân chuồng bình quân hơn 6 tấn/ha/vụ. Trong giai đoạn 15 năm (1980 - 1995) việc sản xuất và sử dụng phân hữ cơ có giảm sút, nhưng từ năm 1995 trở lại đây do yêu cầu thâm canh, các chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng phân hữu cơ được phục hồi. Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa ở một số vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ cho thấy trung bình mỗi vụ cây trồng bón khoảng 8-9 tấn/ha/vụ. Ước tính toàn quốc sản xuất, sử dụng khoảng 65 triệu tấn phân hữu cơ/năm [19].

Hiện nay trên thị trường có khoảng hơn 9000 loại phân bón có trong danh mục, trong đó có 2408 loại phân hữu cơ chế biến, gồm: phân hữu cơ khoáng 997 loại, phân hữu cơ + hữu cơ sinh học 737 loại, phân hữu cơ sinh vật 139 loại, phân hữu cơ vi sinh hơn 535 loại. Hiện có một số loại phân bón hữu cơ được chế biến truyền thống như phân chuồng, phân gia cầm, phân bò…. Ngoài những ưu điểm thì phân hữu cơ truyền thống cũng có một số

nhược điểm như: Hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận chuyển và nếu không chế biến có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng, nhất là khi phân bón hữu cơ được chế biến từ nguyên liệu là chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E.coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm hoặc ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kinh loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại quá mức quy định [18].

1.3.3. Tình hình sử dụng phân hữu cơ tại tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất nông nghiệp lớn với hơn 900.000ha, chiếm 81,85% tổng diện tích tự nhiên, sử dụng 900.000 đến 950.000 tấn phân bón các loại. Ngoài các loại phân bón nhập khẩu, trên địa bàn tỉnh có các cơ sở sản xuất phân bón tổng hợp, phân vi sinh vật, phân hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng, phân bón có bổ sung chất điều hóa sinh trưởng, đáp ứng khoảng 60% nhu cầu sử dụng phân bón cho chăm sóc, thâm canh các loại cây trồng.

Bên cạnh những cơ sở sản xuất phân bón có thương hiệu còn có các cơ sở sản xuất, gia công chế biến, đóng gói sản phẩm tại gia.

Tuy nhiên, tính đến nay, tỷ lệ phân bón hữu cơ được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp mới chiếm 24%, tương đương với khoảng 120.000 tấn/năm.

Để khuyến khích sử dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp, ngày 13-1-2020, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 538/UBND-NN về việc phát triển và sử dụng phân bón hữu cơ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Toàn tỉnh hiện có 890 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Những năm gần đây, với các cơ chế chính sách khuyến khích, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao theo hướng tập trung, chuỗi sản xuất khép kín. sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu vẫn hướng tới tăng năng suất, sản lượng, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, việc sử dụng quá mức hàm lượng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đất đai đồng

ruộng thoái hóa, suy giảm đa dạng sinh học, bùng phát sâu bệnh do sự phá hủy hệ sinh thái, dư thừa hóa chất trong nông sản ảnh hưởng đối với sức khỏe con người. Hiện Thanh Hóa chưa có các nghiên cứu, điều tra, đánh giá để xác định được các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ cho các sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh. Một số mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, song quy mô còn nhỏ. Tập quán sản xuất của nông dân chủ yếu là sử dụng hóa chất, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, vẫn theo kinh nghiệm sản xuất là chính.

Thanh Hóa sẽ quyết liệt trong việc thực thi các quy định tại Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong sản xuất, chế biến, chứng nhận, giám sát quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh sản phẩm hữu cơ, đầu tư sản xuất phân bón hữu cơ, phân sinh học, vi sinh, chế phẩm bảo vệ thực vật sinh học. Để nông nghiệp hữu cơ tồn tại và phát triển, yếu tố sống còn là phải tăng cường các hoạt động xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm hữu cơ, chú trọng thị trường xuất khẩu và hướng đến thị trường trong nước. tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất, sử dụng các giống có năng suất và chất lượng cao, kháng sâu bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

CHƯƠNG 2

Một phần của tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ vi sinh tt 159 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa hương thanh 8 tại huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa (Trang 25 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(63 trang)