CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết, tình hình sản xuất lúa và việc sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh
3.1.1. Vị trí địa lý
Thiệu Hóa là huyện có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm các huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa và có ranh giới giáp với nhiều huyện;
Phía Đông: giáp Thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa; Phía Tây: giáp huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân; Phía Nam: Giáp huyện Đông Sơn và Triệu Sơn; Phía Bắc: giáp huyện Yên Định; Trung tâm huyện là Thị trấn Thiệu Hóa.
3.1.2. Địa hình
Thiệu Hóa có địa hình tương đối bằng phẳng, không quá phức tạp, đại đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi. Tổng thể địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Địa hình thuộc dạng đồng bằng do chênh lệch cao của các vùng canh tác không lớn khoảng 0,4-0,5m, thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung có diện tích tương đối lớn. Hệ thống kênh tưới Bắc Sông Chu - Nam Sông Mã (WB7) hoạt động hiệu quả, lượng nước tự chảy và hệ thống nước từ các trạm bơm tưới hầu hết đến tất cả các xứ đồng trên huyện, đảm bảo lượng nước tưới cho sản xuất lúa.
3.1.3. Khí hậu
- Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8.500-8.6000C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối chưa dưới 20C. Nhiệt độ cao tuyệt đối chưa quá 41,50C. có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) và có 5 tháng nhiệt độ trung bình trên 250C (từ tháng 5 đến tháng 9).
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.500-1.900mm, riêng vụ mùa chiếm khoảng 86-88%, mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5-10). Những
tháng mùa đông nhiệt độ thường khô hanh, độ ẩm chỉ dưới 84%, còn các tháng 3, 4, tháng 8 và tháng 9 có độ ẩm trên 88%.
- Gió: Chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính phân bố theo mùa. Gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa đông nam về mùa hè có tốc độ trung bình 1,5-18m/s. Tốc độ mạnh nhất trong bão đo được là 35-40m/s và trong gió mùa đông bắc không quá 25m/s. Khí hậu thời tiết của huyện trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng Thanh Hóa có các đặc điểm: Nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, sương muối ít xảy ra vào tháng 1, tháng 2, mùa hè nóng vừa phải, mưa vừa phải, gió bão chịu ảnh hưởng tương đối mạnh.
3.1.4. Tài nguyên đất
Tổng quỹ đất toàn huyện quản lý sử dụng là 17.547,52 ha, trong đó đã sử dụng 14.842,83 ha bằng 84,6% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Diện tích đất chưa sử dụng là 2.704,69 ha, bằng 15,4% tổng diện tích đất tự nhiên.
Diện tích sông suối chiếm 1.702.87 ha bằng 10% diện tích đất tự nhiên
- Đất nông nghiệp: 11.045,06 ha chiếm 62,94% tổng diện tích đất tự nhiên.
- Đất lâm nghiệp: 130,70 ha chiếm 0,75% diện tích đất tự nhiên.
- Đất chuyên dùng 2.644,28 ha chiếm 15,4 % diện tích đất tự nhiên.
- Đất ở: 968,73 ha chiếm 5,6% diện tích đất tự nhiên.
- Đất chưa sử dụng: 2.704,69 ha chiếm 15,4% diện tích đất tự nhiên.
- Diện tích đất tự nhiên của huyện được phân ra gồm các loại đất sau:
+ Nhóm đất sám: 52,84 ha
+ Nhóm đất phù sa biến đổi 14.068 ha.
+ Nhóm đất tầng máng 119 ha.
Tóm lại đất đai của huyện Thiệu Hóa chủ yếu là nhóm đất phù sa có đặc tính lý hóa tốt, phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là diện tích trồng cây lúa nước là chủ yếu.
3.1.5. Tài nguyên nước
- Nước mặt khá dồi dào được cung cấp bởi hệ thống sông ngòi và lượng nước mưa tại chỗ. Loại nước này chủ yếu dùng cho việc tưới cho cây trồng nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày, Chất lượng nước mặt của huyện Thiệu Hóa là tốt, chưa bị ô nhiễm.
- Nước ngầm: Nguồn nước ngầm khá phong phú. Theo tài liệu dự báo và phục vụ khí tượng thủy văn, đất Thiệu Hóa thuộc trầm tích hệ thứ 4 có bề dầy trung bình 60m, có nơi 100m, có 3 lớp nước có áp chưa trong cuộn sỏi của trầm tích Plextoxen rất phong phú. Lưu lượng hố khoan tới 22-23 l/s, có độ khoáng hóa 1-2,2 g/l. Hiện nay nhân dân đang sinh hoạt chủ yếu qua hệ thống giếng khơi, giếng khoan. Chất lượng nước nhìn chung không đồng đều về hàm lượng cacbonnát cao nhưng độ trong đáp ứng được yêu cầu vệ sinh.
3.1.6. Tình hình sản xuất lúa và việc sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Thiệu Hóa
* Tình hình sản xuất lúa:
Vụ Chiêm xuân năm 2021, diễn biến thời tiết, khí tượng, thủy văn từ đầu năm đến nay tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển.
Các đợt không khí lạnh xuất hiện ít, yếu và không liên tục, nhiệt độ không khí trung bình đến giữa tháng 4/2021 phổ biến từ 19-200C (thấp hơn trung bình nhiều năm từ 1,5-20C); riêng từ đầu tháng 3 đến giữa tháng 4 nhiệt độ trung bình ngày có lúc xuống thấp hơn 200C. Đối với, diện tích gieo trồng lúa toàn huyện được 7.987,8 ha, đạt 97,3% kế hoạch. Trong đó lúa lai 6.194,7 ha chiếm 77,6%, lúa thuần chiếm 22,4% diện tích lúa toàn huyện. Diện tích đất trồng lúa đến năm 2021 giảm 78,2 ha. Nguyên nhân giảm là do có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích đất khó khăn trong sản xuất lúa và một phần diện tích đất bỏ hoang không cấy sang trồng cây có giá trị kinh tế cao như đậu tương, cà chua, ớt xuất khẩu, ngô ngọt, dưa nhà màng, rau sạch…Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, linh hoạt dất trồng lúa hiệu quả sang cây trồng khác và việc xây dựng, nhân rộng nhiều mô hình kiên kết sản xuất với các doanh
nghiệp theo chuỗi giá trị như mô hình doanh nghiệp thuê đất sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, mô hình liên kết sản xuất lúa và tiêu thụ sản phẩm làm nguyên liệu chế biến nông sản thực phẩm công nghệ cao, mô hình liên kết lúa thương phẩm…nên sản lượng lương thực của huyện luôn tăng so với cùng kỳ nhiều năm, tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 48.373 tấn/vụ.
Tuy vậy, việc sản xuất lúa ở huyện Thiệu Hóa đang đứng trước những khó khăn thách thức đó là: Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, đặc biệt là từ đầu tháng 3 đến nay nhiệt độ thay đổi bất thường, mưa nắng xen kẽ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho một số loại sau bệnh phát sinh gây hại, nhất là bệnh đạo ôn, bạc lá, đốm sọc vi khuẩn và quá trình tạo bông lúa trong giai đoạn làm đòng; Việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sản xuất hàng hóa đối với cây lúa vẫn chưa thật sự rõ nét, liên kết sản xuất chưa bền vững, vẫn có trường hợp nông dân dân bán sản phẩm liên kết ra thị trường, giá nông sản không ổn định, công nghệ sau thu hoạch lúa chưa được chú ý đúng mức. Mặt khác, người nông dân và các doanh nghiệp chưa tiếp cận được các chính sách để đầu tư vào sản xuất lúa theo chuỗi giá trị.
* Tình hình ón phân cho lúa ở huyện Thiệu Hóa:
Kết quả điều tra tình hình bón phân cho lúa ở huyện Thiệu Hóa cho thấy:
- Đối với phân chuồng: 60% số hộ nông dân không bón phân chuồng cho lúa, 23,5% số hộ nông dân bón 4-7 tấn/ha, liều lượng thấp hơn so với hướng dẫn phòng Nông nghiệp từ 3-4 tấn/ha và chỉ có 16,5% số hộ nông dân bón 8-10 tấn/ha theo đúng hướng dẫn của phòng Nông nghiệp. Tình hình sử dụng phân chuồng của người nông dân huyện Thiệu Hóa còn thấp, phụ thuộc nhiều vào tình hình chăn nuôi của gia đình nếu gia đình có chăn nuôi gia súc thì sẽ có phân chuồng sử dụng để bón cho lúa.
- Đối với phân đạm: So với hướng dẫn của phòng Nông nghiệp bón N
có 56,7% số hộ bón ở mức 120 - 150 kg N/ha; có 10% số hộ nông dân bón ở mức thấp 30 - 60 kg N/ha và có 10% số hộ bón mức trung bình từ 60 - 90 kg/ha.
- Đối với phân lân: So với hướng dẫn của phòng Nông nghiệp bón P từ 60-90 kg P2O5/ha, chỉ có 36,7% số hộ nông dân bón đúng theo hướng dẫn; có 23,2% số hộ bón P ở mức cao 90 - 120 kg P2O5/ha; có 33,3% số hộ nông dân bón ở mức thấp 30 - 60 kg P2O5/ha và 6,7% số hộ nông dân không bón P cho lúa.
- Đối với phân kali: So với hướng dẫn của phòng Nông nghiệp bón K từ 60-90 kg K2O/ha, chỉ có 36,7% số hộ nông dân bón đúng theo hướng dẫn;
có 50% số hộ bón K ở mức cao 90 - 120 kg K2O/ha; có 13,3% số hộ nông dân bón ở mức thấp 30 - 60 kg K2O/ha.
Như vậy, việc sử dụng phân bón tại huyện Thiệu Hóa là chưa hợp lý, tỷ lệ NPK quá chênh lệch, không cân đối, lượng phân bón sử dụng quá cao dẫn tới tình trạng dư thừa lãng phí mà năng suất, chất lượng lại chưa cao; bên cạnh đó tỷ lệ diện tích đất trồng lúa được bón phân hữu cơ còn thấp.