CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.2. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ vi sinh T&T159 đến các chỉ
3.2.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân HCVS T&T159 đến các giai đoạn
Thời gian sinh trưởng là đặc tính của giống. Thời gian sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, thời vụ gieo cấy, điều kiện ngoại cảnh, trình độ thâm canh của từng địa phương khác nhau.
Thời gian sinh trưởng của cây lúa có ý nghĩa quan trọng trong việc
bố trí cơ cấu thời vụ, là điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề thâm canh tăng vụ, xây dựng chế độ luân canh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Ngoài ra thông qua thời gian của các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thể điều khiển được thời điểm trỗ bông của cây lúa, tránh lúa trỗ vào những thời điểm điều kiện bất thuận nhằm phát huy tối đa tiềm năng, năng suất của giống. Kết quả theo dõi ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh T&T159 đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng được trình bày tại bảng 3.1
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ vi sinh T&T159 đến các hữu cơ vi sinh T&T159 đến các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa
đoạn sinh trưởng của giống lúa Hương Thanh 8 Hương Thanh 8
ĐVT: Ngày
Công thức
Thời gian từ cấy - bén rễ hồi
xanh
Thời gian từ cấy –
bắt đầu đẻ nhánh
Thời gian từ cấy - đẻ nhánh
tối đa
Thời gian từ cấy - trỗ 10%
Thời gian trỗ
TGST
CT1 (ĐC) 7 17 50 82 6 126
CT2 7 16 51 83 5 128
CT3 6 15 52 83 5 129
CT4 6 15 54 85 6 131
CT5 6 15 54 85 7 131
Kết quả bảng 3.1 cho thấy:
*Thời gian từ cấy đến bén rễ hồi xanh: Trong điều kiện vụ xuân năm 2021, thời gian từ cấy đến bén rễ hồi xanh của các công thức thí nghiệm dao động từ 6 -7 ngày. Nhìn chung, thời gian bén rễ hồi xanh nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, vì vậy giữa các công thức khác nhau
chưa có sự sai khác đáng kể về thời gian này.
* Từ cấy đến bắt đầu đẻ nhánh: Sau quá trình bén rễ hồi xanh, cây lúa bước vào thời kỳ đẻ nhánh. Trong điều kiện thí nghiệm thời gian từ cấy tới khi lúa đẻ nhánh kéo dài từ 15 -17 ngày.
* Từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh: Thời gian từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh trong vụ Xuân dao động từ 50-54 ngày sau cấy. Các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đều có thời gian kết thúc đẻ nhánh dài hơn so với công thức đối chứng từ 1 -4 ngày.
*Từ cấy đến bắt đầu trỗ: Đây là thời kỳ cây lúa chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực, chuyển sang thời kỳ làm đốt, làm đòng, cây lúa tiếp tục ra những lá cuối cùng, các nhánh vô hiệu lụi dần, chiều cao tăng chậm, hình thành các nhánh hữu hiệu, các chất dinh dưỡng đều tập trung cho việc phân hoá đòng. Kết quả theo dõi ở bảng 3.1 cho thấy thời gian này của các các công thức dao động từ 82 đến 85 ngày, các công thức 4 và công thức 5 bón từ 1500 -2000 kg phân hữu cơ vi sinh/ha có thời gian từ cấy đến bắt đầu trỗ dài nhất với 85 ngày.
*Thời gian trỗ: Thời gian trỗ bông của giống Hương Thanh 8 dao động từ 3 – 5 ngày, giống trỗ tập trung, hầu hết các công thức thí nghiệm trỗ tập trung trong 3 ngày. Việc trỗ tập trung giúp giống tránh được điều kiện bất thuận của thời tiết ảnh hưởng đến năng suất lúa sau này.
* Tổng thời gian sinh trưởng: Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian được tính từ khi gieo cho đến khi lúa chín. Thời gian sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống và điều kiện môi trường cây lúa sinh trưởng. Thời gian sinh trưởng quá ngắn không đủ để cây đẻ nhánh và tạo nên một diện tích lá tốt, nếu thời gian sinh trưởng quá dài làm cho cây bị che bóng lẫn nhau ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của bộ lá. Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy liều lượng phân hữu cơ vi sinh có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian sinh trưởng của cây lúa. Nhìn chung các công thức có bón phân hữu cơ vi sinh có thời gian sinh
trưởng dài hơn công thức đối chứng từ 2 – 5 ngày, điều này có thể là do phân hữu cơ vi sinh có tác dụng giữ phân bón, phân giải từ từ để cây sử dụng dần, hạn chế hiện tượng mất đạm và bốc đạm nên bộ lá giữ được lâu hơn, làm kéo dài thời gian sinh trưởng so với công thức đối chứng.