VỀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

Một phần của tài liệu 0577 nghiên cứu tình hính sử dụng thuốc và đánh giá hiệu quả điều trị hen phế quản tại bv lao và bệnh phổi tp cần thơ năm 2012 (Trang 59 - 64)

Về giới tính

HPQ ở nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn (54,3%) và tỷ lệ nữ/nam khoảng 1,2/1. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với Y văn thế giới: đối với trẻ em nhỏ hơn 10 tuổi thì bé trai mắc bệnh hen nhiều hơn bé gái và sau tuổi dậy thì tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới lại cao hơn ở nam giới [34]. Và cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây: theo nghiên cứu của tác giả Chistopher KW Lai và cộng sự tại 8 nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương ghi nhận tỷ lệ nữ giới mắc bệnh hen là 51,6%, ở Trung Quốc là 51,5%, Malaysia 53%, Philippin 53,8%, Singapo 54,8%, Hàn Quốc 59,1% và Việt Nam là 57,5% [31]. So với các nghiên cứu khác trong nước gần đây cũng phù hợp như nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tuyết Lan, Lương Thị Thuận trên 1.646 bệnh nhân đến khám quản lý ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM năm 2000 thì tỷ lệ nữ là 54,4% cao hơn nam 45,6% ở người lớn [30]; nghiên cứu của Lê Văn Nhi công bố tại Hội nghị Khoa học Công nghệ Kỹ thuật Đại học Y Phạm Ngọc Thạch năm 2010 tỷ lệ bệnh nhân nữ HPQ là 63,71% [24].

Kết quả trên có thể được giải thích do khi còn nhỏ ở bé trai đường thở thường nhỏ hơn trong tương quan kích thước phổi, kháng lực đường hô hấp lớn hơn và trương lực đường thở lúc nghỉ cao hơn so với bé gái nên ở trẻ nhỏ tỷ lệ mắc bệnh HPQ ở nam lớn hơn nữ. Tuy nhiên những bất lợi về giới tính sẽ biến mất sau dậy thì cộng thêm nữ giới bên cạnh việc tiếp xúc với môi trường làm việc bên ngoài còn thêm môi trường trong gia đình trong quá trình

dọn dẹp, làm bếp … dẫn tới việc tiếp xúc với nhiều dị nguyên hơn cũng như tính nhạy cảm và sinh lý ở người nữ dẫn đến tỷ lệ nữ giới HPQ mắc bệnh ở người trưởng thành cao hơn nam giới.

Về nhóm tuổi

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 cho thấy: nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là 50 – 59 tuổi chiếm 20,1%, thấp nhất là nhóm 20 – 29 tuổi chiếm 13,6%, bệnh nhân cao tuổi nhất là 88 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi và độ tuổi trung bình mắc bệnh là 42 tuổi. Kết quả này khá phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây. Nghiên cứu được công bố năm 2010 của Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn và CS về “Dịch tễ học và tình hình kiểm soát HPQ ở người trưởng thành Việt Nam” cũng cho thấy nhóm tuổi mắc bệnh hen thấp nhất là từ 21 – 30 tuổi (1,5%) [26]. Theo nghiên cứu của tác giả Dương Minh Tùng (2012), nhóm tuổi mắc bệnh hen nhiều nhất là 40 – 49 tuổi và thấp nhất là 20 – 29 tuổi [34]; nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn tại Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội trong 5 năm từ 1998 – 2002 trên 1026 bệnh nhân tuổi trung bình mắc bệnh là 41,8 ± 14,1 tuổi [31]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thành tại Bệnh viên Đa khoa Trung Ương Cần Thơ trên 145 bệnh nhân , kết quả tuổi trung bình của bệnh hen là 47,5 ± 18, tuổi thấp nhất là 13 và cao nhất là 90 [16]. Theo nghiên cứu của tác giả Chistopher KW Lai 2003, tuổi trung bình mắc bệnh là 38 tuổi và thay đổi theo từng quốc gia, cao nhất là Trung Quốc 45 tuổi và thấp nhất là Malaysia 32 tuổi, cũng theo nghiên cứu này bệnh nhân hen ở Việt Nam có tuổi trung bình 36,7 ± 19,1[37].

Có 16,3% số bệnh nhân HPQ nhập viện còn trong độ tuổi đến trường (12 – 19 tuổi) cho thấy một tỷ lệ không nhỏ số bệnh nhân bị mắc bệnh hen từ khi còn rất nhỏ, và họ sẽ phải chung sống với bệnh hen suốt quãng đường còn lại. Vì vậy, cần có những biện pháp giáo dục, tuyên truyền để người bệnh có

thể hiểu biết đầy đủ về bệnh hen, đặc biệt là phương pháp dự phòng nhằm giảm thiểu các cơn cấp và giảm chi phí điều trị khi phải nhập viện.

4.1.2. Về đặc điểm nơi sinh sống và nghề nghiệp Về đặc điểm nơi sinh sống

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài về đặc điểm nơi sinh sống của bệnh nhân HPQ cho thấy số bệnh nhân mắc bệnh ở thành thị chiếm tỷ lệ cao hơn ở nông thôn (64,3% và 35,7%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước của Lê Văn Tri (1986): tỷ lệ hen gặp ở thành phố là 5,1%, nông thôn đồng bằng là 3,3% và nông thôn miền núi là 1,7% [16]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải và Phạm Thị Minh Hồng năm 2007 cũng cho thấy tỷ lệ HPQ ở nội thành cao hơn ngoại thành 1,2 lần [15]. Điều này rất phù hợp với thực tế ở môi trường thành thị theo đà tăng trưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Cộng thêm với nền kinh tế phát triển mật độ dân cư tập trung tại các vùng thành thị ngày càng đông, số lượng xe lưu thông ngày càng nhiều, các loại hóa chất, khí thải… làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm. Dị nguyên càng nhiều dẫn tới tình trạng HPQ ở thành thị ngày càng cao.

Về đặc điểm nghề nghiệp

Các đối tượng bệnh nhân trong nghiên cứu có nhiều thành phần tuy nhiên số bệnh nhân là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất 45,7%, đây là nhóm lao động có thu nhập thấp và không ổn định nhất ở nước ta, vì vậy HPQ là một gánh nặng rất lớn đối với bản thân và gia đình, đồng thời đây cũng là nhóm có trình độ học vấn tương đối thấp cho nên việc giáo dục và tuyên truyền để bệnh nhân hiểu biết về bệnh của mình không phải là điều dễ dàng, việc điều trị dự phòng lại càng khó khăn hơn. Đối tượng kế tiếp theo là nông dân với 17,4%, đây cũng là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao do yếu tố nguy cơ

liên quan đến nghề nghiệp tiếp xúc với thuốc trừ sâu, không hiểu biết nhiều về bệnh hen, do đó việc điều trị dự phòng còn hạn chế . Học sinh - sinh viên 11,2% và thấp nhất là công chức – viên chức 7,0%. Điều này có thể được giải thích do nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TP Cần Thơ – nơi chủ yếu tiếp nhận số lượng bệnh nhân của vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà một trong những nghề chính ở vựa lúa lớn nhất nước là nghề nông. Bên cạnh đó đặc trưng nghề nghiệp của người nông dân là phải tiếp xúc nhiều với dị nguyên như: rơm rạ, cỏ khô, khói bụi, các loại phấn hoa, động vật, hóa chất cũng như thời gian làm việc ngoài đồng lâu … nên những người làm công nhân cũng như nghề nông dễ mắc bệnh hen hơn các nghề nghiệp khác. Tuy nhiên, sự phân bố nghề nghiệp của mỗi nghiên cứu có thể khác nhau tùy theo đặc trưng nghề nghiệp ở từng vùng miền nơi nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Lê Thị Tuyết Lan, Lương Thị Thuận (2004) tại TP Hồ Chí Minh: nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu chủ yếu là lao động trí óc chiếm 28,1% [15]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đức nghiên cứu tại Tiền Giang năm 2008 tỷ lệ hen ở cán bộ công chức là chiếm tỷ lệ cao nhất 30,8%, nông dân là 16,4% và học sinh sinh viên là 4,4% [1].

4.1.3. Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh hen

Về tiền sử thời gian mắc bệnh HPQ

Trong 258 hồ sơ bệnh án nghiên cứu tiền sử thời gian mắc bệnh HPQ nhiều nhất là từ 1 – 10 năm chiếm 69,8%. Kết quả này cũng khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây và tính chất dai dẵng kéo dài của bệnh HPQ. Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Hồng năm 2005 tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên, thời gian mắc bệnh hen dưới 1 năm 11,6%, 1 – 5 năm 46,6%, 6 – 10 năm 26,7% và hơn 10 năm là 15% [26]. Nghiên cứu của Dương Minh Tùng ở Trung tâm phòng chống các bệnh xã hội tỉnh Cà Mau năm 2012 ghi nhận được thời gian bệnh nhân có triệu chứng bệnh nhỏ hơn 1 năm là 10,3%, từ 1 –

5 năm 42,6%, từ 6 – 10 năm 29,0% và lớn hơn 10 năm là 21,2% [34]. Điều này cũng cho thấy phần lớn các bệnh nhân đã phải sống chung với HPQ trong một thời gian dài, do đó cuộc sống của người bệnh gặp rất nhiều khó khăn.

Về tiền sử gia đình

Nghiên cứu cho thấy có tới 67,8% bệnh nhân có tiền sử gia đình có người mắc bệnh HPQ. Kết quả này khá phù hợp với những công bố trước đây về tính di truyền của bệnh hen. Các thành viên trong gia đình có người có người bị hen hoặc dị ứng có tỷ lệ nắc bệnh cao hơn những gia đình khác (ví dụ tỷ lệ dị ứng 50% so với 12% ở các gia đình không hen…) [14]. Một nghiên cứu khác cho thấy: những đứa trẻ có ba hoặc mẹ mắc bệnh hen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn gấp 3 – 6 lần so với những đứa trẻ có ba mẹ bình thường và tỷ lệ này là 11 lần ở những trẻ có cả ba và mẹ đều bị HPQ [25]. Một cuộc điều tra trên 704 người bị bệnh hen ở Thành phố Thượng Hải – Trung Quốc cho thấy có 30,5% người mắc bệnh có tiền sử gia đình có người bị bệnh [37]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bạch Tuyết (1997) trên 412 bệnh nhân hen có tiền sử gia đình dị ứng là 35,4% với tỷ lệ gặp nhiều nhất là ông bà (18,4%), ba mẹ

(15,8%); Nguyễn Thị Vân (2004) có 16% bệnh nhân hen có tiền sử dị ứng gia đình; Phùng Minh Thịnh (2011) trên 519 bệnh nhân có 68% bệnh nhân có tiền sử gia đình dị ứng [28]. Ngoài ra, các nghiên cứu của Schnyder (1960) cũng như của Spaich (1966) đều cho thấy trẻ sinh đôi cùng trứng dễ cùng mắc bệnh hen hơn so với trẻ sinh đôi khác trứng [14].

Đến nay, nhân tố di truyền ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát bệnh của HPQ vẫn là vấn đề còn nhiều ý kiến. Tuy nhiên, đa số các tác giả đều cho rằng nguyên nhân phát bệnh là do các loại gen khống chế, nhưng các gen này chủ yếu điều tiết đặc tính mạnh hay yếu của phản ứng miễn dịch, như điều tiết khống chế lượng IgE. Theo y văn thế giới, nếu ba hoặc mẹ bị hen hoặc các bệnh dị ứng khác thì nguy cơ mắc hen của con là 30%.

Với những kết quả nghiên cứu về tiền sử dị ứng của bệnh nhân HPQ cho thấy có sự khác nhau giữa các vùng và các tác giả, phải chăng tại các vùng miền khác nhau yếu tố dị nguyên và môi trường tác động đến mỗi cá thể làm cho tỷ lệ dị ứng và HPQ khác nhau. Song các tác giả đều nhận thấy bệnh nhân HPQ có tiền sử dị ứng cao và có mối liên quan chặt chẽ giữa HPQ và tiền sử dị ứng của bệnh nhân. Chính vì vậy, việc khi thác tiền sử gia đình rất có giá trị hỗ trợ trong quá trình chẩn đoán và điều trị HPQ cho bệnh nhân và từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy HPQ có liên quan đến yếu tố gia đình, ở những người có Ông, Bà, Bố, Mẹ bị HPQ hoặc bị dị ứng thì có nguy cơ mắc bệnh HPQ cao hơn nhiều so với người bình thường. Tuy nhiên, có 32,2%

bệnh nhân không có tiền sử gia đình mắc bệnh HPQ, điều này phản ánh tình trạng xấu của môi trường sống ngày càng có nhiều tác động bất lợi đến sức khỏe con người, trong đó có các vấn đề liên quan đến bệnh lý đường hô hấp.

Một phần của tài liệu 0577 nghiên cứu tình hính sử dụng thuốc và đánh giá hiệu quả điều trị hen phế quản tại bv lao và bệnh phổi tp cần thơ năm 2012 (Trang 59 - 64)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)