a - Đặc điểm đặc trưng
(1). Hình thái cơ thể (tế bào).
- Tảo đơn bào, sống đơn độc, có khả năng vận động nhờ 2 roi.
- Một số ít loài không roi - không chuyển động.
• Tế bào có dạng túi, cầu, bầu dục, mỏ neo, hình lá, hình sợi…
- Cơ thể phân chia thành lưng bụng, một số loài có thể phân chia thành vỏ trái, vỏ phải (Dinophysis).
Ceratium Dinophysis
Gymnodinium
(2). Vách tế bào:
Ở tảo giáp có hai loại vách tế bào;
• vách tế bào nguyên vẹn bằng Periplast. Chi Gymnodinium.
• Vách tế bào bằng Cellulose gồm nhiều mảnh ghép lại.
• Trên vách tế bào có 2 rãnh (ngang và dọc) và hệ thống lỗ đỉnh (đỉnh tế bào).
• Đối với những loài (thuộc Peridiniales) vách TB được chia thành 6 loại mảnh như sau:
• Vỏ trên:
→ Mảnh đỉnh (apical plate): nằm ở phần đỉnh tế bào: 1’… 4’.
→ Mảnh sống trước (Precingular plate): 1’’… 7’’.
→ Mảnh giữa trước (anterior plate): 1a, 2a, 3a.
• Vỏ dưới:
→ Mảnh sống sau (poscingular plate): 1’’’… 5’’’.
→ Mảnh đáy (Antapical plate): 1’’’’, 2’’’’.
→Mảnh giữa sau (Postterior plate).
- Số lượng các mảnh giáp của vỏ trên và vỏ dưới được biểu thị bằng công thức mảnh vỏ.
- Trên vách TB có thể trơn nhẵn hay sần sùi góc cạnh
•
(3). Roi:
ở Dinophyta tế bào thường có 2 roi. Chia thành 2 nhóm:
(A). Roi nằm phía trước tế bào (nhóm Desmokont).
(B). Roi nằm ở vùng xích đạo tế bào (ở phần bụng – thuộc nhóm Dinokont): roi rãnh ngang, roi rãnh dọc.
Trên các roi còn có nhiều lông tơ phân bố.
Desmokont Dinokont
(4). Thể sắc tố sắc tố & chất dự trữ
• Thể sắc tố thường có dạng bản, bao gồm 3 bản mỏng dính lại với nhau.
• Sắc tố quan trọng nhất là Chlorophyll a, Chlorophyll c và ở những loài cộng sinh còn có thêm Chlorophyll b.
• Ngoài ra, ở tảo giáp còn có β-carotene, một ít
xanthophyll và peridinin. Các sắc tố này tạo cho thể sắc tố có màu nâu.
• Tuy nhiên, có rất nhiều loài tảo Giáp không có lục lạp → dị dưỡng. Thức ăn của tảo giáp là tảo Sillic, thậm chí nó còn ăn cả protozoa, ấu trùng nematodes và polychaeta
• Chất dự trữ là dầu (Lipid) và tinh bột
(5). Nhân tế bào, điểm mắt & các phần phụ
• Nhân thường có một cái lớn hình tròn, hình bầu dục hoặc hơi dài.
• Điểm mắt: Dinophyta có một điểm mắt nằm tự do trong tế bào chất.
• Ở Dinophyta người ta còn tìm thấy các phần phụ đặc biệt như sừng, chóp nhọn, cánh…
(6). Sinh sản:
Sinh sản vô tính: phân chia theo chiều dọc, ngang của tế bào mẹ), rất phổ biến.
Phân chia tế bào của tảo giáp.
a. Peridinium
b. Dinophysis c. Ceratium
Sinh sản hữu tính: Thường xảy ra khi môi trường thay đổi, đặc biệt là thiếu muối dinh dưỡng (ví dụ như
nitơ).
Vòng đời của Ceratium horridum
(7). Phân bố và ý nghĩa:
Phân bố:
• Dinophyta chủ yếu phân bố ở nước mặn, 90%
Dinophyta sống trôi nổi trong các tầng nước lợ, mặn.
• Peridinium → khơi, Ceratium → ven bờ.
• Một số ít ở nước ngọt, sống bám, kí sinh.
• PT mạnh vào mùa có nhiệt độ ấm áp, cao.
+ Ý nghĩa:
• Một số loài có vách là chu bì có thể làm thức ăn cho ĐV ở nước.
• Tham gia vào sự chuyển hóa vật chất trong thủy vực.
• Sống cộng sinh với san hô → Zooxanthellae.
ý nghĩa
• Trong các nhóm ngành vi tảo, Dinophyta có số lượng loài độc hại nhiều nhất.
• Prorocentrum, Dinophysis, Gonyaulax…chứa chất độc: PSP (Paralytic Shellfish Poisoning), DSP (Diarrheic Shellfish
Poisoning)
• Phát triển mạnh gây hiên tượng thủy triều đỏ.
- ĐN về thủy triều đỏ (redtide): là sự nở hoa (gia tăng mật độ TB, từ 1 – 20 triệu tb/L) của TVN (chủ yếu là tảo 2 roi) đã làm thay đổi màu nước của biển, đại dương (có thể là màu đỏ, vàng, xanh, nâu …).
• Nguyên nhân:
• →Sự gia tăng hàm lượng muối dinh dưỡng ở các vùng biển (nước thải sinh hoạt, CN, NTTS, phá rừng…).
ý nghĩa (tt)
→Do ĐK khí hậu không bình thường (sự mất cân bằng về áp suất, nhiệt độ đột ngột cũng có thế kích thích sự nở hoa của tảo).
→Sự vận chuyển bào tử từ vùng biển này đến vùng biển khác = tàu hay từ ĐVTM (thức ăn cho người).
• Tác hại
→Kìm hãm sự STPT (tôm ma) hoặc gây chết cho các thủy sinh vật khác trong vùng nước.
→Gây hoại tử, làm bong các lớp biểu mô (ở mang, hệ thống tiêu hóa) của cá, ĐVTM…& giảm năng xuất nuôi trồng.
→Gián tiếp gây hại cho con người: ngộ độc TK, rối loạn tiêu hóa… khi ăn ĐVTM 2 vỏ (khi trong ống tiêu hóa của chúng có chứa 100 – 200 tb/L)
Ceratium furca and
Prorocentrum micans gây thủy triều đỏ tại vịnh St Helena
(Nam Phi) tháng 3/1994.
[Photographs – © G.Pitcher]