CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NH TMCP VN
2.3 Ứng dụng kinh tế lƣợng phân tích các nhân tố tác động đến CTTC các NH
2.3.4 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
2.3.4.3 Kiểm định giả thiết
Bảng 2.12: Kiểm định giả thiết các mô hình hồi quy
MH Giả thiết H0 p-value Kết luận
Kiểm định việc giới hạn của mô hình hồi quy tổng thể (Phụ lục 5) (2.1) C(2) = C(3) = C(8) = C(9) = C(10) =
C(11) = 0 0,3898 Không bác bỏ H0. Chọn MH (2.4)
(2.2) C(3)=C(9)=C(10)=C(11) =0 0,4577 Không bác bỏ H0. Chọn MH (2.5) (2.3) C(2)=C(5)=C(9)=C(10)=0 0,8179 Không bác bỏH0. Chọn MH (2.6)
Kiểm định khả năng giải thích của mô hình giới hạn (Phụ lục 6)
(2.4) C(2)=C(3)=C(4)= C(5)=0 0.0000 Bác bỏ H0. Chấp nhận (2.4) (2.5) C(2)=C(3)=C(4)= C(5)= C(6)= C(7)=0 0.0000 Bác bỏ H0. Chấp nhận (2.5) (2.6) C(2)=C(3)=C(4)= C(5)= C(6)= C(7)=0 0.0000 Bác bỏ H0. Chấp nhận (2.6) (Nguyên tắc bác bỏ: p-value>α=0,05: không thể bác bỏ giả thiết H0 và ngược lại)
2.3.4.4 Kiểm tra hiện tƣợng đa cộng tuyến
Mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến có thể dẫn đến các hệ quả: ước lượng các hệ số không hiệu quả do phương sai c ủa ước lượng lớn, giá trịước lượng của các hệ số rất nhạy cảm đối với việc tăng ho ặc bớt một quan sát hoặcloại bỏ biến có mức ý nghĩa thấp…
Qua phụ lục3, cho thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình là khá thấp (<0,8). Mặt khác, qua các kết quả hồi quy của mô hình giới hạn, các mô hình này có R2 cao thể hiện mức độ giải thích của các biến đòn bẩy tài chính theo các biến nhân tố cao, nhưng đồng thời tỷ số t-statistic cũng khá cao.
Như vậy, hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình, nếu có, cũng không nghiêm trọng, hầu hết các mô hình hồi quy bội đều có tính cộng tuyến nhất định. Vì vậy, trong
53
nghiên cứu này tác giả giữ nguyên các biến để phân tích tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc.
2.3.4.5Kết luận
Trong giới hạn khảo sát các biến là các nhân tố đưa vào mô hình, có 8 nhân tố tác động đến CTTC của NH, được đại diện bằng tỷ lệ đòn bẩy tài chính, đó làFA, COLL, ROA, ROE, SIZE, ATR, GRO, FSS (có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%). Các nhân tố còn lại: VOL, LDR không tác động đến tỷ lệ đòn bẩy tài chín h (ở mức ý nghĩa 10%).
Bảng 2.13: Tổng hợp các giả thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố tác động đến CTTC NH
H Biến Giả
thiết LEV STD LTD
(2.1) (2.4) (2.2) (2.5) (2.3) (2.6)
H1 FA - -0.4429 -0.5938*** -0.7038** 0.1508
H2 COLL - -0.0165 0.0520 -0.0685* -0.0742*
H3 ROA - -4.7511* -4.6983* -3.7562* -3.7410* -0.9948* -1.0376*
H4 ROE +/- 0.5673* 0.6233* 0.5712* 0.5686* -0.0039
H5 SIZE + 0.0377* 0.0359* -0.0328** -0.0273** 0.0705* 0.0694*
H6 ATR +/- -0.0494*** -0.0303 0.0614** 0.0591** -0.1108* -0.1084*
H7 GRO + 0.0025 0.0066** 0.0075 -0.0041** -0.0042**
H8 VOL - 0.00001 0.0002 -0.0002
H9 LDR - 0.0003 -0.0004 0.0007
H10 FSS +/- -0.0122 0.0015 -0.0137** -0.0133**
Adjusted R2 0.762804 0.729165 0.534694 0.5359 0.649832 0.656244 Prob 0.000000 0.000000 0.000000 0.0000 0.000000 0.000000
No. Obs 141 154 141 141 141 141
Ghi chú: Mức ý nghĩa *1%, **5%, ***10%
Xu hướng tác động của biến tỷ trọng tài sản cố định (FA) đến đòn bẩy tài chính khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của Bevan A.A và Danbolt, J.(2002) như đã đề cập; FA có tương quan nghịch với nợ ngắn hạn (mức ý nghĩa 5%), có tương quan thuận với nợ dài hạn và tổng nợ của NH (nhưng không có ý nghĩa thống kê). NH có tỷ trọng tài sản cố định cao thể hiện sự chú trọng vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mạng lưới, hệ thống công nghệ thông tin,…vì vậy, cần các nguồn tài trợ dài hạn, mặt
54
khác, tài sản cố định cao NH càng có điều kiện thuận lợi để phát hành các chứng khoán nợ có đảm bảo. Ngoài ra, với lợi ích từ tấm chắn thuế phi nợ mang lại, có thể thay thế một phần vai trò của tấm chắn thuế lãi vay, vì vậy nợ và nợ ngắn hạn trong CTTC của NH có thể giảm.
Biến tỷ trọng tài sản hữu hình trong tổng tài sản (COLL) có tương quan nghịch (-) với nợ dài hạn (có ý nghĩa thống kê 1%), tỷ lệ thuận với nợ ngắn hạn và tỷ lệ nghịch với tổng nợ nhưng không có ý nghĩa thống kê. Các tài sản hữu hình của NH có tỷ trọng lớn là tiền, và nhiều loại tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt cao nên các NH có COLL lớn có xu hướng sử dụng ít nợ dài hạn hơn trong CTTC của mình.Chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản hữu hình là các tài sản ngắn hạn, có thể đảm bảo thanh khoản cho các NH; và trong điều kiện thị trường thuận lợi, việc cầm cố, chiết khấu,…các loại tài sản này đem lại lợi nhuận thặng dư cho NH sẽ khuyến khích các NH gia tăng nợ ngắn hạn trong CTTC của mình.
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) có tác động (-) đối với nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, và tổng nợ với mức ý nghĩa thống kê cao (dưới 1%). Điều này phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng (các DN thích tài trợ nội bộ hơn nguồn bên ngoài), và cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Các NH có tỷ suất sinh lợi ROA cao sẽ sử dụng ít nợ hơn trong CTTC của mình.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) có tương quan thuận với nợ ngắn hạn và tổng nợ (ở mức ý nghĩa 1%), tương quan nghịch với nợ dài hạn nhưng không có ý nghĩa thống kê. Cũng như DN, các NH có tỷ suất sinh lợi ROE càng cao càng có xu hướng sử dụng nhiều nợ hơn trong CTTC của mình để khuếch đại lợi nhuận cho các chủ sở hữu.
Quy mô tổng tài sản NH (SIZE) có tương quan thuận với nợ dài hạn và tổng nợ NH, tương quan nghịch với nợ ngắn hạn NH (ở mức ý nghĩa 1%). Các NH càng lớn càng dễ dàng tiếp cận và gia tăng nợ vay của mình bằng các hình thức: Tiền gửi của khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, tiếp nhận vốn tài trợ, vốn ủy thác…
Vòng quay tài sản (ATR) có tương quan thuận với nợ ngắn hạn, nhưng có tương quan nghịch với nợ dài hạn cũng như tổng nợ của NH. Các NH có vòng quay tài
55
sản cao thể hiện khả năng khai thác hiệu quả tài sản, vì vậy gia tăng các nguồn tài trợ tài sản ngắn hạn để gia tăng doanh thu. Xét trong dài hạn, khi ATR cao đem lại lợi nhuận cao cho NH, các NH có xu hướng ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại để tài trợ tài sản như lý thuyết trật tự phân hạng, vì vậy tỷ trọng nợ dài hạn trong tổng nguồn vốn có thể giảm (giảm về tỷ trọng, nhưng số tuyệt đối có thể tăng, giảm hoặc không đổi). Và với ý nghĩa tương tự, tốc độ tăng trưởng của NH, ở đây cụ thể là tốc độ tăng trưởng doanh thu GRO, cũng có tương quan thuận với nợ ngắn hạn nhưng tương quan nghịch với nợ dài hạn của NH.
Các NH có sự tham gia của cổ đông nước ngoài, gia tăng lượng vốn cổ phần, gia tăng nguồn tài trợ cho tài sản dài hạn nên tỷ trọng nợ dài hạn trong tổng nguồn vốn giảm. Biến FSS, có tương quan nghịch với nợ dài hạn (có ý nghĩa thống kê 5%), có tương quan thuận với nợ ngắn hạn, tương quan nghịch với tổng nợ (nhưng không có ý nghĩa thống kê).
Và các nhân tố còn lại tác động đến CTTC nhưng không có ý nghĩa thống kê ở mức 1%,5%, 10% là:
Biến VOL - rủi ro kinh doanh, biến LDR – tỷ lệ cấp tín dụng so với vốn huy động, với mục đích thể hiện rủi ro thanh khoản của NH. Hoạt động NH là hoạt động có nhiều rủi ro, trong đó không chỉ bao gồm rủi ro kinh doanh, và rủi ro thanh khoản.
Các tính toán để xác định mức độ rủi ro của NH khá phức tạp yêu cầu các số liệu tài chính kế toán phải minh bạch, chính xác và các yêu cầu tính toán phức tạp.
Trong điều kiện hạn chế do thu thập số liệu của tác giả, cũng như sự thiếu công khai một cách chi tiết các số liệu tài chính của các NH TMCP VN, các biến VOL, LDR với cách thức tính toán đơn giản có thể chưa phản ánh hết được các rủi ro của hệ thống NH, đặc biệt là rủi ro kinh doanh và rủi ro thanh khoản, vì vậy kết quả hồi quy cho thấy hướng tác động không phù hợp với giả thiết, và không có ý nghĩa thống kê.
Hướng nghiên cứu mở rộng:Từ hạn chế này, cần đánh giá các rủi ro của các NH TMCP VN theo các tiêu chí do NHNN đã ban hành cũng như theo các tiêu chí mang tính quốc tế do ủy ban Basel đã đưa ra, dựa trên một báo cáo tài chính chi tiết, chính xác và trung thực để có một đánh giá chính xác hơn tác động của hai nhân tố này đến