Các NH duy trì một CTTC thâm dụng nợ

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến cấu trúc tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần VN (Trang 46 - 49)

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NH TMCP VN

2.2 Thực trạng chung các NH TMCP VN hiện nay

2.2.1 CTTC của các NH TMCP VN hiện nay

2.2.1.1 Các NH duy trì một CTTC thâm dụng nợ

Do đặc thù của ngành NH và theo quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2007 của NHNN VN về chế độ báo cáo tài chính đối với các TCTD, nợ phải trả của NH bao gồm: Các khoản nợ Chính phủ và NHNN; tiền gửi của các TCTD khác;

tiền gửi của khách hàng; các công cụ tài chính phái sinh và các công cụ nợ khác; vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay tổ chức tín dụng chịu rủi ro, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi; và các khoản nợ khác. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính từ năm 2006-2010 của NH như sau:

Hình 2.2: Tỷ lệ đòn bẩy tài chính 30 NH TMCP VN, 2006-2010

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán của các NHTMCPVN 58.0% 58.6% 56.3%

52.3% 52.9%

30.6% 30.0% 31.2% 37.0% 37.9%

88.6% 88.6% 87.5% 89.3% 90.8%

0.0%

20.0%

40.0%

60.0%

80.0%

100.0%

2006 2007 2008 2009 2010

Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản

Nợ dài hạn/Tổng tài sản

Nợ phải trả/Tổng tài sản

32

Qua số liệu thống kê cho thấy, từ 2006-2010, các NH có tỷ lệ Nợ phải trả/Tổng tài sản rất cao, tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn luôn trên 88%, và có xu hướng gia tăng, năm 2006 là 88,6%, năm 2010 tăng đến 90,8%. Tổng tài sản, và tổng nguồn vốn của các NH gia tăng nhanh chóng (theo thống kê Bảng 2.1), đóng góp vào sự gia tăng của tổng nguồn vốn đó là sự tăng trưởng của cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, nhưng nợ phải trả có tốc độ tăng nhanh hơn, các NH ưa thích tài trợ bằng nợ hơn do nguồn lợi nhuận giữ lại cũng như sự gia tăng vốn tự có còn khiêm tốn, tăng nợ là phương án dường như dễ dàng hơn để tăng nguồn tài trợ cho tài sản.

Điều này được giải thích là do đặc điểm của ngành NH cũng như do khả năng huy động vốn cổ phần của các NH VN trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn hậu khủng hoảng.

Thứ nhất, do đặc điểm của ngành NH vì một trong các nghiệp vụ chính của các NH Việt Nam là huy động tiền gửi để cho vay. Tiền gửi của khách hàng là nợ phải trả đối với NH, sự gia tăng loại nợ này thay vì phụ thuộc vào loại và giá trị tài sản thế chấp (như DN đi vay vốn NH) thì phụ thuộc vào các yếu tố như: lãi suất, thương hiệu, mạng lưới, sự đa dạng sản phẩm, chiến lược marketing, chất lượng phục vụ, công nghệ thông tin…. Vì vậy NH luôn có tỷ số đòn bẩy tài chính cao hơn các DN phi tài chính.

Bảng 2.4 về tỷ số tài chính của các công ty niêm yết trên 2 sàn HOSE và HNX năm 2010 cho thấy ngành tài chính nói chung và ngành NH nói riêng sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, cao nhất trong các ngành. Nợ dưới hình thức tiền gửi của khách hàn g tăng mạnh trong những năm qua, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả của NH (trên 56%) nhưng đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng (Hình 2.3).

Bảng 2.4 : Tỷ số tài chính của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX năm 2010

Lĩnh vực ROA (%) ROE (%) Nợ/Vốn CSH

Viễn thông 2.89 5.14 0.62

Y tế 12.02 20.70 0.72

Hàng tiêu dùng 10.77 21.96 0.95

Công nghệ 7.17 16.09 1.13

Vật liệu cơ bản 10.45 22.76 1.16

Dịch vụ công cộng 3.96 9.05 1.26

Dịch vụ tiêu dùng 4.71 12.05 1.50

33

Dầu Khí 5.94 18.99 2.17

Công nghiệp 3.60 12.22 2.28

Tài chính Ngân hàng

1.83 1.14

15.80 19.09

7.46 15.49 Nguồn: www.vndirect.vn [38]

Hình 2.3: Nợ dưới hình thức tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng giảm dần Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán của các NHTMCPVN

Thứ hai, năm 2008 xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, một trong các biểu hiện dễ thấy nhất là chỉ số VNINDEX từ mức đỉnh điểm 1.170,67 điểm ngày 12/03/2007 đã sụt giảm xuống còn 484,66 điểm vào cuối năm 2010, thậm chí có lúc đạt đáy còn gần 280 điểm, khối lượng và giá trị giao dịch sụt giảm nghiêm trọng. Thêm vào đó các quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần tố i đa (cá nhân là 10%, tổ chức là 20%, mỗi cá nhân hoặc tổ chức và người có liên quan của cá nhân hoặc tổ chức đứng đơn chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 NH, bao gồm cả NH đang hoạt động) gây khó khăn cho các NH huy động vốn cổ phần thông qua kênh phát hành cổ phiếu dù đối với cổ đông hiện hữu hay cổ đông mới, việc tìm kiếm đối tác chiến lược cũng trở nên khó khả thi hơn. Bên cạnh đó, theo Nghị định số 141/2006/NĐ- CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD, cá

66.0% 59.7% 66.8% 60.6% 56.5%

34.0% 40.3% 33.2% 39.4% 43.5%

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

2006 2007 2008 2009 2010

Phi tiền gửi Tiền gửi

34

việc huy động vốn cổ phần càng trợ nên khó khăn hơn.

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến cấu trúc tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần VN (Trang 46 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(135 trang)