CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NH TMCP VN
2.4 Ứng dụng kinh tế lƣợng phân tích tác động của CTTC đến HQTC các NH
2.4.3 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
2.4.3.2 Kết quả hồi quy, ước lượng tham số
Bảng 2.16: Kết quả hồi quy HQTC NH
Biến Quy mô lớn Quy mô vừa Quy mô nhỏ
ROE (2.7) ROE (2.8) ROE (2.9) ROE (2.10) ROE (2.11) ROE (2.12)
LEV 1.238* 0.487* 0.282*
STD 1.184* 0.472* 0.244**
LTD 1.291* 0.506* 0.359**
ATR -0.703 -0.697 -0.261 -0.259 0.999** 1.041**
LOAN -0.604* -0.617* -0.004 -0.004 0.055 0.049 SEC -0.244** -0.235** -0.029 -0.032 -0.027 -0.052 DEPO 0.489* 0.502* 0.039 0.034 -0.107*** -0.110***
FSS 0.064** 0.063** -0.014 -0.014 -0.027 -0.029 Adjusted R20.66206 0.64790 0.30912 0.29322 0.18412 0.1729 Prob 0.000013 0.000043 0.000998 0.002319 0.008331 0.015051
No. Obs 30 30 50 50 61 61
Ghi chú: Mức ý nghĩa *1%, **5%, ***10%
Các mô hình đều có mức ý nghĩa 1%, qua kết quả hồi quy trên cho thấy các nhân tố khác nhau tác động đến hiệu quả tài chính của NH ở những quy mô khác nhau, thì rất khác nhau. Nhưng có một đặc điểm chung có thể nhận thấy, đòn bẩy tài chính là nhân tố tác động cùng chiều mạnh nhất đến ROE của NH. Ở các NH quy mô càng lớn mức ý nghĩa càng thấp (dưới 1%), hệ số hồi quy càng cao, thể hiện vai trò của đòn bẩy tài chính đến HQTC.
Các biến còn lại có thể có tác động đến ROE của nhóm NH này ở các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10% nhưng không tác động đến ROE của nhóm NH khác. Cụ thể, biến
60
ATR, có tác động cùng chiều lên ROE của các NH nhỏ ở mức ý nghĩa 5%, vì vậy để cải thiện ROE của mình, các NH nhỏ nên gia tăng hiệu quả khai thác tài sản thể hiện qua ATR của mình. Tuy nhiên, ATR lại có tác động ngược chiều lên ROE đối với NH quy mô vừa và quy mô lớn trong kết quả thống kê này, nhưng không có ý nghĩa. Điều này có thể được lý giải, do dữ liệu nghiên cứu giai đoạn 2006-2010, ROE các NH quy mô vừa và lớn nhìn chung có xu hướng tăng trong cả giai đoạn nghiên cứu, các NH này gia tăng tổng tài sản khá ấn tượng, nhưng tốc độ tăng của doanh thu chậm hơn tốc độ tăng của tổng tài sản nên ATR có xu hướng giảm. Vì vậy, kết quả hồi quy cho thấy đối với NH quy mô lớn và vừa, ATR tương quan nghịch với ROE của NH.
Biến LOAN- tỷ trọng cho vay khách hàng có tương quan nghịch (ở mức ý nghĩa 1%), biến SEC – tỷ trọng chứng khoán kinh doanh, đầu tư, và góp vốn, mua cổ phần có tương quan nghịch và FSS – có sự tham gia của cổ đông nước ngoài có tương quan thuận (đều ở mức ý nghĩa 5%) với HQTC của nhóm NH quy mô lớn, nhưng không có ý nghĩa thống kê với nhóm NH quy mô vừa và nhỏ.
Đặc biệt, biến DEPO - tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng tài sản có tương quan thuận ở mức ý nghĩa 1% với ROE của nhóm NH quy mô lớn, nhưng lại có tương quan nghịch ở mức ý nghĩa 10% với ROE của nhóm NH quy mô nhỏ.
Căn cứ vào thống kê mô tả các biến (xu hướng tăng, giảm của các biến theo quy mô), kết quả hồi quy của mô hình và kết hợp với thực trạng của từng nhóm NH như đã phân tích cho thấy kết quả nghiên cứu đã phần nào phản ánh được chất lượng thu nhập cũng như tài sản của các nhóm NH trong giai đoạn 2006-2010: Các NH đã có sự cơ cấu lại tài sản, chuyển dần từ hoạt động tín dụng truyền thống sang hoạt động đầu tư tài chính;LOAN, SEC đều có tương quan nghịch với ROE, nhưng khả năng sinh lợi của các nhóm tài sản này chưa được như kỳ vọng, với ATR có tương quan nghịch trong kết quả hồi quy, mặt khác biến DEPO lại có tương quan nghịch với ROE (mức ý nghĩa 5%) với nhóm NH quy mô nhỏ. Từ các kết quả nghiên cứu này, cho thấy các NH TMCP VN trong giai đoạn tới nên tập trung vào các giải pháp nhằm gia tăng
61
doanh thu, chất lượng doanh thu, chất lượng tài sản hơn là chạy đua gia tăng tổng tài sản. Việc gia tăng tổng tài sản phải đi kèm với khả năng quản lý và khai thác tài sản nhắm đạt mức sinh lợi tốt nhất, tránh tình trạng quy mô tăng quá mức dẫn đến hiệu quả giảm theo quy mô. Điều này được đề cập chi tiết ở chương 3.
62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Ngành NH VN từ những năm 1990 đến nay đã có những bước phát triển quan trọng, thể hiện vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ, quản trị, điều hành ngân hàng,… còn mang nặng tính truyền thống, và đang trong quá trình hiện đại hóa để đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế cũng như bắt kịp đà phát triển của các NH trong khu vực.
Đi sâu vào phân tích cụ thể thực trạng CTTC, HQTC các NH TMCP VN giai đoan 2006-2010, có thể thấy những nét chính:
- Các NH duy trì một CTTC thâm dụng nợ, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao.
Trong nợ phải trả của NH, nợ dưới hình thức tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhưng có xu hướng giảm dần tỷ trọng, được thay thế bằng các hình thức nợ phi tiền gửi khác.
- Các NH TMCP gia tăng vốn điều lệ (vốn cổ phần) một cách nhanh chóng, nhưng kênh phát hành cổ phần trên thị trường niêm yết chưa hấp dẫn và hiệu quả. Với đà đi xuống của thị trường chứng khoán những năm gần đây, khiến các NH TMCP dù đã đáp ứng các quy định của Ủy ban chứng khoán nhưng chưa mặn mà với việc niêm yết. Bên c ạnh đó, việc tìm các đối tác chiến lược nước ngoài với mục tiêu hỗ trợ và gắn kết lâu dài còn gặp nhiều khó khăn.
- Hiệu quả sử dụng vốn của NH, thể hiện qua chỉ số ROE, khá cao so với các ngành nghề khác, và vẫn đang có xu hướng gia tăng, thể hiện NH vẫn là kênh đ ầu tư an toàn và hấp dẫn.
- Bên cạnh những đặc điểm chung của hệ thống NHTMCP VN nói chung, mỗi nhóm NH xét theo quy mô lớn, vừa và nhỏ có những đ ặc điểm riêng về cấu trúc tài sản, CTTC, cơ cấu thu nhập cũng như hiệu quả khai thác tài sản, hiệu quả sử dụng vốn. Từ kết luận tổng quát: tỷ lệ đòn bẩy tài chính, HQTC,… tăng theo quy mô NH và các đặc điểm riêng của từng nhóm NH, khuyến nghị: nhóm NH quy mô lớn nên gia tăng vốn cổ phần và nợ ngắn hạn của mình, nhóm NH quy mô nhỏ nên gia tăng vốn cổ
63
phần và nợ dài hạn, nhóm NH quy mô vừa nên chú trọng vào nợ phải trả của mình, đặc biệt là nợ ngắn hạn thường xuyên có thể được xem như nợ dài hạn trong CTTC.
Từ thực trạng của các NH TMCP VN, tác giả ứng dụng kinh tế lượng để phân tích các nhân tố tác động đến CTTC và HQTC của NH, đặc biệt là mối quan hệ tác động qua lại giữa đòn bẩy tài chính và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của NH. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, có một số giới hạn nhất định do:
Số lượng quan sát còn hạn chế: Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2010, năm 2006 Việt Nam có 33 NH TMCP, đến năm 2010, Việt Nam có 37 NH TMCP. Có bốn NH được thành lập giữa giai đoạn nên không có các số liệu nghiên cứu cho cả giai đoạn. Mặt khác do giới hạn khả năng thu thập số liệu của tác giả, một số NH không công bố đầy đủ các BCTC, nên số lượng quan s át còn hạn chế.
Biến và phương pháp đo lường: Với mong muốn tìm ra nhiều nhất có thể các nhân tố tác động đến CTTC, và HQTC của NH TMCP, tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu trong nước (đối với DN phi tài chính) và các nước trên thế giới (đối với NH và DN phi tài chính) để khảo sát nhân tố. Việc xây dựng một số biến là những nhân tố có tác động đến CTTC, HQTC của DN phi tài chính, cũng như do giới hạn khả năng thu thập số liệu của tác giả, chưa có thông tin định giá chính thức các NH trên thị trường, nên một số biến khác được xây dựng dựa trên giá trị sổ sách chưa phản ánh hết tính chất và quy mô của NH. Điều này làm giới hạn kết quả nghiên cứu, cũng như hạn chế khả năng phân tích của các kết quả nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu như sau:
- Qua khảo sát các nhân tố tác động đến CTTC NH, đã tìm ra 8 nhân tố có tác động là: FA COLL, ROA, ROE, SIZE, ATR, GRO, FSS.Đây là những nhân tố được khảo sát chủ yếu trong các nghiên cứu nhân tố tác động đến CTTC NH trên thế giới (ngoại trừ FSS), và xu hướng tác động phù hợp với lý thuyết cũng như các kết quả nghiên cứu trên thế giới.
- Khảo sát các nhân tố tác động đến HQTC NH theo quy mô, kết quả thu được
64
các biến LOAN, SEC có tương quan nghịch (-); DEPO, FSS có tương quan thuận (+) với ROE c ủa NH quy mô lớn. Biến ATR có tương quan thuận (+), DEPO tương quan nghịch (-) với ROE của nhóm NH quy mô nhỏ. Đặc biệt, ở cả 3 nhóm NH, LEV, STD, LTD đều có tương quan thuận (+) với ROE, hệ số hồi quy thể hiện mức độ tác động của LTD cao hơn hơn STD, tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể.
Từ 2 mô hình hồi quy này, có thể kết luận về sự tác động qua lại cùng chiều khá mạnh giữa HQTC và đòn bẩy tài chính của NH. Mặt khác, chiều hướng tác động của các nhân tố lên đòn bẩy tài chính và HQTC của NH phù hợp với giả thiết nghiên cứu cũng như các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới là điều kiện thuận lợi, kết hợp với phân tích thực trạng của các NH TMCP để từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao HQTC nói riêng và khả năng cạnh tranh của các NH như được trình bày trong chương 3.