Theo nhiều tài liệu trên thế giới cây vải đ−ợc trồng cách đây 3000 năm và có nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc. Cụ thể là các tỉnh Quảng Tây, Quảng
Đông, Vân Nam, đảo Hải Nam. ở những vùng này cây vải mọc dại ở núi Hoàng Sơn (Quảng Đông), núi Lô Hổ Lĩnh, Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam), Thạch Ph−ợng Sơn (Vân Nam). Cây vải mọc thành rừng, có cây già nhất ở đây có chu vi ngang 7,5m. ở Trung Quốc đời Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh năm thứ 16 (trước Công nguyên 111 năm) đã cho lập vườn vải trong cung vua lấy cây từ Lĩnh Nam. Đời nhà Tông vào năm 1059 Thái T−ơng viết quyển “Lệ Chi Phổ” mô tả lịch sử trông, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc chế biến và đặc điểm giống đ−ợc coi là công trình xuất bản đầu tiên trên thế giới về cây vải (Tôn ThÊt Tr×nh, 1995) [18].
Mặc dù lịch sử trồng vải lâu đời nh− vậy, nh−ng cây vải và quả vải suốt thời gian dài chỉ bó hẹp duy nhất ở vùng nguyên sản. Mãi đến cuối thế kỷ XVII cây vải mới đ−ợc đ−a từ Trung Quốc sang Myanma và đến ấn Độ cuối thế kỷ XVIII. Vải đ−ợc đ−a sang Châu Mỹ và Jamaica năm 1775, đến Australia vào 1854, Nam Châu Phi 1869 và vào Hawai năm 1873. Từ ấn Độ cây vải đ−ợc giới thiệu vào Floria, Califolia vào năm 18977 và đến Iran n¨m1930 - 1940 (TrÇn ThÕ Tôc, 1999) [19].
Tại Việt Nam theo các tài liệu cũ, cây vải đ−ợc trồng cách đây 2000 năm.
Quả thu bồi học, 1959 sách Trung Quốc, sử chép rằng: Cách đây 10 thế kỷ, Lệ Chi (vải) là một trong những cống vật của Việt Nam phải nộp cho Trung Quốc (Vũ Công Hậu, 1999) [8].
Theo Vũ Công Hậu, khi điều tra cây ăn quả ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và ở miền Trung có gặp nhiều cây vải rừng, vải dại. ở vùng chân núi Tam
Đảo có bán nhiều quả rất giống vải nhà, vỏ ngoài cũng màu hồng đỏ nh−ng quả bé hơn, cùi mỏng hơn, h−ơng vị kém vải nhà. Theo Copetelot ng−ời Pháp- 1952 có nói tới vải mọc ở sườn núi Ba Vì. Điều đó khẳng định rằng Việt Nam là nơi thuần hoá và là một trong những n−ớc trồng vải sớm nhất và có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cây ăn quả này.
2.3.2. Tình hình sản xuất một số n−ớc trên thế giới và Việt Nam
• ThÕ giíi:
Theo tài liệu kỹ thuật trồng vải (Lệ Chi tài bồi) của tác giả Nghệ Diệu Nguyên và Ngô Tất Phẩm năm 1991: Diện tích, sản l−ợng vải trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu á - Thái Bình D−ơng và một số khu vực khác.
Bảng 2.2. Diện tích, sản l−ợng vải của một số n−ớc trên thế giới
Tên quốc gia Diện tích
(ha)
Số l−ợng (TÊn)
Trung Quèc 592.000 1.270.000
Ên §é 56.000 492.000
Thái Lan 22.937 81.388
Nepan 2830 13.875
óc 1500 3.500
Mü 100 40
Nguồn: Thái Lan tổng hợp tháng 9/2004
Số liệu bảng cho thấy diện tích, sản l−ợng vải tập trung chủ yếu ở các n−ớc thuộc Châu á. Quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới là Trung Quốc với tổng diện tích là 529.000 ha, sản l−ợng đạt 1.20.000 tấn. Ngoài ra, cây vải còn
đ−ợc trồng ở một số quốc gia và khu vực khác nh−: Châu Mỹ, Châu úc...
Hiện nay sản l−ợng vải trên thế giới khoảng trên 2 triệu tấn/năm, tập trung chủ yếu ở Châu á khoảng 2 triệu tấn. Tuy nhiên, sản l−ợng vải tập trung vào một số n−ớc có điều kiện tự nhiên thích hợp và sản xuất có tính chất hàng
hoá nh−: Trung Quốc 1.270.000 tấn, ấn Độ 430.000 tấn, Thái Lan 85.000 tấn... Hiện nay nghiên cứu thị tr−ờng thế giới còn rất lớn về vải t−ơi cũng nh−
sản phẩm đ−ợc chế biến từ vải rất lớn.
Theo Sauco năng suất vải thế giới đạt trung bình 60 - 70 kg/cây (2,5 - 5,4 tấn/ha), cây tốt có thể đạt tới 125 - 130 kg/cây (8 - 10 tấn/ha).
Năm 1993, Đài Loan đã xuất khẩu vải tươi tới tổng số 6.929 tấn, Trung Quốc xuất khẩu 533 tấn vải t−ơi...
Thái Lan chủ yếu trồng các giống vải: Hong Huay, Chakrapud... Năm 1993 Thái Lan xuất khẩu 7.651 tấn vải đóng hộp cho các nước Malaixia (2.514 tÊn), Singgapo (1.133 tÊn), Mü (1.085 tÊn)....
Tóm lại, quả vải ngày càng phổ biến trên thị tr−ờng các n−ớc thuộc Liên minh Châu Âu, các n−ớc Pháp, Đức, Anh mỗi năm nhập khoảng 15.000 tấn vải từ Nam Phi... ở Đông Nam á, Hồng Kông, Singgapo, Nhật Bản mỗi năm nhập khoảng 10.000 tấn vải (gồm cả tươi, khô và đóng hộp) chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan (Viện BVTV, 2003) [21].
• ở Việt Nam: Cây vải đ−ợc trồng ở các tỉnh phía Bắc, qua nhiều năm đã
hình thành các vùng trồng vải có diện tích tương đối lớn như: Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà, Chí Linh (Hải D−ơng), Đông triều (Quảng Ninh)...
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất vải ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
Địa ph−ơng Tổng diện tích (ha)
Diện tích thu hoạch (ha)
Sản l−ợng (tÊn) Bắc Giang
(Lục Ngạn)
34.962 16.730
- -
59.774 38.496
Hải D−ơng 11.200 9.000 38.000
Quảng Ninh 6.800 5.000 8-9
Lạng Sơn 2.000 1.500 5-6
Nguồn: Viện BVTV, 2003.
Riêng tỉnh Bắc Giang, diện tích trồng vải thiều đến năm 2002 là 34.962 ha với sản l−ợng đạt 59.774 tấn (chiếm 35% về diện tích và 60% sản l−ợng vải toàn quốc), giá trị ước đạt khoảng 250 tỷ đồng. Tổng diện tích vải nước ta đến nay ch−a có tài liệu nào thống kê chính xác, sang những năm gần đây việc phát triển cây ăn quả, diện tích vải thiều đang tăng nhanh v−ợt xa con số thống kê trên.
ở miền Nam các vùng cao nh−: Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Kom Tum đang trồng thử và b−ớc đầu cho kết quả. Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long có trồng vài chục cây vải 40 - 50 tuổi, cây ra hoa và kết quả bình th−ờng nh−ng quả nhỏ (Chu Văn Chuông, 1995) [4]
Ưu thế lớn nhất của cây vải là: dễ trồng, chăm sóc đơn giản, chịu
đ−ợc đất chua, đất đồi dốc là những loại đất phổ biến ở vùng đồi núi phía Bắc nước ta, thêm vào đó công tác BVTV đơn giản hơn các cây trồng khác (Nhật Lệ, 2003) [9].