4.5.1. ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất vải thiều của huyện
Từ khi đ−ợc thành lập Trạm khuyến nông Lục Ngạn đã gặt hái đ−ợc nhiều thành công, khẳng định đ−ợc vai trò quan trọng của mình trong phát triển nông nghiệp nông thôn của huyện miền núi tỉnh Bắc Giang với cây nông nghiệp mũi nhọn vải thiều.
Hàng năm Trạm tổ chức nhiều buổi tập huấn, hội thảo tọa đàm, xây dựng mô hình trình diễn về vải cho hàng ngàn hộ dân trồng vải tham gia. Nhờ đó mà sản l−ợng và năng suất vải không ngừng tăng lên.
Qua bảng 4.13 ta thấy rõ những biến đổi tích cực về diện tích, năng suất, sản l−ợng vải thiều Lục Ngạn qua một số năm. Mặc dù diện tích trồng vải của huyện trong những năm trở lại đây có xu h−ớng giảm đi, nh−ng về sản l−ợng và năng suất lại tăng lên, đó là do có sự hỗ trợ về kỹ thuật của khuyến nông cho ng−ời trồng vải.
Năm 2006 sản l−ợng vải của cả huyện là 54.820 tấn, sang năm 2007 là 114.059, tăng hơn gấp đôi, kéo theo năng suất cũng tăng đáng kể. Năng suất chung năm 2007 là 6,06 tấn/ha, xã Quý Sơn là 4,35 tấn/ha, xã Biên Sơn là 3,63 tấn/ha. Trên thực tế sản phẩm vải không chỉ tăng lên về năng suất và sản l−ợng mà còn tăng lên cả về mẫu mã và chất l−ợng, thời vụ của cây vải cũng đ−ợc kéo dài ra nhằm giảm bớt sức ép thu hoạch và tiêu thụ cùng lúc. Có đ−ợc thành quả này thì công tác khuyến nông đóng vai trò quan trọng. Đó cũng là lý do ng−ời dân trồng vải Lục Ngạn luôn có mong muốn đ−ợc tham gia các hoạt động khuyến nông nhiều hơn nữa. Trạm khuyến nông huyện không chỉ chuyển giao KHKT mà còn chỉ đạo người dân thực hiện theo các chính sách về vải mà UBND đã phê duyệt về vải thiều để tránh tình trạng người dân trồng và phá một cách ồ ạt.
Bảng 4.14. Diện tích, năng suất, sản l−ợng vải thiều qua một số năm
Diện tích (ha)
Diện tích cho thu hoạch (ha)
Sản l−ợng (TÊn)
N¨ng suÊt (tÊn/ha) 2000 2006 2007 2000 2006 2007 2000 2006 2007 2000 2006 2007 Tổng 14.322 18.815 18.815 10.660 15.400 18.810 33.410 54.820 114.059 3,13 3,55 6,06 Quý Sơn 1.058 1.592 1.539 967 1.480 1.481 2.660 4.939 6.438 2,75 3,34 4,35 Biên Sơn 760 938 931 632 905 906 1.687 2.938 3.294 2,67 3,25 3,63
Nguồn: Niên giám thống kê Lục Ngạn 2006, 2007.
Trong những năm qua khuyến nông Lục Ngạn cũng góp phần vào việc thúc đẩy thị trường tiêu thụ sản phẩm bằng việc đề xuất các chính sách ưu đãi
đối với người buôn bán vải trên địa bàn huyện, làm việc với các công ty chế biến xuất khẩu vải tiêu thụ sản phẩm cho ng−ời dân... Công tác này của khuyến nông Lục Ngạn cũng đã đạt đ−ợc một số kết quả. Nh−ng do thời gian có hạn và những thống kê ch−a đầy đủ nên đề tài không đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực này.
4.5.2. ảnh hưởng gián tiếp đến sự phát triển kinh tế hộ
Đối với cả 2 xã Quý Sơn và Biên Sơn yếu tố quan trọng giúp các hộ gia đình tăng thu nhập từ cây vải là năng suất cây trồng tăng lên do áp dụng KHKT mới vào sản xuất từ việc đ−ợc tham gia vào các lớp tập huấn, học hỏi một số mô hình đã có kết quả tốt. Bên cạnh đó cũng là việc mở rộng thêm diện tích và trồng thêm một số giống vải mới. Và không có hộ ga đình nào nói tới việc tăng thu nhập từ vải là do giá
tăng lên.
Bảng 4.15. Những yếu tố quan trọng giúp hộ gia đình nâng cao thu nhập từ sản xuất vải thiều
§VT: %
Yếu tố Quý sơn Biên Sơn
Tăng diện tích 40,00 56,00
Trồng giống mới 14,00 12,00
N¨ng suÊt t¨ng 90,00 84,00
Giá tăng 0,00 0,00
áp dụng kỹ thuật mới 86,00 78,00
Nguồn: Số liệu điều tra, 2008.
Để đánh giá công tác khuyến nông đã ảnh đến các hộ dân trồng vải nh−
thế nào, họ đ−ợc lợi gì từ việc tham gia vào các hoạt động của công tác khuyến nông thúc đẩy phát triển vải thiều. Tôi đã tiến hành điều tra 100 hộ dân ở 2 xã Quý Sơn và Biên Sơn. kết quả điều tra nh− sau:
Bảng 4.16. Đánh giá của nông dân về mức sống của hộ gia đình so với thời kú tr−íc 2003
Quý Sơn (n= 50)
Biên Sơn
(n = 50) Tổng
Mức so sánh
SL (Hé)
CC (%)
SL (Hé)
CC (%)
SL (Hé)
CC (%)
Khá hơn tr−ớc 42 84,00 33 66,00 75 75,00
Gièng nhau 8 16,00 17 34,00 25 25,00
Kém hơn 0 0,00 0 0,00 0 0,00
Nguồn: Số liệu điều tra, 2008
Qua số liệu điều tra có thể thấy phần lớn các hộ gia đình đ−ợc phỏng vấn (75%) tự đánh giá mức sống của gia đình mình trong thời gian gần đây,
tính đến năm 2007, khá hơn so với thời kỳ trước năm 2003, thời kỳ chưa thành lập Trạm khuyến nông lục Ngạn. Khi hỏi các hộ này về yếu tố giúp kinh tế gia đình tốt hơn thì 100% hộ đều cho biết là nhờ làm kinh tế vườn
đồi, phát triển cây vải. 25% số hộ điều tra đánh giá mức sống của gia đình mình vẫn nh− tr−ớc nh−ng không đ−a ra đ−ợc lý do thích hợp.
Trong những năm qua Trạm khuyến nông Lục Ngạn không chỉ làm nhiệm vụ chuyển giao KHKT mới tới ng−ời dân theo một kênh chính là khuyến nông nhà nước mà Trạm còn giúp đỡ các thôn, xã thành lập nhiều CLB khuyến nông, nhóm sở thích nh−: CLB Nông dân Thanh Hùng (Trù Hựu), CLB Nông dân xã Quý Sơn, HTX Hồng Xuân (Hồng Giang)... Thông qua các CLB, nhóm hội này khuyến nông đến đ−ợc với rộng rãi ng−ời nông dân hơn vì họ tham gia tự nguyện và những khó khăn và nhu cầu của họ cũng dễ dàng đến với CBKN hơn thông qua các nhóm trưởng. Các nhóm này sinh hoạt theo định kỳ 3 tuần một lần
đã giúp người dân trồng vải có thêm được nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình chăm sóc vải khi mà khuyến nông nhà nước không thể đáp ứng đ−ợc hết nhu cầu.
Qua đây lần nữa ta thấy đ−ợc vai trò của công tác khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất vải thiều Lục Ngạn. Trạm khuyến nông Lục Ngạn cần có những định hướng, giải pháp cụ thể để khẳng định đúng vai trò của mình.