4.2. Hệ thống khuyến nông huyện Lục Ngạn
4.2.3. Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực
Nguồn lực con người luôn là yếu tố quyết định thành công trên mọi lĩnh vực hoạt động. Vì vậy, lao động Trạm khuyến nông huyện luôn đặt vấn đề nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ CBKN lên hàng đầu. Từ khi mới cơ
cấu lại và tách khỏi phòng kinh tế hoạt động độc lập từ năm 2003, cơ cấu nhân sự của Trạm có nhiều thay đổi đáng kể. Năm 2003 với chỉ 2 cán bộ khuyến nông thường trực của Trạm và đội ngũ khuyến nông cơ sở với hầu hết là đội ngũ nông dân sản xuất giỏi, đến năm 2007 số lượng CBKN thường trực đã là 5 người với 4 người trình độ đại học và 1 trình độ trung cấp với 5 chuyên ngành khác nhau: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, kinh tế, kế toán hỗ trợ nhau trong công tác khuyến nông. Cho đến nay có thể nói đội ngũ CBKN của huyện đã tương đối hoàn thiện và đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụ của sản xuất đề ra. Đội ngũ CBKN cơ sở cho đến nay cũng đ−ợc thay thế toàn bộ bằng
đội ngũ CBKN có chuyên môn nghiệp vụ, trình độ từ trung cấp trở lên với tổng số 27 CBKN cơ sở trên 30 xã, thị trấn. Trong đó 22 người trình độ đại học chiếm 81,48%, 2 người cao đẳng chiếm 7,41%, 3 người trung cấp chiếm 11,11%. Và 100% CBKN hưởng lương hợp đồng dài hạn. Chuyên ngành đào tạo của CBKN cơ sở Lục Ngạn hiện nay chủ yếu là trồng trọt và lâm nghiệp và các ngành khác nh−ng không nhiều. Đây cũng có thể coi là một thế mạnh nếu nh− lực l−ợng này hoạt động tốt, vì trong phát triển nông nghiệp của huyện Lục Ngạn cây vải đ−ợc coi là cây mũi nhọn của huyện, ng−ời dân rất cần sự t−
vấn về KHKT từ những ng−ời có chuyên môn chuyên sâu về trồng trọt (Nguyễn Minh Châu, 2006) [2]. Nh−ng trên thực tế đội ngũ CBKN cơ sở hoạt
động vẫn ch−a thực sự hiệu quả, vẫn còn ỉ lại quá nhiều vào chỉ đạo, phân công của cấp trên. Một số người không xác định gắn bó lâu dài với công việc mà mình đang làm. Họ vẫn tiếp tục tìm kiến cơ hội đi làm cho các doanh nghiệp, các công ty hoặc chuyển làm công tác khác. Bởi vì đời sống kinh tế của CBKN xã còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế mà nguồn kinh phí cho hoạt
động khuyến nông cơ sở là quá thấp (80.000 đ/1 buổi tập huấn, 45.000- 90.000 đ/1 tháng phụ cấp).
Bảng 4.4. Nguồn nhân lực của Trạm và đội ngũ CBKN xã
Cán bộ Trạm CBKN cơ sở
Trình độ Số l−ợng (ng−êi)
Cơ cấu (%)
Số l−ợng (ng−êi)
Cơ cấu (%)
Đại học 4 80,00 22 81,48
Cao đẳng 0 0,00 2 7,41
Trung cÊp 1 20,00 3 11,11
Tổng số 5 100,00 27 100,00
Nguồn: Số liệu của Trạm khuyến nông, 2008
CBKN cơ sở và cán bộ Trạm là lực l−ợng h−ớng dẫn kỹ thuật sản xuất và thường xuyên làm việc với bà con nông dân. Do đó để công tác khuyến nông thực sự có hiệu quả cần có những biện pháp tăng c−ờng và củng cố hơn nữa mạng l−ới khuyến nông cơ sở, nâng cao mức phụ cấp cho họ và cần có một CBKN đ−ợc đào tạo chuyên sâu về khuyến nông và phát triển nông thôn làm việc tại Trạm.
4.2.4. Nội dung hoạt độn khuyến nông trong lĩnh vực sản xuất vải thiều của huyện Lục Ngạn
Với chức năng và nhiệm vụ của mình hoạt động của Trạm khuyến nông Lục Ngạn trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất vải thiều tập trung vào các hoạt động chính là:
- Thông tin tuyên truyền, khuyến cáo.
- Đào tạo, tập huấn.
- Xây dựng mô hình trình diễn.
- Tham quan, hội thảo.
- Chỉ đạo sản xuất.
Nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất vải thiều trên đại bàn, hoạt động khuyến nông của huyện vẫn chủ yếu là mở các buổi tập huấn. Vài năm trở lại đây thì
hoạt động xây dựng mô hình trình diễn và tham quan, hội thảo cũng đ−ợc trạm bắt đầu chú trọng và b−ớc đầu cho kết quả tốt, tạo điều kiện cho ng−ời dân trồng vải đ−ợc tận mắt chứng kiến, trực tiếp tham gia xây dựng các mô
hình trình diễn và trao đổi kinh nghiệp chăm sóc vải góp phần nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất cho nông dân. Bên cạnh đó Trạm còn thông qua thông tin tuyên truyền để cung cấp kiến thức sản xuất đến người trồng vải, tuyên truyền những chủ tr−ơng chính sách của Đảng và nhà n−ớc, cũng nh− những khuyến cáo về tình hình sâu bệnh, thông tin thị tr−ờng vải thiều... Đồng thời Trạm tổ chức công tác chỉ đạo sản xuất vải thiều và trên lĩnh vực trồng trọt chung.
Có thể thấy rằng hoạt động của Trạm khuyến nông Lục Ngạn là khá
phong phú và đa dạng. Nó đã và đang góp phần tích cực vào phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện nói chung và phát triển vải thiều nói riêng. Tuy vậy để làm tốt hơn nữa công tác khuyến nông Trạm cần tập trung vào hỗ trợ thông tin về thị tr−ờng sản xuất, đầu ra cho sản phẩm vải khi mà sản l−ợng vải ngày càng tăng lên, đáp ứng đầy đủ hơn nữa nhu cầu của ng−ời dân.
4.2.5.. Các ph−ơng pháp khuyến nông đ−ợc áp dụng trong việc thúc đẩy sản xuất vải thiều trên địa bàn huyện Lục Ngạn
Khi làm việc với cây vải Trạm khuyến nông Lục Ngạn đã sử dụng nhiều ph−ơng pháp khuyến nông dựa trên các ph−ơng pháp cơ bản nh−:
* Ph−ơng pháp tiếp xúc cá nhân:
Với phương pháp này chủ yếu là CBKN tổ chức các buổi đến thăm các hộ gia đình sản xuất vải điển hình hoặc tham gia vào các mô hình trình diễn hay các dự án vải... Nh−ng ph−ơng pháp này còn nhiều hạn chế nên Trạm khuyến nông Lục Ngạn sử dụng không nhiều.
* Ph−ơng pháp nhóm:
Là ph−ơng pháp khuyến nông đ−ợc Trạm sử dụng phổ biến không chỉ trong lĩnh vực khuyến nông vải thiều mà trong tất cả các lĩnh vực khác, vì
ph−ơng pháp này khắc phục đ−ợc phần lớn nh−ợc điểm của ph−ơng pháp cá
nhân và nó còn tiết kiệm đ−ợc cả công sức và tiền bạc trong khi nguồn kinh phí cho hoạt động khuyến nông còn hạn chế.