VA HOP DONG NHUQNG QUYEN THUONG MAI
1.3.1. NOTM và lisence đổi trợng SHTT
Lisence đối tượng sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ (hoặc người được chủ sở hữu đối tượng SHTT chuyền giao độc quyền quyền sử dụng đối tượng SHTT) chuyên giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối tượng SHTT của mình cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, qua đó bên chuyên giao lisence SHTT thu được
một khoản tiền.
Co thé thay NQTM và lisence giống nhau ở điểm cả hai đều có hoạt động chuyên
giao quyên sử dụng các đối tượng SHTT, tuy nhiên đây là hai hoạt động kinh doanh hoàn
toàn khác nhau, mà dựa vào một số tiêu chí sau ta có thê phân biệt chúng:
Thứ nhất, đối tượng hợp đồng NQTM rộng hơn so với hợp đồng lisence, ngoài các đối tượng quyền SHTT nó còn gồm các đối tượng khác như phương pháp kinh doanh, chi
dẫn, quy tắc, tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật.
Thứ hai, bên nhận chuyên giao lisence ngoài việc sử dụng đối tượng SHTT của bên chuyền giao thì không còn mối quan hệ nào với chủ thể giao lisence. Ngược lại, trong hợp đồng NQTM mối quan hệ giữa các chủ thê rất chặt chẽ, bên nhận quyên phái tuân theo các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật do bên nhượng quyên đặt ra đồng thời phải chịu sự kiểm soát của bên nhượng quyền. Đổi lại, bên nhượng quyên có nghĩa vụ giúp đỡ, hỗ trợ cho bên nhận quyên trong suốt thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
Thứ ba, về vẫn đề phí: phí trong hợp đồng lisence là phí trả cho từng đối tượng lisence cụ thê, còn phí trong hợp đồng NQTM chính là khoản tiền trả cho việc sử dụng tổng hợp mọi quyền SHTT được giao bởi bên nhượng quyên.
Điểm khác biệt nữa là trong hợp đồng NQTM bên nhượng quyên cho phép bên nhận quyên được tiễn hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo những cách thức của bên nhượng quyên đề sản xuất, kinh doanh. Nhưng với hợp đồng lisence bên nhận chuyển giao chỉ được quyên sử dụng các đối tượng SHTT để tiễn hành kinh doanh và không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ bên chuyên giao lisence.
1.3.2. NOTM và chuyên giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghê từ bên có quyền chuyên giao công nghệ sang bên nhận công nghệ. Như vậy giữa NQTM và CGCN có đặc điểm chung chính là ở nội dung chuyên giao quy trình kỹ thuật và bí quyết kinh doanh, vì thế giữa hai phương thức này nhiều khi van có sự nhâm lẫn, Tuy nhiên đây là hai hình thức kinh doanh khác nhau về bản chất, trong chuyển giao công nghệ, bên có quyền chuyển giao có thê chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ, nhưng trong hợp đồng NQTM, đối tượng chuyền giao chỉ có thể là quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ. Mặt khác, khi tham gia quan hệ chuyên giao công nghệ, bên nhận chuyên giao chỉ nhằm mục đích ứng dụng nó vào qua trình sản xuất đề tăng năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; còn mục đích tham gia quan hệ nhượng quyên của bên nhận quyên là việc tìm kiếm lợi nhuận bằng cách khai thác giá trị thương hiệu đã thành công của bên nhượng quyên.
Sau khi được chuyền giao công nghệ, bên nhận chuyên giao có thể sử dụng theo bất kỳ tên thương mại, kiểu dáng, thương hiệu nào mà họ muốn. Ngược lại, bên nhận quyên chỉ được sử dụng công nghệ mà mình nhận được đê sản xuât hàng hoá và cung ứng
các loại dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức, dưới nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại của bên nhượng quyên.
Ngoài ra, mỗi quan hệ giữa các chủ thê trong hai hình thức kinh doanh này cũng khác nhau. Nếu như trong hợp đồng chuyên giao công nghệ, giữa các bên không có quan hệ gì sau khi công nghệ được chuyên giao thì ngược lại, quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng NQTM rất chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau.
1.3.3. NOTM và Đại lý thương mại
Đại lý thương mại là hoạt đông thương mại, theo đó bên giao đại ly và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá, hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý để hưởng thù lao.
Về hình thức, NQTM và đại lý thương mại đều là việc cùng phân phối hàng hoá, dịch vụ trên thương hiệu doanh nghiệp khác, tuy nhiên về bản chất thì NQTM và đại lý thương mại tương đối khác nhau:
Thứ nhất, bên nhận quyên trong quan hệ NQTM là một pháp nhân độc lập, tiến hành phân phối hàng hoá, dịch vụ cho chính mìnhvà tự hạch toán tài chính trong hoạt động kinh doanh của mình. Còn bên nhận đại lý trong đại lý thương mại chỉ là đại diện của doanh nghiệp trong việc phân phối, cung ứng dịch vụ theo mức giá quy định của doanh nghiệp đó, bên nhận đại lý sẽ nhận được khoản hoa hồng từ phía doanh nghiệp tính trên doanh số bán được của đại ly do
Thứ hai, trong quan hệ đại lý thương mại bên nhận đại lý không phải trả khoản phí nào cho doanh nghiệp khi trở thành đại lý của doanh nghiệp, không chỉ vậy, trong suốt quá trình kinh doanh, bên nhận đại lý còn được hưởng thù lao do bên giao đại lý trả (gọi là hoa hồng) cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngược lại, bên nhận quyên trong NQTM muốn than gia vào mạng lưới nhượng quyên phải trả cho bên nhượng quyền khoản phí ban đầu để mua "quyên thương mại", đồng thời trong suốt qúa trình kinh doanh, bên nhận quyên còn phải đóng các khoản phí hàng tháng để tiếp tục duy trì sử dụng các đối tượng SHTT.
Một điểm phân biệt khá quan trọng giữa NQTM và đại lý thương mại chính là cách bài trí cửa hàng. Đối với các cửa hàng nhượng quyền bên nhận quyên bắt buộc phải bồ trí thiết kế cửa hàng theo đúng quy định của bên nhượng quyền. Nhưng với các cửa
hàng đại lý, bên nhận đại lý được toàn quyền quyết định việc bài trí cửa hàng, không chịu bất kỳ sức ép nào từ bên giao đại lý.
1.4 Vai trò và ý nghĩa của NỌTM
Hoạt động NQTM ngày càng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới là một
thực tế cho thấy đó là mô hình kinh doanh rất thành công và được các thương nhân lựa chọn. Đây là phương thức kinh doanh không chỉ mang lại lợi ích cho các bên tham gia mà còn có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc gia cũng như thể giới.
1.4.1. Đối với bên nhượng quyền
Lợi ích đầu tiên mà bên nhượng quyên nhận được khi kinh doanh NQTM là nhân rộng mô hình kinh doanh mà không cần bỏ ra nhiều chỉ phí. Đây là điều mà bất kì thương nhân nào cũng mong muốn bởi lẽ khi mô hình kinh doanh được nhân rộng đồng nghĩa với thương hiệu của mình sẽ mạnh lên, có chỗ đứng trên thị trường và tăng khả năng cạnh tranh với các thương hiệu khác. Đối với một thương nhân không kinh doanh theo mô hình NQTM thì điều này rất khó khăn bởi chủ thương hiệu sẽ phải tự bỏ ra các khoản chi phí để xây dựng hệ thống cửa hàng của mình, phải tìm hiểu phong tục tập quán địa phương nơi mình định đặt cửa hàng để có hướng kinh doanh phù hợp, phải tô chức quản lí một cách đồng bộ hệ thống kinh doanh nhượng quyên. Tuy nhiên với những thương nhân kinh doanh NQTM thì những vấn đề trên không còn là trở ngại, đây chính là lợi ích lớn nhất mà nên nhượng quyền nhận được khi kinh doanh theo phương thức này.
Khi thực hiện NQTM bên nhượng quyên sẽ nhận được các khoản phí từ bên nhận quyên, các khoản phí này bao gồm phí nhượng quyên ban đầu, phí hàng tháng và các loại phí khác, đây là một nguồn thu rất lớn đối với bên nhượng quyên, thương hiệu càng mạnh thì các khoản phí này càng cao. Như vậy, ngoài doanh thu từ hoạt động kinh doanh của mình bên nhượng quyền còn được hưởng một khoản tiền lớn mà chỉ khi kinh doanh NQTM mới có, hay nói cách khác kinh doanh NQTM giúp bên nhượng quyên tăng doanh thu của mình một cách đáng kê.
Lợi ích tiếp theo mà bên nhượng quyên nhận được chính là việc tiết giảm các chỉ phí như phí quảng cáo, tiếp thị, các khoản chi mua nguyên liệu đặc thù. Đối với các nguyên liệu đặc thù bên nhận quyên phải mua với số lượng lớn để phân phối cho cá hệ thống cửa hàng nhượng quyên của mình, với số lượng lớn như vậy bên nhượng quyền sẽ
mua được nguyên liệu với giá thấp hơn so với giá thông thường của hàng hóa đó. Các chỉ phí về quảng cáo, tiếp thị cũng được tiết giảm nhờ ưu thế chia nhỏ ra cho nhiều đơn vị cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí hàng tháng của bên nhận quyên.