5. Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên
2.4 Noi dung hop ding NQTM
2.4.1 Về đối trợng hợp đông NOTM
Đề cập đến nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại không thê không nói đến đối tượng của loại hợp đồng này. Đây là lợi ích mà các bên trong quan hệ nhượng quyên đều hướng tới, đó chính là “quyền thương mại” (bao gồm: tên thương mại, công nghệ, bí quyết kinh doanh, quy trình kinh doanh, nhãn hiệu hàng hoá, tài liệu hướng dẫn...) mà các bên thoả thuận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
a) Quyên thương mại
Ở các nước khác nhau, với cái nhìn không đồng nhất về hoạt động nhượng quyền thương mại, “quyên thương mại?” mà thương nhân có thể đem nhượng cho thương nhân khác có nội dung rộng, hẹp khác nhau. Một số nước cho rằng đối tượng của nhượng quyên thương mại chỉ là việc sử dụng tên thương mại, kiểu dáng thiết kế của
hàng hoá, trong khi đó một số nước khác lại mở rộng đối tượng của nhượng quyền thương mại là tất cả những quyền hợp pháp liên quan thiết thân tới hoạt động thương mại của thương nhân. Tuy nhiên, xu hướng phát triển của thương mại quốc tế chỉ ra rằng khái niệm về đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ ngày càng được mở rộng ở các nước có sự phát triển mạnh mẽ về giao lưu thương mại quốc tế. Từ đó, khái niệm đối tượng hợp đồng nhượng quyên thương mại sẽ trở nên đa dạng nhưng lại gặp nhau ở điểm tương đồng, đó chính là sự kết hợp của những yếu tố mà bên nhượng quyên trao cho bên nhận quyên. Lúc này, “quyền thương mại” không chỉ là sự kết hợp của các đối tượng của quyên sở hữu trí tuệ mà cao hơn, đó là sự kết hợp toàn diện tất cả các yếu tô ấy trong thể thống nhất không phân tách. Có thể nói chỉ có cách hiểu như trên về đối tượng của hợp đồng nhượng quyên thương mại mới nói lên được bản chất của quan hệ thương mại đặc biệt này. Bởi vì, xét cho cùng, đặc trưng của hoạt động nhượng quyên thương mại chính là sự chia sẻ quyền khai thác trên cùng tên thương mại, tạo nên hệ thống bán hàng, cung cấp dịch vụ đồng bộ giữa các thương nhân với
những tư cách pháp lí độc lập và hoàn toàn khác biệt. Xuất phát từ bản chất của “quyên
thương mại”, khi giao kết hợp đồng nhượng quyén thương mại, các bên cần thiết phải cân nhắc những yếu tố sẽ được nhắc đến và kết hợp trong “quyền thương mại”. Đối với những quốc gia mà pháp luật thương mại chưa đưa ra được định nghĩa cụ thể về “quyên thương mại”, các bên chủ thể trong quan hệ sẽ là những người xác định nội hàm của “quyền thương mại” cho từng hợp đồng cụ thể. Đó chính là việc liệt kê những đối tượng được đưa vào gói quyền thương mại. Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lí, pháp luật sẽ hỗ trợ các bên trong việc làm cho định nghĩa của các bên sáng tỏ hơn thông qua việc quy định về tính kết hợp của các đối tượng của quyên sở hữu trí tuệ mà các bên đã liệt kê ra trước đó”?
b) Quyền thương mại trong pháp luật Việt Nam
Theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam thì đối tượng hợp đồng NQTM được hiểu như sau (Khoản 6 Điều 3 ND35/2006/ND-CP):
(12) Ths. Vũ Đặng Hải Yến, Nồi dung của hợp động nhượng quyên thương mai, Tạp chí luật học. Trường
đại học luật Hà Nội. Số 11 /Năm 2008
Quyên thương mại bao gồm một, một số hoặc tất cả các quyền sau đây:
Quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu câu bên nhận quyền tự
mình tiễn hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ thống
cho bên nhượng quyên quy định và gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khâu hiệu kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyên.
Quyền được bên nhượng quyền cung cấp cho bên nhận quyên sơ cấp quyền thương mại chung.
Quyền được bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng NQTM chung.
Quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyên quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại.
2.4.2 Về quyền và nghĩa vụ các bên
a) Khái quát về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng NỌOTM
Quyên và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng chính là sự thỏa thuận các bên về việc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm các bên trong hợp đồng. Theo đó các bên thỏa thuận các điều khoản phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình cũng như các quy định pháp
luật. Các điều khoản này phải được quy định một cách cụ thê và dễ hiểu vì nó ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của hai bên và khả năng xảy ra tranh chấp.
Nếu như trong các hợp đồng khác, khi hợp đồng cham dứt đồng nghĩa với việc chấm dứt quyền và nghĩa vụ các bên thì trong hợp đồng NQTM sau khi hợp đồng chấm dứt quyên và nghĩa vụ các bên vẫn còn tồn tại. Đây là vấn đề được hầu hết luật pháp các quốc gia quy định nhằm bảo vệ lợi ích của bên nhượng quyên. Quy định này rất hợp lý bởi đối tượng hợp đồng NQTM là vô hình nên rất dễ bị bên nhận quyền chiếm dụng, khai thác sau khi hợp đông cham dứt để cạnh tranh ngược lại với bên nhượng quyên, vì thế nếu nhà nước không có biện pháp bảo vệ bên nhượng quyên thì sẽ không chủ thương hiệu nào dám kinh doanh theo mô hình NQTM.
b) Theo pháp luật Việt Nam
Đối với Việt Nam, mặc dù pháp luật về nhượng quyền thương mại không đưa ra định nghĩa cụ thê về hợp đồng nhượng quyên thương mại nhưng lại quy định chỉ tiết về nội dung của hợp đồng nhượng quyên thương mại. Điêu 11 Nghị định của Chính
phủ số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 quy định chỉ tiết Luật thương mại về hoạt
động nhượng quyền thương mại đã liệt kê các nội dung cần có của hợp đồng nhượng quyền thương mại, bao gồm: 1) Nội dung của quyền thương mại; 2) Quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyên; 3) Quyên và nghĩa vụ của bên nhận quyền; 4) Giá cả, phí nhượng quyền định kì và phương thức thanh toán; 5) Thời hạn hiệu lực của hợp đồng: 6) Gia hạn, châm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.
Trong số các nội dung kế trên, quyền và nghĩa vụ của các bên nhượng quyền thương mại và nhận quyền thương mại được coi là nội dung không thê thiếu của hợp đồng nhượng quyên thương mại. Về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là do các bên tự thoả thuận và những thoả thuận này sẽ có hiệu lực nếu chúng không trái với các quy định của pháp luật. Ở góc độ thực hiện quyền quản lí các hoạt động kinh doanh, Nhà nước đưa ra một số quy định có tính chất khung về quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi chính đáng của các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, nhất là một loại hợp đồng mang tính chất phức tạp như hợp đồng nhượng quyền thương mại. Theo quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại của hầu hết các nước và theo Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam thì quyên và nghĩa vụ chủ yếu của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại là khá rõ ràng. Được quy định từ Điều 286 đến Điều 289 LTM 2005, theo đó quyền và nghĩa vụ các bên do các bên thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận, các bên sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ sau:
-Bên nhượng quyền sẽ có cúc qHyỀn sau:
+Một là nhận tiền nhượng quyền: tức là bên nhượng quyển sẽ được nhận một khoản phí từ bên nhận quyền gọi là phí nhượng quyền; (sẽ được đề cập trong phần 2.2.3.3)
+Hai là Tô chức quảng cáo cho hệ thống NQTM và mạng lưới NQTM. Hầu hết các bên chuyên nhượng có quy mô họat động lớn đều yêu cầu bên nhận chuyên nhượng trả một khoản nào đó vào quỹ quảng cáo trên tòan quốc, quỹ này dùng để quảng bá thúc đây quan điểm kinh doanh của bên chuyển nhượng.
+Ba là Kiêm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyên nhằm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống NQTM và on định về chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Quy
định này nhằm đảm bảo tính kiêm soát của chủ thương hiệu đối với thương hiệu của mình nó có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyên lợi của bên nhượng quyên. Tuy nhiên cân giới hạn phạm vi kiểm soát trách trường hợp bên nhượng quyền lợi dụng và lạm dụng việc kiểm soát để gây khó khăn cho bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh. Trong bối cảnh pháp luật không quy định nhiều về vẫn đề này, các bên phải tự thiết kế nên những điều khoản nhằm ràng buộc trách nhiệm và tự bảo vệ quyên lợi hợp pháp của chính mình trong quan hệ nhượng quyên thương mại.
-Bên nhượng quyên có các nghĩa vụ sau:
Xuất phát từ bản chất của quan hệ nhượng quyên thương mại, hầu hết pháp luật về nhượng quyền thương mại đều quy định rằng nếu giữa bên nhượng quyên và bên nhận quyền không có thoả thuận nào khác thì bên nhượng quyên có các nghĩa vụ sau đây:
+ Một là cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thông nhượng quyên thương mại cho bên
nhận quyền;
+ Hai là đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kĩ thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyên để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyên thương mại;
+ Bứ ià thiết kế và sắp xếp địa điểm bỏn hàng, cung ứng dịch vụ bằng chỉ phớ của
thương nhân nhận quyên;
+ Bốn là bảo đảm quyên sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyên;
+ Năm là đôi xử bình đăng với các thương nhân nhận quyên trong hệ thống nhượng quyền thương mại.
Có thể nói hợp đồng nhượng quyên thương mại mang tính chất của loại hợp đồng gia nhập, trong đó, bên nhượng quyên đưa ra thông tin, yêu cầu và bên nhận quyền chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận. Sự thoả thuận lại về một số điều khoản trong hợp đồng đã soạn trước của bên nhận quyên đối với bên nhượng quyên rất
hiếm khi được chấp nhận. Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh nhượng quyên thương mại
yêu cầu bên nhượng quyền phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ thông tin cũng như tiễn hành hỗ trợ đào tạo nhân lực và chuyên giao công nghệ cho bên nhận quyên là cần thiết. Sự không cân đối về thông tin liên quan đến quyền thương mại được nhượng giữa bên nhượng quyên và bên nhận quyền làm cho những quy định về nghĩa vụ cung cấp
thông tin và chịu trách nhiệm trước những thông tin đã cung cấp đối với bên nhượng quyền thương mại trở nên có ý nghĩa quan trọng. Nghĩa vụ này của bên nhượng quyên sẽ hạn chế rủi ro cho bên nhận quyên trong quá trình khai thác tên thương mại và bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyên thương mại.
Hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng song vụ, vì vậy quyền của bên nhượng chính là nghĩa vụ của bên nhận và ngược lại, từ đó ta có thé thay bén nhan quyền CÓ Các quyên và nghĩa vụ như sau:
- Về quyền của bên nhận quyên:
Trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại, xét về khía cạnh kinh tế cũng như khía cạnh pháp lí, bên nhận quyền phải chịu nhiều ràng buộc từ phía bên nhượng quyền ở mọi thời điểm, lúc kí kết hợp đồng cũng như lúc thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ràng buộc về mặt nghĩa vụ đó, bên nhận quyên cũng có một số quyền đối với bên nhượng quyền, những quyền này cũng chính là mối ràng buộc trở lại của bên nhận quyền đối vớibên nhượng quyên. Cụ thể, bên nhận quyền có thê:
+ Một là yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp day đủ trợ giúp kĩ thuật có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại;
+ Hai là yêu cầu thương nhân nhượng quyên đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyên thương mại.
Hai quyển cơ bản nói trên của thương nhân nhận quyên có thể được triển khai khác nhau, phù hợp với quy định cụ thể của từng quốc gia hay tô chức quốc tế về nhượng quyên thương mại. Ở Việt Nam, chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất định hướng, không có những quy định vạch ra những giới hạn cụ thể hay những điều kiện cụ thể để thực hiện những quyên này. Tuy nhiên, thực tế áp dụng đi theo một chiều hướng khá tích cực đó là sự trợ giúp của bên nhượng quyên phải được hiểu là sự trợ giúp không giới hạn về mặt thời gian và cách thức. Bên nhượng quyên có trách nhiệm trợ giúp cho bên nhận quyên bất cứ lúc nào sự trợ giúp được col là cần thiết. Vì vậy, dựa vào đó, bên nhận quyên có thể đưa ra yêu cầu trợ giúp vào thời điểm bên
này thực sự cân trợ giúp mà không phụ thuộc vào thời điểm khởi đầu hay kết thúc của
việc thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại.
- Về nghĩa vụ của bên nhận quyên:
Nghĩa vụ của bên nhận quyên đối với bên nhượng quyên và các bên thứ ba chính là những điều kiện mà bên nhận quyền phải đáp ứng khi chấp nhận tham gia quan hệ hợp đồng nhượng quyên thương mại. Mối quan hệ này có thể bị chấm dứt bất cứ thời điểm nào nam ngoài sự chủ động của bên nhận quyền với lí do bên nhận quyền không đáp ứng đủ điều kiện của quan hệ nhượng quyên, nói cách khác là bên nhận quyền không thực hiện đủ nghĩa vụ của mình. Nhóm nghĩa vụ mà pháp luật của hầu hết các nước quy định cho bên nhận quyên thê hiện hầu hết các đặc điểm quan trọng của quan hệ nhượng quyên thương mại.
Cụ thể, bên nhận quyền có các nghĩa vụ:
+ Một là trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyên thương mại;
+ Hai là chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyên;
tuân thủ các yêu câu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân nhượng quyền;
+ Ba là giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kế cả sau khi
hợp đồng nhượng quyên thương mại kết thúc hoặc chấm dứt;
+ Bốn là ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khâu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyên khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyên thương mại;
+ Năm là điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại;
+ $á là không được nhượng quyên lại trong trường hợp không có sự chấp thuận của bên nhượng quyên.
Đề bảo vệ quyền lợi của bên nhượng quyền, pháp luật Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ của bên nhận quyển sau khi hợp đồng NQTM chấm dứt. Theo đó bên nhận quyền phải ngừng ngay việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại...và các quyền sở hữu trí tuệ nếu có khi hợp đồng chấm dứt. Ngoài ra, bên nhận quyên luôn phải giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyên trong quá trình kinh doanh và cả sau
khi hợp đồng NQTM kết thúc hoặc chấm dứt.
2.4.3 Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán
Về vấn đề này pháp luật Việt Nam chưa có hướng dẫn một cách cụ thể, tuy nhiên
từ thực tiễn hoạt động NQTM trên thế giói cũng như Việt Nam thì có thê hiểu:
- Giá cả: hay còn gọi là phí nhượng quyên ban dau (initial fee/upfront fee) ma bén nhận quyên phải trả cho bên nhượng quyền khi ký kết hợp đồng nhượng quyên. Đó là
khoản định phí khá lớn được thu cố định, một lần và duy nhất. Ví đụ: Phở 24 quy định
Phí nhượng quyên hiện nay của thương hiệu trong nước: 15.000 USD/cửa hàng, Nước ngoài: 20.000 USD/cửa hàng.“” Phí nhượng quyền ban đầu chỉ bao gồm quyền sử dụng tên và hệ thống sản xuất, điều hành, đôi khi bao gom ca viéc dao tao theo ché dé, những
thủ tục, tài liệu hướng dẫn, và một số chỉ tiết phụ trợ khác. Phí này không gồm những thứ
như: tài sản cô định, bàn ghé, bất động sản...
- Phí nhượng quyên định kỳ: là bên nhận quyền phải trả định kỳ (tuần, tháng, quí...) cho
bên nhượng quyền theo một quy trinh liên tục trong suốt thời gian thức hiện hợp đồng.
Phí này là phí mà bên mua franchise phải trả cho việc duy trì sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên bán franchise và những dịch vụ hỗ trợ mang tính chất tiếp diễn liên tục như đào tạo huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng cáo, nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới...
Phí này có thê là một khoản phí cô định theo thỏa thuận của hai bên hoặc tính theo phân
trăm trên doanh số của bên mua franchise và thường dao động trung bình từ 3 - 6% tùy vào loại sản phẩm, mô hình và lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ: Phí định kỳ mà các cửa hàng Phở 24 phải trả 3-4%/tháng dựa trên doanh thu của từng cửa hàng.(nguôồn: Pho24.com.vn)