Về nội dung hợp đồng

Một phần của tài liệu khóa luận tốt nghiệp một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở việt nam (Trang 69 - 78)

HỢP ĐÔNG NHƯỢNG QUYÈN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.2 Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng NQTM ở Việt Nam đồng NQTM ở Việt Nam

3.2.3 Về nội dung hợp đồng

3.2.3.1 Vấn để đổi tượng của quyên sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyên thương mại

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyên thương mại là một vẫn đề rất quan trọng vì quyên sở hữu trí tuệ là cốt lõi của hoạt động này. Mặc dù đã có luật sở hữu trí tụê cùng các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các cam kết quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ như công ước BERNE (Công ước về bảo hộ quyền tác giả), hiệp định TRIPs (Hiệp định về các vẫn đề liên quan đến thương mại của quyên sở hữu trí tuệ)...

nhưng vẫn đề bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam còn chưa được thực hiện hiệu quả. Thực tế cho thấy sự vi phạm bản quyên trong kinh doanh NQTM ở Việt Nam xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng. Các dạng vi phạm điển hình như hành vi làm trái với các quy định của chủ thương hiệu của các cửa hàng nhượng quyên hay hành vi “nhái” thương hiệu nhượng quyên. Cà phê Trung Nguyên tuy là doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình nhượng quyên khá lâu ở Việt Nam nhưng bảo vệ thương hiệu vẫn là vẫn đề bức xúc của

công ty.Tính đến hiện nay Trung Nguyên có khoảng 1000 cửa hàng cà phê nhượng quyền

trên khắp cả nước nhưng cũng có đến vài trăm cửa hàng cà phê “nhái” mà cho đến nay

công ty vẫn chưa xử lý được.”®

Đê giải quyêt vân đê này, giải pháp đưa ra là các cơ quan chức nang can ap dung

(18) Đỗ Văn Tính, Chiến lược kinh doanh của tập đoàn café trung nguyên. Đăng trén: http://gucafe.com/

doanh-nghiep/binh-luan-thuong-hieu/chien-luoc-kinh-doanh-cua-tap-doan-cafe-trung-nguyen.html

một các triệt để các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ đặc biệt khi có các vi phạm xảy ra. Mặt khác phải xây dựng các quy định pháp luật về van đề bảo vệ bản quyên trong

NQTM vì hiện nay luật thương mại 2005 và NĐÐ35/2006/NĐ-CP mới chỉ đề cập đến đối

tượng quyên sở hữu công nghiệp, hay nói các khác cần xây dựng các quy định pháp luật để bảo hộ cho quá trình, hệ thống, cách thức tô chức kinh doanh.. .(các tài sản trí tuệ) của bên nhượng quyên. Vì có như vậy bên nhượng quyền mới có thê yên tâm giao bí quyết, quy trình kinh doanh cho chủ thê khác khai thác, sử dụng. Khi đó quan hệ nhượng quyên mới có thể phát triển một cách lành mạnh với tốc độ tăng trưởng cao.

Luật sở hữu trí tuệ (Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực ngày 01/07/2006) là một trong những văn bản pháp luật điều chỉnh gián tiếp hợp đồng NQTM.

Tuy nhiên khi áp dụng các quy định của luật SHTT để điều chỉnh quan hệ NQTM thì có nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý. Có thê chỉ ra một số điểm đáng lưu ý trong việc áp dụng văn bản pháp luật này vào hợp đồng NQTM như sau:

Một là, việc xác định sự thành công, nỗi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá trong hợp đồng NQTM là rất quan trọng, nhãn hiệu càng nổi tiếng thì giá trị “quyền thương mại”

càng cao. Bởi thế cần có các tiêu chí để đánh giá như thế nào là một nhãn hiệu nỗi tiếng.

K20.Đ4.Luật SHTT đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu nỗi tiếng như sau “Nhãn hiệu nỗi tiếng

là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam ”. Ngoài ra, D75 của luật cũng đưa ra tiêu chí đánh giá một nhãn hiệu nỗi tiếng như : phạm vi lãnh thé ma hàng hoá, dịch vụ đó được lưu hành; thời gian sử dụng nhãn hiệu; uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; số lượng quốc gia bảo hộ; giá chuyển nhượng; số lượng người tiêu dùng biết đến nhãn hiệu...Tuy nhiên, thực chất các tiêu chí này chỉ mang tính định hướng mà chưa chỉ ra cụ thể cách xác định như thế nào là nhãn hiệu nồi tiếng, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tự đánh giá thương hiệu của mình.

Hai là, theo quy định tại khoản 2 điều 10 NÐ35/2006/NĐ-CP thì “phần chuyên

giao quyên sử dụng các đối tượng SHCN trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật về SHCN”. Như đã biết hoạt động NOTM luôn gắn VỚI CáC đối tượng SHCN như nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh...tuy nhiên đối tượng của NQTM không chỉ gồm những yếu tố đó mà còn gắn với các yếu tố

khác được phát triển bởi bên giao quyên như bí quyết kỹ thuật, phương pháp, quy trình kinh doanh, các tiêu chuẩn chất lượng, tổ chức xây dựng và hoạt động kinh doanh.... Vì vậy khi áp dụng các quy định của luật SHTT vào hợp đồng chuyên quyên sử dụng đối tượng SHCN riêng lẻ thì rất hợp lý nhưng nếu vận dụng vào quan hệ NQTM thì xảy ra

một số điểm bất hợp lý như:

Thứ nhất, Khoản 1 Điều 142 luật SHTT về Quy định chung về chuyên quyên sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp quy định tên thương mại là đối tượng SHCN không được chuyển giao, vì theo luật SHTT (K21.Ð4) tên thương mại là” tên gọi của các cá nhân, tố chức dùng trong hoạt động kinh doanh đề phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”, quy định nay rat hop ly trong hop dong lisence, tuy nhiên nếu áp dụng vào hợp đồng NQTM thi không thế thực hiện được bởi tên thương mại là một trong những yếu tô cốt lõi tạo nên NQTM, nếu cấm chuyên giao quyền sử dụng tên thương mại thì bên giao quyền không thể thực hiện được việc nhượng quyền cho các đối tác mua quyên.

Thứ hai, Điểm a khoản 2 Điều 144 luật SHTT về nội dung hợp đồng sử dụng đối

tượng sở hữu công nghiệp quy định câm bên được chuyên giao cải tiễn đối tượng SHCN trừ NHHH, nếu áp dụng điều khoản này vào quan hệ NQTM có nghĩa là bên nhận quyền có quyên cải tiến NHHH của bên nhượng quyên. Điều này đi ngược với bản chất của hoạt động NQTM bởi đặc trưng của ngtm là tính đồng bộ và nghĩa vụ tuân thủ tuyệt đối của bên nhận quyên đối với mọi yêu cầu, quy định của bên nhượng quyên, nghĩa là bên nhận quyên không được thay đôi bất kỳ yếu tô nào trong tất cả các đối tượng được chuyển giao từ bên nhượng quyên.

Nói tóm lại, NQTM tuy có các đặc điểm, tính chất giống với hoạt động chuyển

giao quyên sử dụng đối tượng SHTT nhưng nó có các đặc trưng riêng, vì vậy không thê áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này vào NQTM mà cân phải có các quy định đặc thù về nội dung các đối tượng SHTT trong NQTM. Các vấn đề chung có thê

dẫn chiếu đến luật SHTT để áp dụng, có như vậy mới có thê tránh được các xung đột giữa

quy phạm về SHTT và các quy phạm về NQTM.

3.2.3.2. Về quyên và nghĩa vụ các bên chủ thể trong hợp đồng NOTM

Khoản 1 Điều 284 Luật thương mại 2005 quy định “bên nhượng quyển có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành công việc kinh doanh”, quy định như vậy có nghĩa là vẫn đề “trợ giúp” cho bên nhận quyền của bên nhượng

quyên không phải là bắt buộc, bên nhượng quyền có thê thực hiện hoặc không. Tuy nhiên Khoản 1 Điều 287 Luật thương mại lại quy định bên nhượng quyên có nghĩa vụ cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho bên nhận quyền để tiền hành điều hành kinh doanh theo hệ thống NQTM. Như vậy đã có sự mâu thuẫn trong quy định của 2 điều luật này.

Mặt khác qua thực tế ta có thể thấy quy định như Điều 284 là chưa hợp lý vì nếu bên nhượng quyên không trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành kinh doanh thì hệ

thống NQTM không đảm bảo tính đồng bộ và khó có thê tôn tại phát triển được.

Do đó, thay vì quy định “trợ giúp” là quyền, các nhà làm luật nên quy định nó là nghĩa vụ của bên nhượng quyên, theo đó Khoản 2 Điều 284 sẽ có nội dung là “bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và nghĩa vụ trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành công việc kinh doanh”.

Theo pháp luật Việt Nam, cung cấp thông tin là một trong những nghĩa vụ quan trọng của bên nhượng quyên trong suốt quá trình kinh doanh, vẫn đề này được pháp luật quy định rất chặt chẽ. Tuy nhiên đối với bên nhận quyên, quy định của pháp luật lại có

phân lỏng lẻo, theo quy định tại Điều 9 NÐ35/2006/NĐ-CP “bên dự kiến nhận quyền phải

cung cấp thông tin cho bên nhượng quyền mà bên nhượng quyên yêu cầu một cách hợp lý để quyết định trao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền”, như vậy nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên nhận quyên chỉ tồn tại trước khi kí kết hợp đồng. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng bên nhận quyền không cung cấp các thông tin về hoạt động kinh doanh của mình thì bên nhượng quyền khó có thể kiểm soát được công việc kinh doanh của bên nhận quyên. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền “kiêm soát” của bên nhượng quyền được quy định tại khoản 2 Điều 284 và khoản 3 Điều 286. Vì vậy, nên

bố sung vào Điều 9 NÐ35/2006/NĐ-CP trách nhiệm cung cấp thông tin của bên nhận

quyền là trong cả quá trình kinh doanh chứ không chỉ ở giai đoạn trước khi kí kết hợp đồng. Tuy nhiên bên nhận quyên cân lưu ý đến quy định “cung cấp các thông tin hợp lý”

để xác định các thông tin phải cung cấp là thông tin nào, tránh sự lạm dụng quyên của bên nhượng quyên ảnh hưởng đến quyền tự do trong kinh doanh của mình.

Mặc dù pháp luật có quy định về quyền kiểm soát của bên nhượng quyên đối với việc điều hành công việc kinh doanh của bên nhận quyền nhưng các quy định rất chung chung, không chỉ ra cụ thể bên nhượng quyền được kiêm soát như thế nào, trong lĩnh vực

gì. Như thế dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền của bên nhượng quyền, xâm phạm đến quyền tự chủ trong kinh doanh của bên nhận quyên. Vì vậy để bảo vệ quyên lợi của bên nhận quyền pháp luật cần quy định một cách chặt chẽ hơn về giới hạn quyền kiêm soát của bên nhượng quyên (như việc quy định bên nhượng quyên không được ấn định doanh thu của bên nhận quyên, không được trực tiếp can thiệp vào công việc kinh doanh hàng ngày của bên nhận...), như thế mới đảm bảo quyên tự do, tự chủ trong kinh doanh của thương nhân nhận quyền

3.2.3.3 Một số vấn đề khác liên quan đến hợp đông nhượng quyên thương mại

Một là về thời hạn hợp động: Điều 13 NÐ35/2006/NĐ-CP quy định thời hạn hợp

đồng NQTM do các bên thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn dé nay rất khó thoả thuận

bởi bên nhận quyên luôn muốn kéo dài thời hạn hợp đồng để thu hồi vốn và lãi, ngược lại

bên nhượng quyền muốn yêu cầu hợp đồng NQTM thực hiện trong thời gian ngắn để có

thê bố sung thêm các điều kiện khắt khe đối với bên nhận quyên để thu lợi nếu bên nhận

quyền vẫn muốn tiếp tục mua “ quyên thương mại “ của mình. Với thực tế pháp luật VN hiện nay là không quy định thời hạn tối thiêu của hợp đồng NQTM thì lợi thế càng về bên nhượng quyên, mặt khác quy định như vậy cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế. Bởi vậy, trong điều khoản này nên bố sung thêm quy định về thời hạn tối thiêu của hợp đồng NQTM, như thế mới bảo vệ quyên lợi cho bên nhận quyền và phù hợp với thông lệ quốc

té.

Hai là về chấm dứt hợp đồng: Đây là một vẫn đề rất quan trọng trong hợp đồng NQTM vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các bên trong hợp đồng và các chủ thê liên quan khác, do đó việc chấm dứt hợp đồng không thê thực hiện tuỳ tiện mà phải nằm trong khuôn khô pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định những trường hợp các bên có quyền đơn phương châm dứt hợp đồng trong Điều 16 NÐ35/2006/NĐ-CP, theo đó tại khoản 1 xác định bên nhận quyên sẽ có quyền châm dứt hợp đồng nếu bên nhượng quyên vi phạm các nghĩa vụ quy định tại Điều 287 Luật thương mại, nghĩa là bên nhận quyền Sẽ CÓ quyên cham dứt hợp đồng khi có một vi phạm nghĩa vụ của bên nhượng quyền mà không cần biết mức độ vi phạm đó như thế nảo. Quy định như vậy là bất bình đăng cho bên nhượng quyên, vì vậy trong trường hợp này pháp luật nên quy định rõ mức độ vi phạm

nghĩa vụ của bên nhượng quyền mà căn cứ vào đó bên nhận quyền mới có quyền đơn phương cham dứt hợp đồng để tránh tình trạng lạm quyền của bên nhận quyên

Hậu quả pháp lý của việc châm dứt hợp đồng là các bên hoàn trả cho nhau những tài sản thuộc sở hữu của bên kia. Hợp đồng NQTM la loai hop dong đặc biệt với đối tượng là tài sản vô hình. Bởi vậy, sau khi hợp đồng châm dứt (đặc biệt trong trường hợp một bên đơn phương chấm dứt) rất dễ nảy sinh tranh chấp giữa các bên nếu việc giải quyết hậu quả không thoả đáng. Thoá thuận trong hợp đồng hay quy định của pháp luật về vấn đề này chính là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh nếu có, tuy nhiên pháp luật Việt Nam lại chưa có các quy phạm điều chỉnh, đây là một thiếu sót rất lớn của pháp luật về hợp đồng NQTM. Để giải quyết vấn đề này cần có các quy định của pháp luật về cách thức giải quyết hậu quả hợp đồng sau khi chấm dứt, mặc dù pháp luật không thể bao quát hết các trường hợp chấm dứt hợp đồng nhưng đó cũng là những quy định mang tính định hướng cho các bên trong việc giải quyết hậu quả hợp đồng sau khi chấm dứt và cũng là căn cứ giải quyết tranh chấp phát sinh.

Ba là về vấn đề đăng kí hoạt động NOTM:

Về việc xác định thấm quyên đăng kí hoạt động nhượng quyên thương mại, tại Điều 18 NĐ35/2006/NĐ-CP và Thông tư 09 quy định sở thương mại có trách nhiệm đăng kí hoạt động NQTM trong nước, còn hoạt động NQTM từ Việt Nam ra nước ngoài (bao gôm cả hoạt động nhượng quyên từkhu chế xuất, khu phi thuế quan, hoặc các khu vực hải quan riêng ra nước ngoài) và ngược lại thuộc thâm quyền của Bộ thương mại, nhưng lại không hề có quy định nào về việc xác định cơ quan có thâm quyên trong việc đăng kí hoạt động từ nước ngoài vào các khu chế xuât, khu phi thuế quan, các khu vực hải quan riêng và ngược lại khiến các doanh nghiệp dự kiến nhượng quyền không biết phải đăng kí với cơ quan nào để tiễn hành hoạt động. Vì vậy, nên quy định thêm vào Ð18 thâm quyền cua bộ thương mại trong việc đăng kí hoạt động NOTM trong những trường hợp trên vi bộ thương mại là cơ quan quản lí cao nhất về các hoạt động thương mại. Việc bố sung quy định về thâm quyên sẽ giúp Bộ Thương mại quản lý hoạt động NQTM của Việt Nam

tốt hơn, chặt chế hơn.

Bốn là về vấn đê công bố thông tin trong hoạt động NOTM: Theo quy định tại X

phần BỶ phụ lục III ban hành kèm theo TT09 thì bên nhượng quyền cần bố các thông tin

về hệ thống NQTM cho cơ quan đăng kí như số lượng cơ sở kinh doanh của bên nhượng quyền đang hoạt động hoặc đã ngừng kinh doanh, các hợp đồng nhượng quyên đã kí với các bên nhận quyên, số lượng các hợp đồng nhượng quyền đã được chuyền giao cho bên thứ ba; ... Việc quy định như vậy dường như đã can thiệp hơi sâu vào bí mật kinh doanh, làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên nhượng quyên. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho bên nhượng quyên, pháp luật nên hạn chế bớt yêu cầu cung cấp thông tin có thê ảnh hưởng đến bí mật kinh doanh của bên nhượng quyên.

Năm là vấn để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng NOTM: NQTM tuy là mô hình kinh doanh có nhiều ưu điểm nhưng nó cũng tiềm ấn nhiều mâu thuẫn có thê nảy

sinh tranh chấp giữa các bên. Nếu trong hợp đồng, các bên thoả thuận cụ thê chỉ tiết điều

khoản về giải quyết tranh chấp thì không có gì đáng bàn. Nhưng trên thực tế nhiều hợp đồng NQTM không hề có điều khoản nào quy định vẫn đề này, khi đó căn cứ giải quyết tranh chấp giữa các bên chính là các quy định của pháp luật. Vậy mà luật thương mại 2005 và NÐ35/2006/NĐ-CP lại không có quy định nào đề cập đến vẫn đề giải quyết tranh chấp trong hợp đồng NQTM (có chăng chỉ là việc áp dụng các chế tài trong giải quyết tranh chấp thương mại được quy định trong ba điều 317, 318 và 319 của luật thương mại).

Vì thế các nhà làm luật cần bố sung vào NĐ35/2006/NĐ-CP các điều khoản quy định vẫn

đề này để giúp việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và hiệu quả, bảo vệ quyên lợi cho các bên trong hợp đồng.

Về vấn đề thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng NOTM: Trong hợp đồng NQTM bao giờ cũng có các điều kiên về hạn chế cạnh tranh giữa bên giao và bên nhận, những điều kiện về hạn chế cạnh tranh này có thê nói là hết sức nhạy cảm với pháp luật về cạnh tranh của quốc gia cũng như quốc tế, vì vậy hai bên phải hết sức cần thận khi đưa điều kiện này vào hợp đồng vì nếu một điều kiện nào đó trái với pháp luật về cạnh tranh thì hợp đồng coi như vô hiệu. Dưới góc độ pháp lý những điều kiện hạn chế cạnh tranh được coi là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM, tuy nhiên luật Thương mại 2005 không có một quy định nào điều chỉnh về vẫn đề này. Đây cũng là một trong những điểm bất cập, thiếu sót mà các nhà làm luật Việt Nam cân khắc phục trong việc xây dựng hệ

thống pháp luật về NQTM ở Việt Nam.

Một phần của tài liệu khóa luận tốt nghiệp một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở việt nam (Trang 69 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)