CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC GIÁ TRỊ
3.2. Giải pháp đề xuất
Xuất phát từ những thế mạnh và hạn chế nêu trên, việc đề ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy thế mạnh và khắc phục những hạn chế còn tồn tại tại khu chùa Bái Đính là việc hết sức cần thiết.
Việc đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt đối với du lịch lễ hội. Khu tâm linh chùa Bái Đính nằm áp kề khu di tích Cố đô Hoa Lư và khu di lịch sinh thái Tràng An, gần khu nước khoáng dưỡng sinh Kênh Gà, khu ngập nước Vân Long, rừng Cúc Phương nguyên sinh và hầu hết các di tích danh thắng cả vùng: Đền Tư, Đền Phú Vinh, lăng thờ duyên Khang Công chúa và Trưởng Quốc công chúa, Đền Mẫu bà chúa hang Tiền, hồ Đàm Thị, động Long Ẩn…là khu phụ cận nằm gần khu chùa Bái Đính thuận lợi cho việc tham quan du lịch liên hoàn.
Ngoài ra còn có thể kết hợp với các điểm du lịch ngoài tỉnh như: bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa), vịnh Hạ Long, Tuần Châu, Vân Đồn (Quảng Ninh), bãi biển Quất Lâm, đền Trần (Nam Định), bãi biển Đồ Sơn (Hải Phòng) hay kết hợp tour với các công ty du lịch của Hà Nội.
Đối với dịch vụ thuyết minh viên tại điểm, cần đặc biệt quan tâm vì đây chính là lực lượng đầu tiên cũng là trực tiếp tiếp xúc với du khách, là người mang thông tin về điểm đến cho du khách. Do vậy, việc đào tạo năng lực chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ tiên quyết của dịch vụ này, để nâng cao chất lượng thuyết minh tại điểm của thuyết minh viên, nên tổ chức các câu lạc bộ kỹ năng giao tiếp, kỹ năng dẫn điểm dành cho thuyết minh viên tại đây, và những người có thị hiếu về mục đích hoạt động của câu lạc bộ này. Thông qua câu lạc bộ lực lượng hướng dẫn viên, thuyết minh viên, ban quản lý khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính có thể trao đổi kinh nghiệm, thông tin, kỹ năng của mình…để hoàn thiện kỹ năng dẫn điểm, giới thiệu khu du lịch tâm linh này tới du khách.
Việc vận chuyển xe điện vào những ngày lễ tết cuối tuần, nên căng cường lực lượng bán vé giảm thiểu tình trạng du khách xô lấn nhau để mua vé, cần có sự điều chỉnh giá với các đối tượng, đặc biệt là đối tượng học sinh do phần lớn đối tượng này chưa có khả năng chi trả về kinh tế.
Đối với dịch vụ quà lưu niệm, cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý thị trường để quản lý các dịch vụ bán hàng ở đây, phải quy hoạch các gian bán hàng, phân loại hàng hóa và có niêm yết công khai giá sản phẩm, không để tình trạng bán hàng rong, chèo kéo khách. Từ đó xây dựng môi trường văn minh thương nghiệp trong hoạt động dịch vụ, buôn bán. Giữ gìn vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng chống bệnh dịch.
Đối với dịch vụ chụp ảnh, trước hết cần phải chấn chỉnh đội ngũ nhiếp ảnh về trang phục, cần quy định về giấy phép hành nghề, nghiêm cấm việc chèo kéo khách để tạo môi trường lành mạnh trong hoạt động du lịch. Thay vì hiện tượng chèo kéo du khách tham quan chụp ảnh, ban quản lý có thể tăng cường đầu tư thêm về cơ sở
trang thiết bị phục vụ cho việc lưu giữ những hình ảnh tham quan của du khách.
Chẳng hạn chia đều lực lượng thợ ảnh ở từng chốt điểm từ cổng chính vào khu du lịch cho tới các địa điểm trong khu du lịch, khi du khách tới tham quan thợ ảnh ghi lại khoảnh khắc tham quan của du khách một cách tự nhiên, sau đó chuyển hết số ảnh chụp được tới phòng quản lý riêng về “Dịch vụ ảnh lưu niệm” của khu du lịch, số ảnh đó sẽ được tổng hợp và công khai trên máy tính điện tử màn ảnh rộng được đặt ở các cửa ra/vào xoát vé xe điện, nơi bán vé và nơi liên hệ thuyết minh viên…
Ảnh của đoàn khách sẽ được hiển thị trên màn hình, ghi rõ tên trưởng đoàn để du khách tiện theo dõi, tìm kiếm ảnh lưu niệm. Đoàn khách nếu thực sự ưng ý về những bức hình của mình trên màn hình có thể liên hệ trực tiếp với phòng Dịch vụ ảnh lưu niệm và trả phí cho bức ảnh đó.
Để làm được điều đó, ban quản lý phải kiểm soát được số lượng khách theo đoàn (nên nắm được số lượng, tên trưởng đoàn), khách phát sinh…và giới thiệu trước cơ chế chụp ảnh lưu niệm tại chùa Bái Đính để khi du khách ra về tiện quan sát hình ảnh. Tổ chức riêng một bộ phận chuyên quản lý về Dịch vụ ảnh lưu niệm, chi trả thu nhập bình quân theo tháng cho bộ phận nhiếp ảnh viên.
Để kiểm soát tình trạng đặt tiền, giắt tiền, sờ tay vào các tượng phật trong chùa là việc không dễ dàng, mỗi cá nhân khi đến tham quan cần có những hiểu biết và hành động đúng chuẩn mực sao cho phù hợp với không gian, ngữ cảnh, sống văn minh. Phía ban quản lý cũng cần đưa ra những quy định, nội dung rõ ràng qua bảng quy định “Ứng xử văn minh” ngay từ khi du khách đặt chân vào khuôn viên chùa tham quan.
Ngăn chặn kịp thời hành động “cơ hội” của những đối tượng lừa đảo: xem tướng số, tài lộc vận chủ để hoạt động tham quan tâm linh được diễn ra đúng nghĩa vốn có của nó.
Có thể nói, lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội truyền thống gắn với lịch sử văn hóa tâm linh của con người nơi đây. Nhờ hoạt động du lịch mà khu tâm linh chùa Bái Đính có những bước phát triển vượt bậc về nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội.
Với cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch và đội ngũ lao động nhiệt huyết, thân thiện với du khách đã mang tới sự hài lòng của du khách khi tới chùa Bái Đính nói chung và lễ hội nói riêng. Tuy nhiên, hoạt động du lịch phát triển với tốc độ nhanh, sự thương mại hóa đã làm ảnh hưởng tới nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề tâm linh, đòi hỏi cần phải có sự quản lý đồng bộ trước hết là về công tác quản lý tại khu du lịch bằng việc nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý.
KẾT LUẬN
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá đã trở thành phong tục tập quán của các dân tộc Việt Nam, là nhu cầu lớn và không thể thiếu trong đời sống văn hoá hiện nay của nhân dân. Hoạt động lễ hội đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho nhân dân và nâng cao đời sống văn hoá ở cơ sở. Lễ hội truyền thống là một sản phẩm văn hoá tinh thần không thể thiếu trong đời sống mỗi dân tộc, nó đang ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng của mình trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế địa phương.
Chùa Bái Đính cổ là nơi tập trung và là đỉnh cao của hoạt động diễn xướng lễ bái tâm linh từ ngàn xưa. Nay chùa Bái Đính mới được xây dựng, càng làm cho Bái Đính cổ tưng bừng và phong phú thêm các diễn xướng lễ hội trên dải đất “long chầu lân phục” này. Với ưu thế của một quần thể chùa lớn gồm cả quá khứ và hiện tại, lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội lớn ở miền Bắc và là một lễ hội truyền thống điển hình của người Việt Nam. Ngôi chùa được biết đến không chỉ ở vẻ đẹp mà tạo hóa ban tặng mà còn là từ đôi bàn tay của con người nơi đây nhân dân địa phương đã làm nên lễ hội của riêng họ với sự kết hợp tổng hòa của nhiều tín ngưỡng tôn giáo trong nhân dân như tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, sùng Phật, sùng Nho, sùng Đạo.
Hiện nay, được sự quan tâm của các cấp, ban ngành của tỉnh và phía doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường mà lễ hội được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo khách thập phương tới đây dâng hương lễ bái, góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế văn hóa xã hội cho địa phương. Tuy nhiên, hoạt động du lịch phát triển với tốc độ nhanh cũng dẫn đến các hệ lụy. Thêm vào đó tính chất thương mại lễ hội làm ảnh hưởng tới nhiều mặt đặc biệt là vấn đề tâm linh. Nhiều hiện tượng vẫn tồn tại như chèo kéo khách, đánh bạc, bán hàng rong…, làm mất đi nhiều tính thiêng của lễ hội.
Để tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn du lịch lễ hội chùa Bái Đính nói riêng và du lịch Ninh Bình nói chung, cần đưa ra những giải pháp thiết thực phục vụ cho phát triển toàn diện tại khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về quy hoạch, các giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch, các giải pháp về chính sách, xúc tiến và quảng bá để cho du lịch chùa Bái Đính xứng tầm là Trung tâm Phật giáo của cả nước.
Trên đây là kết quả trong quá trình nghiên cứu đã rút ra được. Hy vọng trong tương lai sắp tới sẽ tiếp tục có cơ hội nghiên cứu tiếp để tiếp tục giải quyết những vấn đề mà khóa luận do hạn chế về thời gian chưa quan tâm được hoàn thiện và thấu đáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Doãn Đàm (2013), Bái Đính Hang động Tràng An và huyền thoại, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
2. Đỗ Danh Gia (2010), Văn hoá dân gian Hoa Lư và các vùng phụ cận: sưu tầm và giới thiệu một số nét tiêu biểu về lễ hội, văn hoá dân gian, ẩm thực, Nxb Thời đại, Hà Nội.
3. Đỗ Danh Gia (2011), Một số lễ hội điển hình ở Ninh Bình, Nxb Lao động, Hà Nội.
4. Thuận Hải (2007),Bản sắc văn hóa Lễ hội, Nxb Giao thông Vận tải.
5. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội - Một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng,Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
6. Vũ Ngọc Khánh (2006), Đạo thờ Thánh ở Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
7. Thu Linh, Đăng Văn Lung (1984),Lễ hội truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hoá, Hà Nội.
8. Phan Ngọc (2006), Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.
9. Thích Thanh Duệ Tuệ Nhã (2002),Tập tục và nghi lễ dâng hương, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
10. Dương Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trọng sự phát triển du lịch, trường Đại học Văn hóa, Hà Nội.
11. Hà Văn Tấn (1992),Chùa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
12. Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (chủ biên) (2005), Folklore - một số thuật ngữ đương đạị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
13. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.