1. Trang chủ
  2. » Tất cả

SKKN 18-19

25 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về cơ bản 2 bộ sách như tài liệu thamkhảo với một khung sườn gợi ý chung, hầu như không phân chia lượng kiến thứccụ thể ở “mỗi tiết” trong mỗi một chủ đề vì đó là nhiệm vụ của giáo viên

Trang 1

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Dạy học là một nghệ thuật nhưng dạy nghệ thuật lại càng phải nghệ thuật hơn.Khi dạy học người giáo viên phải có vai trò dẫn dắt khéo léo để biến quá trình dạyhọc thành quá trình tự học, tự khám phá và xây dựng kiến thức cho mỗi họcsinh Để làm tốt điều đó người giáo viên cần phải dốc hết nhiệt huyết, nghiên cứu,tìm tòi, sáng tạo, linh hoạt trong việc nắm bắt trau dồi kiến thức, nắm vững phươngpháp giảng dạy theo yêu cầu của đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cựcđộc lập suy nghĩ, sáng tạo của học sinh thông qua việc học sinh chủ động tham giavào các hoạt động học tập để lĩnh hội kiến thức, biến học sinh thành một chủ thểtích cực, chủ động nắm bắt kiến thức một cách tự nhiên, không gò bó

Với việc áp dụng phương pháp của dự án Đan Mạch vào chương trình mĩ thuậthiện hành thì việc phát huy tính độc lập của người học càng cao bởi dự án đãchứng tỏ tính ưu việt và sự phù hợp với nhu cầu đổi mới về phương pháp dạy –học mĩ thuật tiểu học ở Việt Nam Dự án sau 5 năm thử nghiệm đã mang lại nhiềukết quả mong đợi và được nhân rộng trên toàn quốc

Năm học 2018 – 2019 được sự chỉ đạo của các cấp về việc tiếp tục triển khaidạy phương pháp của dự án Đan Mạch vào chương trình hiện hành, phòng giáodục đào tạo quận Bình Tân đã tổ chức các chương trình tập huấn, dạy chuyên đề,thao giảng trên toàn quận, kết quả gặt hái nhiều thành công song cũng có nhữnghạn chế nhiều giáo viên vẫn chưa hiểu đúng tinh thần phương pháp, quá máy mócvới từng bước của quy trình mĩ thuật mới Thực ra vận dụng 7 quy trình của

phương pháp Đan Mạch vào chương trình hiện hành nhằm mục đích “truyền cảm

hứng sáng tạo” để giúp các GVMT có thể vận dụng linh hoạt “Cái mới” vào thực

tiễn một cách có hiệu quả Phương pháp mới ở đây có thể là mới về hình thức,phương pháp, vật liệu, cách tạo hình,…nên mỗi giáo viên tùy theo điều kiện thực

tế mà lựa chọn áp dụng cho phù hợp

Trang 2

Hiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh đang áp dụng 2 bộ sách: Dạy và Học Mĩ thuậttheo định hướng phát triển năng lực và Luyện tập Mĩ thuật (theo chủ đề dựa trêncác bài học của chương trình Mĩ thuật cũ) Về cơ bản 2 bộ sách như tài liệu thamkhảo với một khung sườn gợi ý chung, hầu như không phân chia lượng kiến thức

cụ thể ở “mỗi tiết” trong mỗi một chủ đề vì đó là nhiệm vụ của giáo viên ngườitrực tiếp nghiên cứu giảng dạy, người hiểu nhất năng lực, kĩ năng, vật liệu, quytrình,…phải sử dụng để phân chia phù hợp với học sinh mình và với thiết kế cụ thể

về kênh hình, kênh chữ nên bộ sách khá phù hợp cho giáo viên trong quá trình ápdụng Kết quả đã gặt hái nhiều thành công như GVMT đã tự chủ, vận dụng khálinh hoạt sáng tạo trong việc kết hợp 2 bộ sách soạn – giảng phân chia tiết theo cácchủ đề, nhiều giáo viên rất tâm huyết, đã tìm ra các hình thức tổ chức dạy học vàgiải pháp về đồ dùng, vật liệu tạo hình tích cực, xây dựng không ít những chươngtrình hoạt động, những câu lạc bộ, những sân chơi bổ ích phù hợp với năng khiếu

và sở trường của học sinh, nhằm giúp các em giảm bớt áp lực học tập, đem lạiniềm vui hứng thú thực thụ để không ngừng nâng cao chất lượng dạy học bên cạnh

đó cũng có nhiều giáo viên chưa nhiệt tình, luôn thấy khó khăn nhiều khi thựchiện Đặc biệt việc phân chia lượng kiến thức trong mỗi tiết qua mỗi chủ đề cònlúng túng, chưa hợp lí, rập khuôn, ngại đổi mới, không chịu khó tìm tòi nghiên cứuhọc hỏichưa linh hoạt chọn và kết hợp các quy trình để phù hợp với đối tượng họcvới nguồn cơ sở vật chất, chưa tạo được động lực học tập trong các em

Cái mới sẽ kéo theo nhiều khó khăn, việc thay đổi không thể diễn ra một sớm,một chiều nhưng tôi thiết nghĩ chúng ta hãy cố gắng thay vì thấy khó khăn, cácgiáo viên hãy tập trung tìm các giải pháp để khắc phục nó, chắc chắn chúng ta sẽthành công Để giúp giáo viên tự tin hơn trong việc linh hoạt lựa chọn lượng kiếnthức phù hợp trong mỗi tiết dạy tôi xin mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm sau 2năm áp dụng nghiêm túc của mình qua một số chủ đề cụ thể, nó sẽ hỗ trợ, tháo gỡ

được phần nào khó khăn phần lớn giáo viên mắc phải với sáng kiến: “Kinh nghiệm linh hoạt phân chia lượng kiến thức trong mỗi tiết theo chủ đề Mĩ

Trang 3

( Dựa trên 2 loại sách giáo khoa: Dạy và học mĩ thuật, Luyện tập mĩ thuật đang được áp dụng tại TP.HCM)

2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 27/8/2018 – 31/5/2019

3 Đối tượng nghiên cứu

- Chương trình dạy học Mĩ thuật ở bậc Tiểu học

Trang 4

- Các bậc phụ huynh quan tâm, phối hợp nên đã tạo được nguồn quỹ về đồ dùng

và hỗ trợ tìm vật liệu phục vụ cho việc học tập của con em

- Giáo viên được linh hoạt, chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp, hìnhthức dạy và học

- Vật liệu tạo sản phẩm hầu như tận dụng được từ cuộc sống thường nhật nên

đỡ tốn kém mặt khác còn góp phần giữ gìn bảo vệ môi trường

- Sản phẩm tạo ra cũng tận dụng trang trí cho trường, cho lớp nên các em họcsinh rất đỗi tự hào khi thấy sản phẩm được trân trọng

- Học sinh được làm quen, trải nghiệm nhiều vật liệu, đồ dùng để các năng lực,

kĩ năng ngày càng khéo léo, kích thích phát huy được trí thông minh

- Học sinh yêu thích môn học

Trang 5

Về phía học sinh:

- Học sinh chưa bắt nhịp hoàn toàn với sự thay đổi

- Kĩ năng sử dụng vật liệu, đồ dùng, tạo sản phẩm của học sinh còn hạn chế

- Việc sưu tầm vật liệu tìm được chưa được phong phú

- Do thực hiện theo phương pháp không thường xuyên liên tục nên việchọc sinh vận dụng các quy trình trong một tiết học chưa hiệu quả

- Nhiều sản phẩm của các em chất lượng chưa cao, chưa thể hiện được sựsáng tạo

Về phía giáo viên

Năm học này so với năm học 2017 – 2018 thì thấy được sự chuyển biến rõ rệt

đa số giáo viên đã nắm bắt được tinh thần của phương pháp mới, cũng tích cựctrong việc trau dồi chuyên môn, chú trọng các kĩ năng, năng lực của học sinh kếtquả nhiều sản phẩm sáng tạo, đa dạng được tạo ra từ sự hứng thú, chủ động học tậpcủa các em học sinh Bên cạnh đó đến thời điểm này vẫn còn nhiều giáo viên chưabiết lựa chọn phân chia lượng kiến thức cho mỗi tiết dạy qua mỗi một chủ đề hayphân chia hoạt động trong mỗi tiết còn nhiều lúng túng, sơ sài, qua loa, chưa linhhọat dựa trên những hiểu biết, kĩ năng, khả năng, vật liệu sẵn có, để vận dụngsáng tạo trong tiết dạy, cụ thể:

- Có những chủ đề, lượng tiết và lượng mục tiêu giống nhau thì có giáo viênchia số tiết trong chủ đề như sau:

Tiết 1: Hoàn thành mục tiêu 1

Tiết 2: Hoàn thành mục tiêu 2 Tiết 3: Hoàn thành mục tiêu 3Hoặc: Tiết 1: Tìm hiểu và hướng dẫn cách thực hiện

Tiết 2: Thực hành

Trang 6

- Giáo viên còn nhầm lẫn kiến thức giữa các tiết với nhau, không biết cách chiakiến thức trong mỗi tiết như thế nào do chưa hiểu hết bản chất của phương phápmới.

- Giáo viên còn máy móc rập khuôn theo sách từ câu hỏi, đến quy trình trongkhi sách chỉ là phần tham khảo để giáo viên lựa chọn mục tiêu, quy trình thế nàocho phù hợp với học sinh của trường mình

Một số câu hỏi rải rác ở các chủ đề hay hình ảnh minh họa sách đưa ra giáoviên xem đã phù hợp với học sinh mình chưa hay phải thay đổi như thế nào chophù hợp Bản thân tôi nhận thấy về cơ bản sách mới xuất bản lần đầu nên nhiềuchỗ chưa hợp lí, hình ảnh một số chỗ không rõ ràng, câu hỏi khó hiểu đối với trò vìkhả năng tiếp thu của trò mỗi nơi đều có đặc điểm riêng nên các giáo viên trongquá trình nghiên cứu soạn giảng cũng phải để ý thay đổi hợp lí để tiết dạy linh hoạthơn

Một bộ phận giáo viên chưa mạnh dạn thay đổi quy trình, hình thức thể hiện sảnphẩm, vì cứ sợ khác tiến trình trong sách và luôn chọn cách dạy an toàn khỏingười khác bắt bẻ…

- Chưa biết cách thay đổi mục tiêu chung của chủ đề thành mục tiêu riêng phùhợp với đối tượng học theo từng lớp

- Nhiều giáo viên khi thực hiện chủ đề chưa chú ý đến việc rèn kĩ năng sử dụng

đồ dùng, vật liệu tìm được cho học sinh dẫn đến học sinh thao tác tạo sản phẩmkhông hiệu quả

Qua thực tế nghiên cứu giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp cho thấy một bộphận giáo viên do chưa hiểu hết, chưa thực sự đầu tư thích đáng nên việc soạn –giảng, phân chia tiết theo chủ đề còn bối rối, gây nhiều tranh cãi, chưa đi đến thốngnhất, chưa chịu khó nghiên cứu học hỏi nên đưa ra những đánh giá lệch lạc về tiếntrình của người khác Chính vì những lí do trên tôi đã tìm ra nguyên nhân chonhững hạn chế đó

Trang 7

- Thiếu nhiệt tình, thiếu tâm huyết trong việc giới thiệu và hướng dẫn học sinh

sử dụng các vật liệu, đồ dùng, còn đối với những trường khó khăn về đồ dùng giáoviên cũng chưa đưa ra các biện pháp để huy động…

- Một số giáo viên không soạn bài, rập khuôn theo sách Dạy và học mĩ thuật vìnhìn vào sách được thiết kế dạng VNEN nhưng phân tích kĩ nhiều chỗ phải thayđổi mới phù hợp với đối tượng học, vùng miền

- Nhiều giáo viên khác soạn nhưng lại đi coppy các bài soạn trên các trangmạng hoặc của người khác, một số giáo viên tham khảo sửa đổi phù hợp còn lại

sửa qua sử dụng mà không để ý tới nội dung, tiến trình đó đã phù hợp với học sinh

mình chưa

b Về phụ huynh:

- Một bộ phận không nhỏ phụ huynh nhận thức chưa đầy đủ, quan niệm sai lệch

về mục tiêu giáo dục môn Mĩ thuật trong trường tiểu học, còn coi nhẹ môn học nênchưa quan tâm, đầu tư đúng mức

Trang 8

- Chuẩn bị đồ dùng trước giờ học môn Mĩ thuật chưa đầy đủ.

- Học sinh ở lứa tuổi tiểu học với tâm lý hiếu động, dễ thích nghi, mau nhớnhưng cũng mau quên, có lúc còn chán học

- Chỉ đạo và thực hiện hoạt động nhóm chưa tốt như một số học sinh lười rèn kĩnăng sử dụng đồ dùng, vật liệu hay ỉ lại cho các bạn trong nhóm, chỉ chọn chomình những việc dễ làm, an toàn,…

- Học sinh không có cơ hội sử dụng nhiều vật liệu tìm được trong các chủ đề

có những giờ học mĩ thuật bổ ích và lí thú

3 Các giải pháp thực hiện

3.1 Giải pháp 1: Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung dạy học theo chủ đề

Với dạy học theo chủ đề mĩ thuật thì mục tiêu thường xuyên có sự điều chỉnh

để phù hợp vùng, miền, cơ sở vật chất, đối tượng học,…nên các giáo viên cầnnghiên cứu kĩ để thực hiện đảm bảo

Như chúng ta đã biết mục tiêu là nền tảng cho quá trình giảng dạy và học tập,mục tiêu còn đóng vai trò như một động lực Dựa vào mục tiêu, việc đánh giá kếtquả học tập được xác định và thực hiện và khi đề ra mục tiêu bài học, giáo viênphải hình dung rõ là sau mỗi chủ đề học sinh có được những kiến thức, kĩ năng,thái độ ở mức nào chứ không phải tập trung vào những điều giáo viên phải đạt

Trang 9

được sau khi dạy nên đòi hỏi mỗi giáo viên phải nghiên cứu kĩ mục tiêu thì mớilinh hoạt lựa chọn được các phương pháp, quy trình, kĩ thuật dạy học phù hợp.Còn nội dung dạy học là kiến thức và mức độ cần học do đó cũng cần nghiêncứu kĩ để việc khai thác nội dung chủ đề đạt hiệu quả cao phù hợp khả năng, nănglực, kĩ năng, đối tượng học, và muốn khai thác tốt nội dung chủ đề, giáo viên cần:

- Vận dụng linh hoạt các quy trình, tiến trình dạy học dựa trên những tài liệu cósẵn, thực tế dạy và học để điều chỉnh, khai thác nội dung phù hợp

- Chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học, vật liệu, mô hình sản phẩm nhằm làm sáng tỏnội dung qua đó tổ chức các hoạt động cho học sinh, chủ động tìm và nắm vững kiến thức

- Dựa vào những kinh nghiệm, hiểu biết sẵn có của học sinh để việc khai thácđạt hiệu quả hơn

Nội dung dạy học theo chủ đề phải gắn và toát lên được mục tiêu nên mỗi giáoviên cần đầu tư thích đáng, kĩ lưỡng để điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với đối tượnghọc nhằm mang lại hiệu quả trong giảng dạy

Ví dụ: “Chủ đề : Vẽ theo mẫu- Thời lượng 4 tiết - Lớp 4”

Kết hợp sách Dạy – học mĩ thuật và Luyện tập mĩ thuật sử dụng quy trình vẽbiểu cảm kết hợp vẽ quan sát nên xây dựng chủ đề này có 3 mục tiêu:

- Nhận biết được tranh tĩnh vật vẽ theo quan sát và tranh tĩnh vật biểu cảm

- Vẽ được bức tranh tĩnh vật theo quan sát và biểu cảm theo ý thích

- Giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn.Với mục tiêu trên, phần nội dung thiết kế đã toát lên được mục tiêu nhưng

nghiên cứu kĩ thấy chỗ mục tiêu 1 “Nhận biết được tranh tĩnh vật vẽ theo quan sát

và tranh tĩnh vật biểu cảm” Sách đưa hình minh họa là tranh tĩnh vật được tạo

hình từ vật liệu khác chứ không phải tranh tĩnh vật vẽ theo quan sát hay biểu cảm

Trang 10

Với bài này nếu theo tiến trình đó giáo viên có thể thay đổi hình ảnh hợp lí Nếumục tiêu chỉ là “ Nhận biết được tranh tĩnh vật” thì có thể sử dụng hình ảnh đó Bản thân tôi dựa vào khả năng, năng lực, kĩ năng của học sinh mình về thể hiệnchủ đề “Vẽ theo mẫu” đối với lớp 4, 5 (4 tiết), tôi sẽ sử dụng quy trình tạo hình từvật tìm được kết hợp vẽ quan sát và điều chỉnh mục tiêu phù hợp với điều kiện dạyhọc thực tế của học sinh mình như sau:

- Nắm được đặc điểm của tĩnh vật (Mẫu)

- Tạo hình được bức tĩnh vật từ các vật liệu theo cảm nhận và ý thích

- Giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của nhóm mình,nhóm bạn

Hoặc sử dụng quy trình vẽ cùng nhau thì khi đó mục tiêu lại điều chỉnh phù hợptheo, cụ thể:

- Nhận biết được tranh tĩnh vật

- Biết cách và tạo được ngân hàng mẫu theo ý thích

- Kết hợp được các sản phẩm cá nhân tạo thành sản phẩm nhóm theo cảm nhận

Khi giáo viên nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung chủ đề thì mỗi tiết học sẽ trởnên chủ động, sáng tạo và linh hoạt kéo theo đó là sự hào hứng, thích thú học tậpcủa trò và sản phẩm tạo ra sẽ hơn mong đợi

3.2 Giải pháp 2: Linh hoạt lựa chọn phân chia tiết theo chủ đề

Trang 11

Không chỉ nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung chủ đề mà chúng ta cần linh hoạttrong việc phân chia lượng kiến thức phù hợp cho mỗi tiết qua mỗi chủ đề

Chủ đề có nhiều cách để làm sáng tỏ mục tiêu, nội dung có thể dựa vào:

- Cách vận dụng lựa chọn quy trình, phương pháp, hình thức, vật liệu,

- Khả năng, năng lực của học sinh, điều kiện dạy – học theo vùng miền

- Kĩ năng sử dụng đồ dùng, vật liệu

- Sự sáng tạo, năng động

Dù giáo viên thiết kế chủ đề theo quy trình, hình thức, nào dựa vào đâu, thìcũng phải:

- Đạt được mục đích cốt lõi của chủ đề

- Lựa chọn, phân chia lượng kiến thức qua mỗi tiết hợp lí, phù hợp khả năng,năng lực học sinhvà đặc biệt khi chia tiết chúng ta nên nghiên cứu kĩ để tránhnhững thực trạng đưa ra ở trên để chủ đề trở thành nguồn cảm hứng thổi hồn cho

cả thầy và trò trong suốt quá trình tìm hiểu, trải nghiệm và sáng tạo Đảm bảo kếtthúc hoạt động này là khởi đầu hoạt động kia, kết thúc tiết học trước là khởi nguồncho tiết tiếp theo

Sau đây tôi sẽ phân chia lựa chọn lượng kiến thức linh hoạt với một số chủ đềminh họa

Ví dụ 1: Chủ đề : “Vật dụng trong nhà” Thời lượng 4 tiết – Lớp 3

Dựa vào mục tiêu có thể phân chia tiết và các hoạt động cụ thể, như sau:

Tiết 1+ 2: Tìm hiểu và tạo khối đồ vật/ vật dụng (Có thể tạo hình nếu vẽ hoặc

tạo hình từ vật liệu khác tùy vào chất liệu – Giáo viên lựa chọn phù hợp khả năng

học sinh)

Hoạt động 1: Tìm hiểu - về đồ vật.

Hoạt động 2: Hướng dẫn

Trang 12

Cách tạo khối đồ vật– Nếu sử dụng đất nặn

Trang 13

Hoạt động 4: Chia sẻ sản phẩm được trang trí.

4 Trương bày, chia sẻ (H3)

Hoạt động 1: Trưng bày cửa hàng theo nhóm

Hoạt động 2: Chia sẻ về cửa hàng

Thảo luận, thống nhất, chia sẻ

- Kiến thức mĩ thuật

- Nội dung, câu chuyện hoặc hoạt cảnh

qua sắm vai mua bán

H2 Một số đồ vật được trang trí

Trang 14

Hoạt động 3: Nhận xét, đánh giá.

Ví dụ 2: Chủ đề “Vẽ theo mẫu” - 4 tiết – Lớp 4

Mục đích của chủ đề này là học sinh nhận biết và tạo hình được tĩnh vật theo ý thích qua đó biết chia sẻ về sản phẩm.

Chủ đề này có thể áp dụng 1 trong các quy trình sau:

Ngày đăng: 08/01/2022, 14:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cách tạo hình đồ vật– Nếu vật liệu khác Hoạt động 3: Thực hành  - SKKN 18-19
ch tạo hình đồ vật– Nếu vật liệu khác Hoạt động 3: Thực hành (Trang 12)
Mục đích của chủ đề này là học sinh nhận biết và tạo hình được tĩnh vật theo ý thích qua đó biết chia sẻ về sản phẩm. - SKKN 18-19
c đích của chủ đề này là học sinh nhận biết và tạo hình được tĩnh vật theo ý thích qua đó biết chia sẻ về sản phẩm (Trang 14)
*Vận dụng quy trình tạo hình từ vật tìm được thông qua nghệ thuật 2d sáng tạo có thể phân chia thành. - SKKN 18-19
n dụng quy trình tạo hình từ vật tìm được thông qua nghệ thuật 2d sáng tạo có thể phân chia thành (Trang 16)
- Nhận ra và nêu được đặc điểm về hình dáng, màu sắc của một số con vật quen thuộc. - SKKN 18-19
h ận ra và nêu được đặc điểm về hình dáng, màu sắc của một số con vật quen thuộc (Trang 17)
- Ảnh một số con vật quen thuộc để hiểu về hình dáng, đặc điểm, màu sắc, đường nét. - SKKN 18-19
nh một số con vật quen thuộc để hiểu về hình dáng, đặc điểm, màu sắc, đường nét (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w