Trong những điều kiện cụ thể về lịch sử - văn hóa ở nước ta, từ hàng nghìn năm nay, việc bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam không chỉ gắn với việc bảo vệ bản sắc dân tộc mà còn được gắn l
Trang 1KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THẮNG LỢI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo, em đã tiếp thu được nhiều tri thức khoa học, kinh nghiệm và phương pháp học tập mới, bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo TS Nguyễn Thắng Lợi, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em tận tình trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận này
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em để bản khóa luận này được hoàn thành
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận
Vì điều kiện có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong quý thầy
cô và mọi người cho ý kiến đóng góp
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận của em được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Thắng Lợi cùng với sự nỗ lực của bản thân Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu là kết quả thực của bản thân em, không trùng với kết quả của các tác giả khác
Trong quá trình làm đề tài của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DSVH : Di sản Văn hóa
CTQG - HN : Chính trị Quốc gia - Hà Nội VHTT&DL : Văn hóa Thể thao và Du lịch CNXH : chủ nghĩa xã hội
CNH - HĐH : công nghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục khóa luận 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa, công tác lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 8
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 13
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG 19
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 19
2.1 Di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương 19
2.1.1 Đặc điểm lịch sử tự nhiên văn hóa – xã hội 19
2.1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội 20
2.1.3 Kho tàng di sản văn hóa 23
2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 30
2.3 Về thực trạng bảo vệ và phát huy di sản văn hoá 32
2.3.1 Đối với di sản văn hoá vật thể 32
Trang 62.3.2 Về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể 34
2 3.3 Về tổ chức và hoạt động của Bảo tàng 36
2.3.4 Về xã hội hoá hoạt động di sản văn hoá 37
2.3.5 Về nguồn thu và quản lý nguồn thu tại các di tích 38
2.3.6 Sự phối hợp trong các hoạt động bảo vệ, phát huy di sản văn hóa 38
2.3.7 Tổ chức quản lý di sản văn hoá: 39
2.4 Một số hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hải Dương 39
Chương 3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT TRONG LÃNH ĐẠOBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 41
CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG 41
3.1 Một số kinh nghiệm 41
3.2 Một số đề xuất 44
KẾT LUẬN 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Di sản văn hóa là những bằng chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, di sản văn hóa giúp con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của đất nước, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Trong những điều kiện cụ thể về lịch sử - văn hóa ở nước ta, từ hàng nghìn năm nay, việc bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam không chỉ gắn với việc bảo vệ bản sắc dân tộc mà còn được gắn liền với việc bảo vệ nền độc lập dân tộc
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gắn kết cộng đồng dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất làm bản sắc của dân tộc Việt Nam, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta; đồng thời là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Vì vậy, việc giữ gìn, tôn tạo các di sản văn hóa là trách nhiệm của cộng đồng, thể hiện lòng tri ân tiền nhân “uống nước nhớ nguồn”, bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa dân tộc là một trong những động lực tinh thần, cội nguồn của sức mạnh vô địch để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Di sản văn hóa còn chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn, nếu bị mất
đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi, đồng thời, di sản còn mang ý nghĩa là nguồn lực đối với phát triển kinh tế, nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt là khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Di sản văn hóa dân tộc được Đảng ta xác định là “tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những
Trang 8giá trị mới và giao lưu văn hóa” [18, tr.63] Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), thứ XI (2011) Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội: Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc
Đại hội XII, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa và con người Việt
Nam được đúc kết cô đọng, cụ thể, Đảng khẳng định: Phát triển sự nghiệp
văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác
Hải Dương là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có bề dày truyền thống lịch
sử, văn hóa Hải Dương hiện còn lưu giư nhiều loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh có khoảng 2000 di tích, danh thắng, trong đó có khoảng 130 di tích được xếp hạng quốc gia mà tiêu biểu là Khu di tích danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc; với hàng trăm lễ hội gắn với các di tích, hàng chục làng nghề cổ truyền
Một giá trị di sản văn hóa Hải Dương được lưu truyền đó là sự thờ kính các vị vĩ nhân là Trần Hưng Đạo - Danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - Danh nhân văn hóa và Chu Văn An - Người thầy của muôn đời
Cùng với quá trình phát triển, bên cạnh việc lưu giữ và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống các thế hệ người dân Hải Dương đã tiếp nhận nhiều giá văn hóa của các vùng miền đất nước, giao lưu văn hóa với nhiều nước để làm phong phú thêm đời sống văn hóa đặc trưng của Hải Dương
Trang 9Ngày nay, với quá trình đô thị hóa và giao lưu hội nhập quốc tế, chỉ riêng trên lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề đặt ra những vấn đề lớn, làm sao giải quyết được các mối quan hệ: xây dựng nền văn hóa tiên tiến - giữ được bản sắc dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại - ngăn chặn các văn hóa lại căng, giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc - xây dựng lối sống văn minh, tác phong công nghiệp; đổi mới tư duy kinh tế - giữ gìn giá trị nhân văn Đó chính là những vấn đề lớn đặt ra, cũng là trách nhiệm của các ngành, các cấp,
đặc biệt với những nhà hoạt động trên lĩnh vực văn hóa
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của di sản văn hóa đối với sự phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã lãnh đạo các cấp, các ngành bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị
di sản văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hải Dương cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập trước thực tế Vì vậy, tìm hiểu sự lãnh đạo, khái quát những thành tựu, chỉ ra hạn chế và bước đầu đúc kết kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Vì lý do trên, em chọn đề
tài “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hoá từ năm 2000 đến năm 2010" làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, trong những năm gần đây, được nhiều tổ chức, cá nhân nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó, có thể kể đến là:
Cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân
tộc” của Hoàng Vinh Trên cơ sở những quan niệm di sản văn hóa của quốc
tế và Việt Nam, tác giả đã nêu ra những tiền đề lí luận về di sản văn hóa dân
Trang 10tộc, thực trạng và một số kiến nghị về chính sách bảo tồn, phát triển di sản văn hóa dân tộc ở Việt Nam
Cuốn sách “Một con đường tiếp cận di sản văn hóa” (2006) do Phạm
Quang Nghị chủ biên Đây là công trình giới thiệu về di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể, công tác bảo tồn, tôn tạo ở Việt Nam
Việt Nam - Luật lệ và sắc lệnh Luật di sản văn hoá Nxb Chính trị
Quốc gia, H.2001 Giới thiệu các qui định trong Luật di sản văn hoá về: quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể và văn hoá vật thể; quản lý nhà nước về
di sản văn hoá
V.I Lênin với việc bảo vệ di sản văn hoá, xây dựng bảo tàng của V.K
Gađanôp, Nguyễn Đình Khôi dịch, Nxb Văn hoá nghệ thuật, H.1962, nêu bật tầm quan trọng của công tác bảo tàng trong những năm đầu của chính quyền
Xô Viết Những biện pháp khẩn cấp để bảo vệ di sản văn hoá Thành lập một
hệ thống bảo tàng quốc gia Tu sửa những di tích văn hoá lâu đời
Những quy định pháp luật về bảo vệ di sản văn hoá, Nxb Lao động,
H.2002, do Thanh Bình sưu tầm, tuyển chọn, gồm các văn bản qui định chung quy định về lễ nghi, lễ hội, hội diễn nghệ thuật, xây dựng nếp sống mới Quy định về nghệ thuật dân gian, điện ảnh dân tộc, quy định về hương ước, quy ước, làng bản, thôn, ấp, bảo vệ văn hoá các dân tộc thiểu số Quy định về bản quyền tác giả
Phạm Mai Hùng: Giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc, Nxb Văn
hoá Thông tin, H.2003, đã phân tích vai trò của hệ thống các bảo tàng Việt Nam trong việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc Công tác bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc Công tác bảo tồn của di tích lịch sử văn hoá cũng như các tác phẩm và hiện vật lịch sử Việt Nam Một số giải pháp xã hội hoá các hoạt động bảo tồn bảo tàng
Trang 11Nguyễn Đình Thanh, Di sản văn hoá bảo tồn và phát triển, Nxb Tp
Hồ Chí Minh, 2008, tập hợp những bài nghiên cứu giới thiệu về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá ở Việt Nam; mối quan hệ giữa di sản văn hoá và du lịch; một số kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hoá của một số quốc gia trên thế giới
Nguyễn Thịnh, Di sản văn hoá Việt Nam: Bản sắc và những vấn đề về
quản lý, bảo tồn,Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2012, trình bày đối tượng, nội dung,
nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu di sản văn hoá Các khái niệm về bảo tồn phát huy giá trị, chức năng, phân loại, quản lí, tư liệu hoá di sản văn hoá
Phạm Duy Đức (chủ biên), Trần Văn Bính, Hoàng Vinh : Giáo trình
lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb
Chính trị Hành chính, H.2013, phân tích khái niệm về văn hoá học; những vấn đề về nhận thức quan điểm, đường lối văn hoá của Đảng và lý giải những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh trong đời sống văn hoá dân tộc
Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá -
Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài
Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát
huy di sản văn hóa” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm” (Phan Huy Lê), có thể giúp người đọc có thể
Trang 12thì đến nay chưa có tác giả nào thực hiện; tài liệu còn về vấn đề này còn tản mạn, do vậy cần được quan tâm, nghiên cứu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dươg lãnh đạo công tác bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 2000 đến năm 2010, làm rõ sự chủ trương, phương thức và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với công tác này Từ đó đánh giá thực trạng công tác nêu trên ở tỉnh Hải Dương, tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng và đúc kết một số kinh nghiệm nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của đề tài, khóa luận phải giải quyết được nhiệm
vụ sau:
- Khảo sát, đánh giá những di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương Từ đó làm rõ vai trò của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh
- Lãm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng để đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, đồng thời nêu nên những kinh nghiệm cho giai đoạn sau
4 Đối tượng và phạm vi
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Dương trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 2000 đến năm
2010
Trang 134.2.Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn không gian ở tỉnh Hải Dương
- Giới hạn thời gian từ năm 2000 đến năm 2010
- Giới hạn nội dung: tập trung tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (quán triệt chủ trương của Đảng, cụ thể hóa vào địa phương)
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa, di sản văn hóa,
Khóa luận sử dụng các phương pháp lịch sử và lô gic, kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Hải Dương
Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2000 – 2010
Chương 3: Một số kinh nghiệm và kiến nghị trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa, công tác lãnh đạo bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Khái niệm về Di sản Văn hóa
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước gìn giữ và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”
Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Hà Nội 1992) thì di sản là cái của thời đại
trước để lại; còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [48, tr.254]
Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Văn hóa Thông tin 1998) định nghĩa: “Di
sản: Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại”
Luật Di sản văn hóa định nghĩa:
"Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
"1 Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề
Trang 15thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực,
về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
2 Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia"
Khái quát lại các khái niệm trên, DSVH được hiểu là những gì con người sáng tạo ra, khám phá ra và đã bảo vệ, gìn giữ được của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai
DSVH là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau DSVH bao gồm những sản phẩm vật chất và phi vật chất, sản phẩm hữu hình hay vô hình do con người sáng tạo ra Các sản phẩm hữu hình như công trình kiến trúc, điêu khắc, tác phẩm mĩ thuật và thủ công tinh xảo Các sản phẩm phi vật chất là các giá trị tinh thần, truyền thống và phong tục tập quán, thị hiếu của mỗi cộng đồng Khái niệm DSVH bao hàm cả di sản thiên nhiên do con người khám phá ra và bảo vệ, tôn tạo chúng
Theo Công ước về bảo vệ DSVH và tự nhiên của thế giới được UNESCO thông qua tại kỳ họp thứ 17 năm 1932 tại Pari thì DSVH được hiểu là:
Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cố có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động với các nhóm hay yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
Các quần thể: Các nhóm công trình đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hay sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan
Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc công trình của con người kết hợp với công trình của tự nhiên cũng như các khu vực kể cả các di chỉ khảo cổ học có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [45, tr.67]
Trang 16Luật Di sản văn hóa khẳng định: DSVH là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của DSVH nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời gian Ngày nay, khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi là di sản Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử những kí ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại Do đó, sự ra đời của Luật Di sản văn hóa cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lí quan trọng nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội, tăng cường
sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng DSVH dân tộc
Theo UNESCO tại phiên họp tháng 10/2003 đã thống nhất quan niệm rằng: Di sản văn hóa bao gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể
Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định DSVH vật thể được tạo từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như thực thể ngoài bản thân con người DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguồn gốc
Di sản văn hóa phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, kí ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người
Trang 17và thông qua hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội
mà thể hiện ra Từ đó, người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của văn hóa phi vật thể
Đặc trưng rõ nét của văn hóa phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người Văn hóa phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần của con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động với
tư cách là một hiện tượng văn hóa
Việc phân chia DSVH thành Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể chỉ mang tính chất tương đối Bởi lẽ mọi hiện tượng văn hóa đều
có phần vât thể và phi vật thể, chúng là hai mặt của một thể thống nhất Bởi vậy, nghiên cứu DSVH cần phải đặt DSVH vật thể và DSVH phi vật thể trong mối quan tương tác không thể tách rời Như vậy mới hiểu được giá trị vật chất
và tinh thần của DSVH đối với đời sống xã hội
Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa
Theo từ điển tiếng Việt “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” [44, tr.261]
Trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn DSVH xuất hiện ngay từ khi con người ý thức được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm những biện pháp bảo tồn Ở nhiều nước bảo tồn DSVH trở thành một ngành học có tính chuyên môn cao, người
ta áp dụng các quy tắc chung về bảo tồn theo các quy ước chung của cộng đồng quốc tế
Năm 1954, UNESCO ra quyết định về bảo tồn Di sản văn hóa
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ bảo tồn không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối
Trang 18tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn
Theo từ điển tiếng Việt “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [52, tr.664]
Phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế Phát huy giá trị DSVH là một hoạt động mang tính liên ngành,
có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản săc văn hóa dân tộc đồng thời là cầu nối với bạn
bè năm châu
Như vậy, DSVH giữ vai trò quan trọng, là nguồn tài nguyên vô tận cho việc sản xuất hàng hóa dịch vụ, du lịch Từ đó kích thích tiêu dùng tạo ra những sản phẩm mang giá trị đặc trưng, làm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch và đem lại nguồn tài chính đáng kể, góp phần làm tốt công tác bảo tồn Hơn nữa việc phát huy tốt giá trị của di sản còn mang lại lợi nhuận về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về DSVH sẽ có tác dụng trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng
Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Văn hóa là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn không đem ra
sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩn chứa trong di sản, rồi thời gian sẽ làm di sản phai mờ và nhanh chóng bị chìm vào lãng quên Chỉ khi giá trị của
di sản được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ và làm điều kiện để bảo tồn di
Trang 19sản Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị văn hóa không bị lãng quên mà còn lan tỏa và giữ vững được bản sắc của mình Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn DSVH được tốt hơn, tỏa sáng hơn Vì vậy cần xử lí hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy phát triển bền vững
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đề cao giá trị của DSVH trong sự phát triển văn hóa của dân tộc Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong hơn 80 năm qua là: trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân
Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, khi Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta không chỉ đổi mới về kinh tế mà còn đổi mới trong nhận thức và tư duy: Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt với phát triển văn hóa Rõ ràng, Đảng ta đã nhận thức một cách đúng đắn và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội Trên nền tảng đó, các DSVH được tôn trọng, phát triển, góp phần làm cho đời sống tinh thần của xã hội ngày càng phong phú Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa VII (tháng 1- 1993) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, một động lực phát riển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” và đề ra nhiệm vụ: Trước mắt, tập trung xây dựng để sớm ban hành Luật xuất bản và luật bảo vệ DSVH dân tộc Cần có chính sách cụ thể giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của công đồng các dân tộc và của từng dân tộc Vấn đề này cần được quan tâm một cách toàn diện, từ sưu tầm, nghiên cứu bảo tàng, phổ biến các DSVH dân tộc đến đào tạo cán bộ văn hóa cho các dân tộc
Trang 20Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước DSVH Việt Nam khi được bảo tồn, phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, gắn kết với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kì hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Nhà nước có kế hoạch xây dựng các bảo tàng, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hóa lịch sử, xây dựng các tượng đài về các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa ở Thủ đô và các thành phố lớn
Phát triển tư duy đó, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (7- 1998) Đảng ta đã ra Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và khẳng định: DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng tiếp tục nêu rõ: Bảo tồn và phát huy các DSVH dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử; văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại (Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội)
Trong kết luận của hội nghị Trung ương 10 khóa IX, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới được Đảng đề ra:
Trang 21Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại
Đại hội X, Đảng ta xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Gắn kết chặt chẽ hơn giữa văn hóa với phát triển kinh tế xã hội Làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa Chống sự xâm nhập văn hóa độc hại, lai căng, phản động Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa
Quán triệt quan điểm của Đảng và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin và các Tỉnh uỷ, Thành uỷ các tỉnh, thành phố trong cả nước đã xác định vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) của ông cha để lại là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh các yếu tố văn hóa ngoại lai xâm nhập ngày càng mạnh Tiếp theo các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và các nghị định, văn bản hướng dẫn của Nhà nước, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) và
Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch) hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa của đất nước
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và các quyết định của Chính phủ trong lĩnh vực DSVH, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành: Công văn số 4432/VHTT-BTBT ngày 20-10-
Trang 221998 của Bộ VHTT hướng dẫn tăng cường quản lý cổ vật; Công văn số 488/2/VHTT-BTBT ngày 18-11-1988 của Bộ VHTT hướng dẫn việc đăng ký kiểm kê bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; Tiếp đó Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin có Chỉ thị số 60/CT-BVHTT ngày 6-5-1999 của
Bộ trưởng Bộ VHTT về việc tăng cường quản lý và bảo vệ di tích Đây là những văn bản pháp lý trong công tác tăng cường quản lý và bảo vệ di tích
Đầu năm 2002, Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp
thứ 9 thông qua ngày 14/6-/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 Đây là cơ
sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở Việt Nam Các khái niệm, nội dung của DSVH; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách biện pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ di sản; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân và của toàn xã hội trong việc bảo vệ DSVH dân tộc…
Đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH, Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001
Chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thể hiện tập trung trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Đảng Trung ương (khóa VIII) tháng 7 -1998, xác định những quan điểm cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm chỉ rõ vai trò to lớn của văn hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc và tương lai đất nước Văn hóa không phải là kết quả thụ động, yếu tố đứng bên ngoài, bên cạnh hoặc đi sau kinh tế, phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ phát triển kinh tế mà văn hóa vừa là mục tiêu, vừa động lực thúc đẩy kinh tế “Văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng
Trang 23đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp"
Hai là, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ, trong đó, cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước Đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh
tế trong ứng xử, tính giản dị trong cuộc sống; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm…
Ba là, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đây là tư tưởng tiến bộ và nhân văn, phù hợp với thực tiễn của cộng đồng 54 dân tộc đang sinh sống ở Việt Nam
và xu thế chung của cộng đồng quốc tế đang hướng tới xây dựng một công ước quốc tế về đa dạng văn hóa hiện nay
Bốn là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do
Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Quan điểm xác định trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà; công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ gắn bó với nhân dân, giữ vai trò quan trọng, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa
Trang 24Năm là, văn hóa là một mặt trận Xây dựng và phát triển văn hóa là một
sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng Quan điểm chỉ rõ: Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa hiện nay đang diễn ra hết sức nóng bỏng, quyết liệt, phức tạp Văn hóa là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và khác với các hoạt động kinh tế Tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng các hoạt động văn hóa luôn mang ý nghĩa chính trị - xã hội, có tác động sâu sắc đối với đời sống tư tưởng, tình cảm, tâm lý, tập quán cộng đồng Vì vậy, cần phải tiến hành một cách kiên trì, thận trọng, tránh nóng vội, chủ quan, duy ý chí; phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân trong xây dựng và phát triển văn hóa; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động của xã hội, vào từng con người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, cũng như mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người trong xã hội
Như vậy, các quan điểm, chủ trương về bảo tồn, và phát huy giá trị di sản văn hóa, là một bộ phận của chủ trương bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nhằm góp phần bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong đời sống xã hội, nâng cao năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa Việt Nam Đảng ta đặc biệt chú trọng đến đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các
di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, DSVH vật thể, phi vật thể Đảng chú trọng kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn
di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hóa Đồng thời tăng cường, quản lý nhà nước về văn hóa Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương đã kịp thời quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách trên
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương
2.1.1 Đặc điểm lịch sử tự nhiên văn hóa – xã hội
Hải Dương thuộc vùng đất cổ ở đồng bằng sông Hồng, một trong những nơi phát tích nền văn minh sông Hồng Đó là vùng đất tiếp giáp từ kinh đô Thăng Long kéo dài tới bờ biển Đông Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi dựng nước tới nay Hải Dương có nhiều tên gọi khác nhau:
Khi mới thành lập, Hải Dương là một tỉnh rộng lớn từ Bình Giang đến Thủy Nguyên Năm 1888 tách dần một số xã của huyện Thủy Nguyên, huyện Tiên Lãng khỏi tỉnh Hải Dương để thành lập tỉnh Hải Phòng Năm 1968 Hải Dương nhập với tỉnh Hưng Yên trở thành Hải Hưng Năm 1997 Hải Hưng lại được chia thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên Hải Dương hiện nay bao gồm 12 huyện thị, là tỉnh nằm trong khu vực tam giác kinh tế giữa Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là nơi giao thoa kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng
Vài nét về nền văn minh sông Hồng ở Hải Dương: Theo kết quả
nghiên cứu những di chỉ khảo cổ khai quật được trên đất Hải Dương từ thời
kỳ đồ đá, trên vùng đất Hải Dương đã có con người sinh sống Qua các cuộc khai quật ở khu vực sông Kinh Thầy (Kinh Môn), người ta đã tìm thấy những
di vật cách đây 3000- 4000 năm Ở Tứ Thông, Ngọc Uyên, Đồng Niên (TP Hải Dương) cũng tìm thấy những mộ táng trong đó có những vật tùy táng bằng gốm từ thời Hùng Vương Năm 1965, tìm thấy được trống đồng ở làng Hữu Chung (Tứ Kỳ) có niên đại cách đây khoảng 2500 năm Ngành khảo cổ học còn tìm thấy ở Ngọc Lặc (Tứ Kỳ) và ở Nam Sách nhiều mộ táng các quan
Trang 26lại người Việt và người Hán thời đầu Công nguyên Trong các ngôi mộ đều
có chôn theo tùy táng như vò, nậm rượu, cối giã trầu, rìu, cung nỏ, dao kiếm, khuôn đúc đồng bằng sành sứ, bằng đồng hoặc sắt Những kết quả khai quật trên đã phần nào phản ánh đời sống vật chất, tinh thần phong phú, đa dạng với trình độ kĩ thuật và thẩm mỹ cao của cư dân Việt Cổ sống trên vùng đất Hải Dương xưa
2.1.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội
Vùng đất Hải Dương ở bất kể thời đại nào cũng xuất hiện người tài, có công với nước, là đất học nổi tiếng Bắc Hà Chỉ tính trong triều đại Lý, Trần,
Lê thì Hải Dương đã có 372 Tiến sĩ, 11 Trạng nguyên, 10 Bảng nhãn, 20 Thám hoa, 150 Hoàng giáp (đứng thứ hai cả nước chỉ sau Kinh Bắc)
Nếu tính chung các triều đại, ở Hải Dương đã có 485 Tiến sĩ, nhiều nhất trong cả nước Riêng Mạc Đĩnh Chi là người duy nhất ở nước ta được phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” Làng Mộ Trạch (Bình Giang) còn được gọi là “Làng tiến sĩ” vì nơi đây đã sản sinh ra 39 Tiến sĩ qua các thời kì Những di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hóa ở Hải Dương: Hải Dương có hàng trăm ngôi đình, chùa, đền thờ rải rác các địa phương, thể hiện bàn tay tài hoa và trình độ nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc của con người Đến nay Hải Dương đã có 139 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia, trong đó có những di tích nổi tiếng như: Di tích lịch sử, văn hóa Côn Sơn (Chí Linh) Đây là một quần thể chùa tháp, núi non, bàn cờ tiên, suối chảy và rừng thông, rừng trúc, chỗ nào cũng gợi cho ta những kỷ niệm về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc (thế kỉ XV) Nơi đây đã được Bác Hồ về thăm (tháng 2/1965) Côn Sơn là điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Hải Dương
Đền Kiếp Bạc (Chí Linh) là di tích kỷ niệm anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người có công lớn trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thế kỷ XIII
Trang 27Trên núi Phượng Hoàng (xã Văn An- Chí Linh) có di tích lịch sử bao gồm mộ và đền thờ thầy giáo Chu Văn An, nhà giáo mẫu mực, lừng danh thế
kỉ XIII, mãi mãi người đời còn suy tôn, ngưỡng mộ và vinh danh là thầy giáo của muôn đời Vậy chỉ trong một không gian chừng 5km2 đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về ba danh nhân vĩ đại của đất nước và thế giới đó
là Trần Hưng Đạo - Danh nhân quân sự; Nguyễn Trãi - Danh nhân văn hóa; Chu Văn An- Thầy giáo của muôn đời, đã trở thành huyền thoại của non sông đất nước Động Kính Chủ (Kinh Môn) là di tích lịch sử, đồng thời là một thắng cảnh đẹp, hấp dẫn, nơi đây còn lưu giữ nhiều văn bia ghi lại lịch sử văn hóa dân tộc Trên núi An Phụ (Kinh Môn) có tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn uy nghi, hoành tráng và đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, người sinh thành ra Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Trên đất Hải Dương có nhiều lễ hội truyền thống, những trò chơi dân gian ở khắp các làng xã làm nổi bật sắc thái riêng của từng địa phương Tiêu biểu là lễ hội chùa Côn Sơn vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Kiếp Bạc từ ngày 15 đến ngày 20/8 âm lịch, hàng năm thu hút đông đảo du khách thập phương đến dự, vừa có dịp thăm cảnh đẹp nơi đây và vui chơi du lịch, vừa tỏ lòng tưởng nhớ công lao to lớn của người anh hùng dân tộc Ngoài ra còn có một số lễ hội chùa Muống (Kim Thành), lễ hội đền Sượt (TP Hải Dương), lễ hội đền Tranh (Ninh Giang), lễ hội xứ đạo Kẻ Sặt (Bình Giang) Làng Bồ Dương (Ninh Giang) vẫn duy trì nghệ thuật múa rối nước, một số xã như Minh Đức, Quang Khải (Tứ Kỳ), Nghĩa An, Tân Hương (Ninh Giang) vào tháng 3, tháng 4 âm lịch hàng năm còn tổ chức hội trò chơi đánh pháo đất, một trò chơi vui dân gian độc đáo, lâu đời Những di tích lịch sử, những nét truyền thống văn hóa trên đây cho thấy nhân dân Hải Dương đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển văn hóa, khoa học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc của đất nước
Trang 28Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương trong nền kinh tế thị trường:
Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc là hướng tới một nền văn hóa dân tộc đa dạng, phong phú về sắc thái, chứ không phải là một nền văn hóa nghèo nàn, giống nhau, cùng khuôn mẫu Đa dạng, phong phú về giá trị là một thuộc tính của văn hóa thể hiện ở khả năng sáng tạo của một dân tộc trong điều kiện lịch
sử cụ thể Ngày nay, hội nhập quốc tế, một mặt tạo điều kiện để các nền văn hóa dân tộc được giao lưu, hợp tác và phát triển, mặt khác cũng tạo ra xu hướng toàn cầu hóa về văn hóa, về lối sống và quan niệm về giá trị Quá trình
đó đặt các dân tộc trước nguy cơ đánh mất giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời còn ẩn chứa nguy cơ làm suy giảm tính sáng tạo của các dân tộc trong quá trình phát triển Sự sáng tạo trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
là một yếu tố quan trọng Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, một mặt phải gắn liền với chống lạc hậu, lỗi thời “trong phong tục, tập quán, lề thói cũ”, mặt khác, giữ gìn phải biết lọc bỏ, bổ sung, phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với đời sống hiện đại Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc là không ngừng xác lập một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trên
cơ sở phát huy tính sáng tạo của dân tộc Đó chính là sức sống nội lực của một dân tộc trong quá trình phát triển bền vững Ngoài ra, khơi dậy và khuyến khích sáng tạo không chỉ trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa mà cả trong phát triển kinh tế, mỗi sự thụ động, bảo thủ, trì trệ đều kìm hãm sự phát triển
Đa dạng, phong phú về giá trị không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực thúc đẩy quá trình giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc và phát triển trong thời kỳ kinh tế thị trường.Với tư duy sáng tạo con người mới làm chủ được quá trình giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn, kế thừa và phát triển, mối quan hệ giữa cái
cũ và cái mới, cái truyền thống và cái hiện đại, tiên tiến Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc không chỉ nhấn mạnh những nét đặc sắc của dân tộc mà còn giữ
Trang 29gìn những giá trị thuộc về dân tộc đó Đồng thời, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở ý thức tự giác của cả cộng đồng dân tộc Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, văn hóa phải “ đi sâu vào tâm lý quốc dân” để từ đó “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”
2.1.3 Kho tàng di sản văn hóa
* Về di sản văn hóa vật thể:
Quê hương Hải Dương hiện đang lưu giữ một lượng lớn văn hoá vật thể và phi vật thể đa dạng, độc đáo với trên 2.000 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng Từ những dấu ấn thời kỳ đồ đá cũ có niên đại trên 3 vạn năm ở hang Thánh Hoá, núi Nhẫm Dương (Kinh Môn), đến những di chỉ, di vật có giá trị của thời đại đồ đồng tại Ðồi Thông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà), Văn hoá Lý, Trần, Lê, Nguyễn là dòng chảy liên tục
và rực sáng trên vùng đất này, đã tạo nên một không gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hòa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh với những di tích được xếp hạng quốc gia mà tiêu biểu là Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh) Chỉ trong một không gian chừng 5km2
đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về 3 danh nhân vĩ đại của đất nước và thế giới Ðó là Trần Hưng Ðạo - danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá, Chu Văn An - bậc danh nho tiết tháo; cùng An Phụ, Kính Chủ (Kinh Môn) đã trở thành những huyền thoại của non sông đất Việt
Cùng với những di tích danh thắng, xứ Đông còn nổi tiếng là một trong những cái nôi của nghệ thuật hát chèo của vùng Ðồng bằng Bắc Bộ "Chiếng chèo xứ Ðông" với những nghệ nhân tên tuổi như: Phạm Thị Trân, Trùm Thịnh, Trùm Bông, Cả Tam, Minh Lý, có công lao to lớn trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật hát chèo Việt Nam Ngoài ra còn nhiều loại hình văn nghệ dân gian như: nghệ thuật tuồng, múa rối nước, xiếc, hát ca trù, hát trống quân, hát đối, hát ru, ca dao, tục ngữ Hải Dương còn là quê hương
Trang 30của nhiều làng nghề truyền thống danh tiếng như chạm khắc đá Kính Chủ (Kinh Môn), chạm khắc gỗ Ðông Giao (Cẩm Giàng), kim hoàn Châu Khê, gốm Cậy (Bình Giang), gốm Chu Ðậu (Nam Sách), khắc ván in Hồng Lục - Liễu Tràng (Gia Lộc), thêu Xuân Nẻo (Tứ Kỳ), dệt chiếu Tiên Kiều (Thanh Hà) Những sản phẩm từ các làng nghề truyền thống này thể hiện sự sáng tạo khéo léo, tài hoa của người xứ Ðông Hải Dương còn là đất học, đất khoa bảng Hải Dương đứng đầu về tiến sĩ nho học của cả nước với 472 người, trong đó có 11 trạng nguyên Làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang được mang danh là "Làng tiến sĩ" với 39 tiến sĩ dưới các triều đại phong kiến Văn Miếu Mao Ðiền (Cẩm Giàng) - Văn Miếu trấn Hải Dương xưa là một minh chứng cho truyền thống hiếu học của người xứ Ðông Nhiều tiến sĩ nho học của Hải Dương là những tác giả nổi tiếng, để lại cho ngày nay hàng trăm tác phẩm có giá trị trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, khoa học, văn học, ngoại giao như: Tuệ Tĩnh, Mạc Ðĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi,
Vũ Hữu, Nguyễn Dữ, Ðặc biệt là Nguyễn Thị Duệ - nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam
Dựa trên nền tảng truyền thống lịch sử, văn hóa, vùng đất và con người như vậy đã là chất liệu (là nền tảng, là yếu tố) hình thành nên các các phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống của cộng đồng dân cư Hải Dương, với cả một tập hợp đặc sắc và vô cùng sinh động Ngay từ ngày mùng 1 Tết Nguyên Ðán, chùa Ðồng Ngọ (Thanh Hà) đã mở hội đánh chuông Ðây là lễ hội mở đầu cho các lễ hội mùa xuân của tỉnh Tháng Tám - mùa thu, lễ hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh) là một trong những lễ hội lớn nhất của cả nước Lễ hội xứ Ðông, với các đám rước lớn, các trò chơi dân gian đặc sắc: diễn xướng hội quân - lễ hội đền Kiếp Bạc; bơi chải - lễ hội đền Quát, đánh thó - lễ hội đền Cuối (Gia Lộc); hát chầu văn (Ninh Giang); trò đánh bệt - lễ hội đền Sượt (thành phố Hải Dương); thi nấu cơm - lễ hội chùa Hào Xá (Thanh Hà); đu
Trang 31tiên, leo núi, du xuân – lễ hội Côn Sơn, Với 731 lễ hội đang còn tồn tại, lễ hội xứ Ðông mang đậm yếu tố lịch sử, thể hiện phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, ước vọng cầu mong quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, đời sống ấm
no, ngợi ca những bậc tiền nhân, anh hùng dân tộc có công với dân với nước, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, hướng đến những giá trị cao đẹp
* Di sản văn hóa phi vật thể:
Theo kết quả đợt tổng điều tra về di sản văn hoá phi vật thể năm 2010 tại 12 huyện và thành phố với 1.411 làng và khu dân cư, tổ dân phố:
- Tiếng nói chữ viết của một số dân tộc thiểu số huyện Chí Linh
Theo Tổng điều tra dân số, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có dân tộc, trong
đó có dân tộc thiểu số cư trú lâu đời, tập trung tại 4 xã : Hoàng Hoa Thám, Bắc
An, Hoàng Tân, Hoàng Tiến gồm: Sán Dìu: 1516 người (0,09%), Tày: 469 người (0,0028%), Nùng: 75 người (0,0045%), Thái: 65: (0,0039%), Mông: 17 người (0,001%), Dao: 27 người (0,0016%),Thổ: 21 người (0,0012 %)[40, tr.9]
Tuy vậy, chỉ còn một số người Sán Dìu, người Tày, người Hoa còn nói (giao tiếp trong gia đình), hát được bằng tiếng của dân tộc mình, nhưng không viết được Người trẻ nhất nói được tiếng Sán Dìu sinh năm 1974, nói được tiếng Hoa sinh năm 1967, tiếng Thổ sinh năm 1972
Các văn bản thành văn của các dân tộc này trong cộng đồng không còn lưu giữ
- Ngữ văn dân gian:
Toàn tỉnh có 141 nơi còn lưu truyền được thể loại như truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao, vè của chung cộng đồng còn nhiều người cao tuổi biết khá nhiều Ngoài ra, nhiều địa phương đều có những câu chuyện, ca dao, vè tuy cùng nội dung nhưng lại gắn với địa danh địa
phương mình
Trang 32Về Truyền thuyết: Hầu hết các làng xã trên địa bàn tỉnh đều có các truyền thuyết về thành hoàng của làng, song chỉ còn một số người cao tuổi nhớ được không đầy đủ, các truyền thuyết về Di tích, thần hoàng nhân dân lưu giữ truyền miệng, tiêu biểu như Truyền thuyết về Di tích đền Kiếp Bạc và Đức thánh Trần Hưng Đạo, và Danh tướng Yết Kiêu, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và các danh tướng thời Trần, đền Tranh và Quan lớn Tuần Tranh, đền Bia và Đại danh y Tuệ Tĩnh; các giai thoại về Đệ nhị, đệ tam tổ phái Thiền Trúc Lâm Pháp Loa, Huyền Quang (thời Trần), về cụ nghè Nguyễn Quý Tân (thời Nguyễn);
Về truyện Nôm khuyết danh: Được lưu truyền như Phạm Tải Ngọc
Hoa (Nhân vật lịch sử Ngọc Hoa có đền thờ tại xã Thanh An, Thanh Hà)
Công tác sưu tầm và phổ biến chủ yếu do Hội Văn học - Nghệ thuật và Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện Tính
từ năm 2000 đến nay có 6 công trình được xuất bản, 22 công trình được tập hợp chưa xuất bản
Hải Dương là vùng đất có mặt hầu hết các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian của vùng đồng bằng Bắc Bộ như hát chèo, hát ca trù, hát chầu văn, hát đối, hát trống quân, hát tuồng, múa rối nước, múa rồng, múa lân, đánh trống Theo điều tra, trước kia, đã có tới 547 làng còn lưu giữ loại hình nghệ thuật này, Các loại hình nghệ thuật nêu trên đại đa số đều diễn ra trong không gian và thời gian tổ chức lễ hội của các làng xã
Qua thời gian, cùng với sự mai một, thất truyền của nhiều loại hình nghệ thuật ở một số làng, tại một số làng khác lại xuất hiện và phát triển
Hiện nay, về cơ bản, những loại hình nghệ thuật còn lại hầu như theo lối hát mới tồn tại dưới hình thức các đội văn nghệ thôn, xã và không còn giữ được nét truyền thống Trên địa bàn tỉnh hiện có: