1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Van hoa vit nam

43 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tác giả Đinh Hoài Thu, Võ Thị Phương Anh, Đặng Thị Thảo Phương, Đinh Thị Thùy Linh, Nguyễn Lan Anh, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Quỳnh Hương, Trương Hải Anh, Nguyễn Hoàng Việt
Người hướng dẫn Cô Trần Thị Hương
Trường học Học viện Ngoại giao
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 287,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, theo địnhnghĩa đã được UNESCO công nhận thì: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực

Trang 1

Văn hóa Việt Nam

Giảng viên: Cô Trần Thị Hương Nhóm: Đinh Hoài Thu – TT40B

Võ Thị Phương Anh – TT40B Đặng Thị Thảo Phương – TT40B Đinh Thị Thùy Linh – TT40A Nguyễn Lan Anh – TT40A Nguyễn Hồng Vân – TT40A Nguyễn Xuân Phương – TT40A Nguyễn Quỳnh Hương – TT40A Trương Hải Anh – TT40A

Nguyễn Hoàng Việt – TT40A

Hà Nội, tháng 4 - 2016

Trang 3

L i m đ u ờ ở ầ

Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qualại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, vàduy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thôngqua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tươngtác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểuhiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như tronggiá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một quốcgia trải qua hàng ngàn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Qua lịch sử của một dân tộcgiàu truyền thống như vậy thì đi cùng với đó là một nền văn hoá phong phú và đậm đà bản sắccủa dân tộc

Ngoại giao văn hóa là một trong những thành tố chính trong quan hệ ngoại giao của thế

kỷ 21, bởi lẽ Ngoại giao văn hóa có khả năng giảiquyeetit những thách thức lớn của thời đạichúng ta theo hướng bền vững đó là những thách thức về sự bất bình đẳng, bất công bằng, nghèođói và xung đột

Trong xu thế hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng và thời đại toàn cầu hóa hiện nay,cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa được xác định là mộttrong ba trụ cột của ngoại giao hiện đại Ngoại giao văn hóa được ví như “quyền lực mềm” vừa

có khả năng lan tỏa bền bỉ, vừa có tác dụng thẩm thấu lâu dài Chính vì vậy, việc tìm hiểu vànghiên cứu về văn hóa Việt Nam, từ đó đưa ra những bước đi phù hợp để quảng bá văn hóa nước

ta ra bên ngoài là việc làm cần thiết ngay lúc này

Trang 4

H giá tr c a văn hóa Vi t Nam ệ ị ủ ệ

1 Khái niệm văn hóa

Theo cách hiểu thông thường, văn hóa là học thức, trình độ học vấn và lối sống lànhmạnh Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm toàn bộ đời sống con người Tuy nhiên, theo địnhnghĩa đã được UNESCO công nhận thì: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”

2 Hệ giá trị

2.1 Khái niệm

Giá trị là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất cả những thứ được con người xem là

có ý nghĩa nhất định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của con người, xã hội Nó bao hàm

cả mặt chủ quan lẫn khách quan, gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau Bản thân các sự vật, hiệntượng, quá trình, sự biến, tồn tại khách quan, nhưng nếu không có sự đánh giá của con người,không được con người xem là có ý nghĩa đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của họ thì các

sự vật, hiện tượng, quá trình, sự biến đó không có giá trị Giá trị là phần cốt lõi, trục chính, cănbản của văn hóa, nhưng không thể quan niệm rằng nó là một hình thái tinh thần Giá trị nằmngay trong bản thân các sự vật, hiện tượng, quá trình

Ở Việt Nam, thuật ngữ giá trị thường dùng để chỉ phẩm chất, phẩm giá, đức tính (giá trịđạo đức) Nhiều nhà khoa học Việt Nam quan niệm giá trị là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp,đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể Giá trị gắn liền với cái tốt, cái hay, cái đúng,cái đẹp nhưng không nên và cũng không thể "đạo đức hóa" toàn bộ các giá trị Bởi lẻ, chỉ riêngcái tốt đã là thuộc tính của rất nhiều các giá trị khác nhau chứ không đơn thuần là thuộc tínhriêng của đạo đức

Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trìnhlịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho cácmục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy Hệ giá trị là một tập hợpcác phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ cótính lịch sử cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định Nó có tính tươngđối: phát triển nội tại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm thích ứng vớiđiều kiện và môi trường lịch sử - xã hội

Giáo sư Trần Văn Giầu đã nêu 7 giá trị mang tính tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam,

đó là: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” Nghị quyếtTrung ương 5 nêu những đức tính nổi bật của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá trịcủa con người Việt Nam, đó là: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoànkết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng

Trang 5

nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị tronglối sống” Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống giá trị Có thể coi hệ thống giá trị là chỉ sốđánh giá trình độ và tính chất đã đạt được của một nền văn hóa.

2.2 Hệ giá trị của văn hóa Việt Nam

Bản sắc văn hoá đã làm nên sức mạnh của Việt Nam, sức sống của dân tộc Việt Nam.Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản để xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong đó, nổi bật là 4 hệ giá trị cơ bản của văn hóa:

- Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc

- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc

- Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý

- Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động và sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị tronglối sống

2.2.1 Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc

Lòng yêu nước là phẩm chất hàng đầu, là giá trị thiêng liêng nhất trong bảng giá trị củavăn hoá Việt Nam Yêu nước là chuẩn mực giá trị, là lẽ sống và đạo đức bởi đối với người ViệtNam, ý thức dân tộc phát triển từ rất sớm Yêu nước gắn liền với yêu nhà, Tổ quốc là đại giađình bởi các dân tộc Việt Nam đều là “con một cha, nhà một nóc” có chung ngày giỗ Tổ HùngVương, chung dòng máu lạc Hồng Đây là cội nguồn của lòng yêu nước được coi là giá trị thiêngliêng và là sức mạnh cố kết cộng đồng để giữ gìn bản sắc dân tộc trong văn hoá Việt Nam

2.2.2 Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc

Từ lòng yêu nước đã kết tinh thành sức mạnh và giá trị của văn hoá Việt Nam, người ViệtNam có tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc.Những giá trị này không tách rời mà luôn gắn kết, hoà quyện chặt chẽ Người Việt Nam sẵn sàng

hy sinh tình nhà vì nợ nước, coi trọng tình làng nghĩa xóm, coi Tổ quốc là đại gia đình cần phảibảo vệ bằng cả tính mạng

2.2.3 Lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý

Lòng nhân ái khoan dung của người Việt Nam là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” luônlấy dân làm gốc, văn hoá Việt Nam là nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc cũng bởi “đất nướcnày là đất nước nhân dân - đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại” Tư tưởng lấy dân làmgốc là cội nguồn của lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý trong văn hoá Việt Nam

2.2.4 Cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống

Trang 6

Văn hoá ra đời trong lao động, trở thành động lực và mục tiêu phát triển của xã hội từthấp đến cao Con người Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam màtrước hết bản sắc văn hoá của dân tộc lại thể hiện qua diện mạo, tư chất, tính cách, năng lực sángtạo của chủ thể văn hoá, đó là con người Bản sắc dân tộc thể hiện trong mọi lĩnh vực của đờisống, trong cách sản xuất, cách tư duy, trong ứng xử với tự nhiên, với xã hội Sự cần cù sángtạo trong lao động và tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống chính là biểu hiện của thái độquí trọng lao động, của tinh thần tự lực tự cường, của ý chí và khí phách dân tộc

Trang 7

Đ c tr ng văn hóa Vi t Nam ặ ư ệ

1 Văn hóa tinh thần

1.1 Tôn giáo tín ngưỡng

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phongphú, đa dạng Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên Vì vậy, việcthờ cúng các vị thần tự nhiên đã sớm gần gũi với họ Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơigiao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trởthành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớncác vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt.Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗndung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cáchthụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta,trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trongđời sống tâm linh của người dân

Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềmtin tôn giáo Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không

là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đếnphủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầuxin

Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam là hòa đồng, đan xen, hỗ trợ lẫn nhau Truyền thống “Tamgiáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất” được kết tinh trong đạo Cao đài Những tôn giáo độcthần như: Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo du nhập vào nước ta cũng như tôn giáo nội sinh (CaoĐài, Hòa Hảo) ít nhiều đều có tính đan xen, hòa đồng dung hợp với nhau với tín ngưỡng bản địa

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm ở Việt Nam, người phụ nữ có vai trò quan trọngtrong xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồng nuôi con ở hậu phương màcòn xông pha trận mạc Dù mẫu quyền được thay thế bởi phụ quyền từ lâu, nhưng tàn dư chế độnày còn kéo dài dai dẵng đến tận ngày nay Hơn nữa, ở một xứ sở thuộc nền văn minh nôngnghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm – đất – mẹ, người mẹ biểu tượng cho ước muốnphong đăng, phồn thực; hình tượng của sự sinh sôi, nãy nở, sự trường tồn của giống nòi, sự baodung của lòng đất Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm trong tín ngưỡng, tôn giáoViệt Nam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ Truyền thống này được thể hiện rõ nét trong tínngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển từ tín ngưỡng bản địa thờ

Nữ thần và Mẫu thần với các quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chở cho con người, rồi tiếp thunhững ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ

Trang 8

Tới thế kỷ 17 – 18, khi mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lạiTam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần Đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vàophương Nam trong quá trình Nam tiến Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếpbiến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer, từ đó tạo nên các dạng thức địa phươngcủa tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ.

Trong kho tàng Văn hóa dân gian, tín ngưỡng phồn thực mang ý nghĩa thiêng liêng Phồnnghĩa là nhiều, thực là biểu hiện cho sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật Quan niệm về tín ngưỡngphồn thực vốn có mối gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng nông nghiệp, với ước vọng cầu được mưathuận gió hòa, cơm no áo ấm từ ngàn đời của cư dân Tín ngưỡng phồn thực bao hàm tính phổquát rộng lớn trong kho tàng tín ngưỡng văn hóa dân gian Việt Nam Với cư dân nông nghiệptrồng lúa nước, các biểu tượng âm – dương, đất – trời, non – nước là những nhân tố chính tạonên sự sinh sôi nảy nở của vạn vật, tất cả quyện hòa giữa sinh khí tự nhiên để tồn tại và pháttriển Trong mọi thời đại, con người vẫn có ước nguyện được tìm hiểu, nắm bắt mọi điều về thếgiới xung quanh Thực tiễn đó đã hình thành nên hệ thống tín ngưỡng đa dạng và phong phú,trong đó có tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thể hiện niềm tin của con người trong nguyện cầuđược sinh sôi nảy nở, phát triển giống nòi, ước mong được sản xuất phồn thịnh, mùa màng đượcbội thu

Những người có công với gia đình, làng nước luôn được thần thánh hóa trong tôn giáo tínngưỡng Việt Nam Con người Việt Nam vốn có lòng yêu nước, trọn tình “uống nước, nhớnguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng thấm đượmtinh thần ấy Truyền thống ấy được thể hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và được ghi nhận

rõ nét trong hệt thống đền, miếu, lăng, phủ,… ở nước ta Từ xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3cộng đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia Gia đình là tế bào của xã hội, dùnghèo hay giàu, song nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ – những người đã khuất.Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ Mỗi làng có phong tục, lối sống riêng Trong phạm vilàng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến

ở nhiều tộc người Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được người ViệtNam tôn vinh, sùng kính

1.2 Phong tục tập quán

Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh

ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó Mọivật trong tạo hoá hữu hình hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương,đều có giống đực giống cái Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới vàmột vài dân tộc ở miền núi nước ta

Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồnglàng xã Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc,gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ,

ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là

Trang 9

thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thânqua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ.

Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từhàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đấttrời, vạn vật cỏ cây Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi “khai thiên lập địa” đã tiềm tàng nhữnggiá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niệm “ơn trời mưa nắng phải thì” chân chất của người nông dân cày cấy ởViệt Nam Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri âm tổ tiên, nguồn cội; giao cảmnhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhớ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng Hàng nămvào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này còn có lễ trừ tịch Trừ tịch là giờ phút cuối cùng củanăm cũ sắp bắt đầu qua năm mới Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm

cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừanên còn mang tên là lễ giao thừa

Về lễ tang thời xưa, trình tự diễn ra như sau: người chết được tắm rửa sạch sẽ, thay quần

áo tươm tất, rồi lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng một dúm gạo và ba đồngtiền xu gọi là lễ ngậm hàm Sau đó đặt người chết nằm xuống chiếu trải sẵn dưới đất (theo quanniệm “từ đất sinh ra lại trở về với đât”) Tiếp đó là lễ khâm liệm (liệm bằng vải trắng) và lễ nhậpquan (đua thi hài vào quan tài) Sau khi nhập quan là lễ thành phục, chính thức phát tang Contrai, con gái và con dâu của người quá cố, đội khăn sô, mũ chuối (hoặc mũ tết bằng rơm), mặc áo

sô Cháu chắt họ hàng, thân thích chít khăn để tang Những ngày quàn người chết trong nhà đềuphải cúng cơm sớm, chiều Phường nhạc cử nhạc ai, bà con, bạn bè, làng xóm đến viếng Sau khichọn được ngày, giờ tốt làm lễ đưa tang Đám tang có câu đối, linh sàng, nhà táng (nơi đặt linhcữu) Người đưa tang đi sau linh cữu, dọc đường có rắc vàng thoi (bằng giấy) Đến huyệt làm lễ

hạ huyệt và đắp mộ Chôn cất xong về nhà làm lễ tế Ba ngày sau tang chủ làm lễ viếng mộ (lễ

mở cửa mả), được 49 ngày làm lễ chung thất (thôi cúng cơm cho người chết) Sau 100 ngày làm

lễ tốt khốc (thôi khóc) Sau mộ năm làm lễ giỗ đầu, sau ba năm (ở nhiều nơi là hai năm) làm lễhết tang Ngày nay, lễ tang được tổ chức theo nghi thức đơn giản hơn: lễ khâm liệm, lễ nhậpquan, lễ viếng, lễ đưa tang, lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ Người trong gia đình để tang bằng cáchchít khăn trắng hoặc đeo băng tang đen

Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tếtchính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tếtTrung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nôngnghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đuaghe ) Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo vàvăn hoá (hội chùa) Lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng “Lễ” là hệthống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánhnhững ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực

Trang 10

hiện “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộcsống.

Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa Thu làhai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn rỗi Trong số các

lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia đình trên mọi miền tổ quốc,

đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu Gần đây một số lễ hội được nhà nước vànhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Giáng Sinh, Phật đản.v.v

Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội Gióng (xứ KinhBắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Trần, phủ Dày,(xứ Sơn Nam),

lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố ĐàNẵng)

Trong một thời gian dài ước tính từ thế kỷ II sau công nguyên cho đến đầu thế kỷ này, ởnước ta có sự tồn tại song song của Tam giáo, du nhập từ Trung Quốc vào Tam giáo có thay thếnhau giữ vai trò hàng đầu nhưng thực tế là kết hợp với nhau, thẩm thấu vào nhau, chia phạm vivới nhau, chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ta Bên cạnh Tam giáo là sự tồn tại của cáchsuy nghĩ dân gian để dấu vết lại trong các truyện kể và kết tinh trong tục ngữ Cũng cần nói đếnhọc thuyết Âm dương, Ngũ hành, cách phân tích Thời, Thế cũng là những tư tưởng du nhập từTrung Quốc và cũng tồn tại không hoàn toàn độc lập với Nho giáo Tư tưởng đó ảnh hưởng lớnđến các khoa học, giả khoa học và cách suy nghĩ, tính toán trong cuộc sống Sự kết hợp phức tạpgiữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam giáo với cách suy nghĩ dân gian, giữa những thứ đó với Âmdương, Ngũ hành để tìm cách quan niệm thế giới, quan niệm con người, cuộc sống, quan niệm sựvận động, sự đổi thay lịch sử đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam

Có một hệ tư tưởng tồn tại trong lịch sử Việt Nam nhưng không có triết học Việt Nam.Người Việt Nam có một cách nghĩ và cách nghĩ đó có khác Trung Quốc Người Việt Nam có ýthức rõ ràng về thực tế của mình, cởi mở, dễ tiếp nhận cái khác mình, giỏi bắt chước và biết ứngdụng linh hoạt Cho nên họ đã chuyển từ Đông Nam Á sang Đông Á về mặt văn hoá, đã vaymượn rất nhiều ở tư tưởng Trung Quốc nhưng ở đâu cũng có sự lược bỏ, lược bỏ những chỗ khắtkhe, tế toái Lược bỏ cũng có nghĩa là đơn giản hoá, sơ lược hoá

Trang 11

Thế kỷ 19, phong kiến trong nước suy tàn, văn minh Trung Hoa suy thoái, thì văn hóaphương Tây bắt đầu xâm nhập Việt Nam theo nòng súng thực dân Giai cấp công nhân hìnhthành vào đầu thế kỉ 20 theo chương trình khai thác thuộc địa

Sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân là một hoàn cảnh đặc biệt để các nhànho Duy Tân đầu thế kỷ suy nghĩ về vận mệnh đất nước theo hướng giải phóng dân tộc và hiệnđại hóa đất nước Xét theo một ý nghĩa nào đó, chính chủ nghĩa thực dân đóng vai trò “kíchthích” (theo lối phản diện) để giới sĩ phu Duy Tân đặt ra những vấn đề vừa cấp bách vừa căn bảncủa đất nước trong cả thế kỷ XX Phong trào Duy Tân với hai nội dung cơ bản (yêu nước vàcanh tân xã hội để có độc lập dân tộc và xã hội văn minh) là di sản do các vị tiền bối ở đầu thế kỷ

XX để lại cho những kẻ hậu sinh trong thế kỷ này, cho chúng ta hôm nay

Khi Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, việc truyền bá chủ nghĩaMarx-Lenin vào Việt Nam bắt đầu tiến hành thông qua báo chí và các tổ chức cách mạng đượcông thành lập sau đó

Những biến đổi trên trường quốc tế cũng tác động hết sức mạnh mẽ tới những biến đổi tưtưởng và xã hội ở Việt Nam Cho đến đầu những năm 20, trên thực tế chưa có sự phân hóa tưtưởng theo “giai cấp”, hay nói đúng hơn, theo “hệ tư tưởng giai cấp” Sự phân hóa chủ yếu hồi

đó là ở phương thức giành độc lập dân tộc và thay đổi xã hội, giữa bạo lực và phi bạo lực

Vào những năm 20, chủ nghĩa cộng sản (mà lúc đầu là chủ nghĩa Lenin và sau đó là chủnghĩa Marx-Lenin) được gieo trên một mảnh đất khá thuận lợi của những phong trào yêu nước

và cách mạng trong nước Không phải tất cả những người yêu nước và cách mạng đều theo chủnghĩa cộng sản, nhưng rõ ràng nó đã chiếm được trí tuệ và trái tim của một bộ phận đáng kểtrong số đó để dần dần trở thành một lực lượng chính trị chủ đạo

Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiều tàn dư nguyên thuỷkéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt Nam Đó là một lối tư duy lưỡng hợp, mộtcách tư duy cụ thể, thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm,nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thích nghi Đó là một lối sống nặng tình nghĩa,đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước (vì nước mất nhà tan, lụt thì lút cả làng) Đó là một cáchhành động theo xu hướng giải quyết dung hoà, quân bình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thờicũng khôn khéo giỏi ứng biến đã từng nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnhtrong lịch sử Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽNhân với Nghĩa, Nhân với Đức, bất nhân bất nghĩa đồng nghĩa với thất đức

1.4 Ngôn ngữ

Về nguồn gốc tiếng Việt, có giả thuyết cho rằng tiếng Việt thuộc dòng Môn-Khmer củangữ hệ Đông Nam Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt – Mường (hay tiếng Việt cổ) rồi tách ra.Trong tiếng Việt hiện đại, có nhiều từ được chứng minh có gốc Môn-Khmer và tương ứng về ngữ

âm, ngữ nghĩa khi so sánh với tiếng Mường

Trang 12

Trước đó, trải qua nghìn năm Bắc thuộc, và dưới các triều đại phong kiến, ngôn ngữchính thống là chữ Hán, nhưng đó cũng là thời gian tiếng Việt tỏ rõ sức sống đấu tranh tự bảo tồn

và phát triển Chữ Hán được đọc theo cách của người Việt, gọi là cách đọc Hán – Việt và đượcViệt hóa bằng nhiều cách tạo ra nhiều từ Việt thông dụng Thế kỷ XIII, chữ Nôm ra đời và được

sử dụng rộng rãi Đến thời kỳ Pháp thuộc, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thế bằng tiếng Pháp dùngtrong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoại giao; và đến nay vẫn tồn tại khá nhiều từ gốc Pháptrong ngôn ngữ chúng ta sử dụng hàng ngày

Thời gian sau đó chữ quốc ngữ xuất hiện Chữ quốc ngữ là sản phẩm của một số giáo sĩphương Tây trong đó có Alexandre de Rhodes và một số người Việt Nam dựa vào bộ chữ cáiLatinh để ghi âm tiếng Việt dùng trong việc truyền giáo vào thế kỉ XVII Chữ quốc ngữ dần đượchoàn thiện, phổ cập, trở thành công cụ văn hóa quan trọng

Đặc điểm của tiếng Việt: đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong phú, giầu âm sắc hình ảnh,lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động, dễ chuyển đổi, thiên về biểu trưng, biểu cảm, rấtthuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật

1.5 Văn học

Văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần là văn học dân gian (truyềnmiệng) và văn học viết Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng, có công lớn gìn giữ phát triểnngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sử thi,truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiều màu sắc các dân tộc ởViệt Nam Một số tác phẩm nổi bật: Truyền thuyết Thánh Gióng, Cổ tích Sọ Dừa…

Văn học viết ra đời từ khoảng thế kỉ X Cho đến đầu thế kỉ XX cũng có hai bộ phận songsong tồn tại: chữ Hán (có thơ, văn xuôi, thể hiện tâm hồn, hiện thực Việt Nam nên vẫn là vănchương Việt Nam) và chữ Nôm (hầu như chỉ có thơ, lưu truyền lại nhiều tác phẩm lớn) Từnhững năm 20 của thế kỉ XX, văn học viết chủ yếu sáng tác bằng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ,

có sự cách tân sâu sắc về các hình thức thể loại như tiểu thuyết, thơ mới, truyện ngắn, kịch và

sự đa dạng về xu hướng nghệ thuật, đồng thời phát triển với tốc độ nhanh, nhất là sau Cách mạngtháng Tám đi theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng về cuộc sống chiếnđấu và lao động của nhân dân Có thể coi Việt Nam là một dân tộc sính thơ, bởi bất cứ ai trongbất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể làm thi sĩ

Nội dung chủ yếu trong văn học Việt Nam là lòng yêu nước bất khuất chống ngoại xâm ởmọi thời kỳ, và dòng văn chương phản phong kiến thường thông qua thân phận người phụ nữ.Phê phán các thói hư tật xấu của xã hội cũng là mảng đề tài quan trọng Các thi hào dân tộc lớnđều là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn

Văn học Việt Nam hiện đại phát triển từ lãng mạn đến hiện thực, từ âm hưởng chủ nghĩaanh hùng trong chiến tranh đang chuyển sang mở rộng ra toàn diện cuộc sống, đi vào đời thường,tìm kiếm các giá trị đích thực của con người

Trang 13

Văn học cổ điển đã tạo nên những kiệt tác như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Cung óanngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Quốc âm thi tập (NguyễnTrãi) Việt Nam từ mấy thế kỉ trước đã có những cây bút nữ độc đáo: Hồ Xuân Hương, ĐoànThị Điểm, Bà huyện Thanh Quan.

Văn xuôi hiện đại có những tác giả không thể nói là thua kém thế giới: Nguyễn CôngHoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao Bên cạnh đó lànhững nhà thơ đặc sắc như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, TốHữu Tiếc rằng hiện nay chưa có những tác phẩm lớn phản ánh đầy đủ, trung thực và xứng đángđất nước và thời đại

1.6 Nghệ thuật

Việt Nam có khoảng 50 nhạc cụ dân tộc, trong đó bộ gõ là phổ biến nhất, đa dạng nhất và

có nguồn gốc lâu đời nhất (trống đồng, cồng chiêng, đàn đá, đàn tơ rưng ) Bộ hơi phổ biến làsáo, khèn, còn bộ dây độc đáo nhất có đàn bầu và đàn đáy

Thể loại và làn điệu dân ca Việt Nam rất phong phú khắp Trung, Nam, Bắc: từ ngâm thơ,hát ru, hò đến hát quan họ, trống quân, xoan, đúm, ví giặm, ca Huế, bài chòi, lý, ngoài ra còn cóhát xẩm, chầu văn, ca trù

Nghệ thuật sân khấu cổ truyền có chèo, tuồng Rối nước cũng là một loại hình sân khấutruyền thống đặc sắc có từ thời Lý Đầu thế kỉ XX, xuất hiện cải lương ở Nam bộ với các điệuvọng cổ

Nghệ thuật thanh sắc Việt Nam nói chung đều mang tính biểu trưng, biểu cảm, dùng thủpháp ước lệ, giầu chất trữ tình Sân khấu truyền thống giao lưu mật thiết với người xem và tổnghợp các loại hình ca múa nhạc Múa Việt Nam ít động tác mạnh mẽ mà đường nét uốn lượn mềmmại, chân khép kín, múa tay là chính

Ở Việt Nam, nghệ thuật chạm khắc đá, đồng, gốm đất nung ra đời rất sớm có niên đại

10000 năm trước Công nguyên Sau này gốm tráng men, tượng gỗ, khảm trai, sơn mài, tranh lụa,tranh giấy phát triển đến trình độ nghệ thuật cao Nghệ thuật tạo hình Việt Nam chú trọng diễn tảnội tâm mà giản lược về hình thức, dùng nhiều thủ pháp cách điệu, nhấn mạnh

2 Văn hóa vật chất của người Việt Nam

2.1 Ẩm thực

Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc sống Nhất là đối vớingười Việt Nam, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn hóa về tinh thần.Qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giá con người, trình độ vănhóa của dân tộc với những đạo lý, phép tắc, phong tục trong cách ăn uống…

Trang 14

Người Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc mặc bền Đầu tiên là ăn, có thực mới vực đượcđạo, trời đánh còn tránh bữa ăn Cơ cấu bữa ăn thiên về thực vật, cơm rau là chính cộng thêmthuỷ sản Luộc là cách nấu ăn đặc sắc của Việt Nam Nhưng cách thức chế biến món ăn lại giầutính tổng hợp, kết hợp nhiều chất liệu và gia vị Ngày nay có nhiều thịt cá, vẫn không quên vịdưa cà.

Văn hóa ẩm thực người Việt được biết đến với những nét đặc trưng như: tính hòa đồng,

đa dạng, ít mỡ; đậm đà hương vị với sự kết hợp nhiều loại gia giảm để tăng mùi vị, sức hấp dẫntrong các món ăn Việc ăn thành mâm và sử dụng đũa và đặc biệt trong bữa ăn không thể thiếucơm là tập quán chung của cả dân tộc Việt Nam

Trong bữa ăn cả truyền thống và hiện đại người Việt đều chú ý tới các yếu tố để khôngchỉ đảm bảo dinh dưỡng mà còn đảm bảo hài hòa Âm Dương của thức ăn; bảo đảm sự quân bình

Âm Dương trong cơ thể và bảo đảm sự cân bằng Âm Dương giữa con người với môi trường tựnhiên

Thứ nhất, bảo đảm hài hòa Âm Dương của thức ăn Để tạo nên các món ăn có sự cânbằng Âm Dương , người Việt phân biệt năm mức Âm Dương của thức ăn theo Ngũ Hành, baogồm: Hàn (lạnh, âm nhiều, hành thủy), Nhiệt (nóng, dương nhiều, hành hỏa), Ôn (ấm, dương ít,hành mộc), Lương (mát, âm ít, hành kim), Bình (trung tính, hành thổ)

Thứ hai, bảo đảm sự quân bình Âm Dương trong cơ thể Người Việt Nam sử dụng thức

ăn như là các vị thuốc để trị bệnh Theo quan niệm của người Việt Nam thì mọi bệnh tật sinh ra

là do cơ thể bị mất quân bình Âm Dương , thức ăn chính là vị thuốc để điều chỉnh sự mất quânbình Âm Dương ấy, giúp cơ thể khỏi bệnh

Thứ ba, bảo đảm sự quân bình Âm Dương giữa con người và môi trường Người ViệtNam có tập quán ăn uống theo vùng khí hậu và theo mùa Chẳng hạn, mùa hè nóng (nhiệt – hànhhỏa) nên ăn các loại thức ăn hàn, lương (mát), có nước (âm – hành Thủy), có vị chua (âm) thìvừa dễ ăn, vừa dễ tiêu hóa, vừa giải nhiệt Mùa đông lạnh (hàn – âm) thì nên ăn các loại thức ănkhô, nhiều mỡ (dương), như các món xào, rán, kho…

Bên cạnh những nét chung đó thì mỗi một vùng miền lại có những nét đặc trưng ẩm thựcriêng:

Ẩm thực miền Bắc: món ăn có vị vừa phải, không quá nồng nhưng lại có màu sắc sặc sỡ,thường không đậm các vị cay, béo, ngọt, chủ yếu sử dụng nước mắm loãng, mắm tôm Hà Nộiđược xem như tinh hoa ẩm thực của miền Bắc với những món ăn ngon như phở, bún thang, búnchả, bún ốc, cốm làng Vòng, bánh cuốn Thanh trì và gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rauhúng Láng

Ẩm thực miền Trung: Người miền Trung lại ưa dùng các món ăn có vị đậm hơn, nồng độmạnh Tính đặc sắc thể hiện qua hương vị đặc biệt, nhiều món cay hơn đồ ăn miền Bắc và miền

Trang 15

nam Màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm Ẩm thực miềnTrung nổi tiếng với mắm tôm chua, các loại mắm ruốc Ẩm thực cung đình Huế với phong cách

ẩm thực hoàng gia không chỉ rất cay, rất nhiều màu sắc mà còn chú trọng vào số lượng các món

ăn, cách bày trí món

Ẩm thực miền Nam: Do chịu nhiều ảnh hưởng của ẩm thực Trung Hoa, Campuchia, TháiLan nên các món ăn của người miền Nam thiên về độ ngọt, độ cay Phổ biến các loại mắm khônhư mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía… Có những món ăn dân dã, đặc thù như: chuộtđồng khìa nước dừa, dơi quạ hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, đuông đất hoặcđuông chà là, vọp chong, cá lóc nướng trui…

Ẩm thực các dân tộc thiểu số: Ẩm thực của mỗi dân tộc thiểu số đều có những bản sắcriêng biệt Nổi tiếng như món thịt lợn sống trộn phèo non của các dân tộc Tây Nguyên, bánhcuốn trứng (Cao Bằng, Lạng Sơn), bánh coong phù dân tộc Tày, Lợn sữa và vịt quay móc mật,khau nhục Lạng Sơn, phở chua, cháo nhộng ong, phở cồn sủi, thắng cố, các món xôi nếp nươngcủa người Thái, thịt chua Thanh Sơn Phú Thọ…

2.2 Mặc (trang phục, trang điểm)

Sau ăn uống tới mặc trang phục Nhưng mặc là để đối phó, trước hết với khí hậu thời tiết,sau nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ và phù hợp với công việc Trang phục Việt Nam, trước hết,thích hợp với khí hậu, thời tiết và nghề nông nghiệp Sau nữa, theo quan điểm thẩm mỹ, ngườiViệt ưa ăn mặc bình dị, kín đáo (không thích sắc màu sặc sỡ và hở hang)

Sử dụng chất liệu thực vật nhẹ thoáng Tơ tằm là loại đặc biệt nửa thực vật nửa động vật(con sâu tằm chế biến lá dâu thành sợi tơ) Tơ tằm dệt nên rất nhiều loại vải từđơn giản đến quígiá: tơ, lụa, lượt, là, the, nhiễu, đoạn,sồi, đũi, lĩnh, thao,(nón quai thao) nái, địa, đến gấm vóc.Ngoài tơ tằm, còn dùng các loại cây thông thường khác như sợi gai, sợi đay, sợi bông và tơ chuối(đặc biệt, tơ chuối mịn màng, nhẹ, mặc mùa nóng rất mát mặc dù dễ rách)

Phụ nữ mặc váy, áo, và yếm Nam giới đóng khố hoặc mặc quần đùi (xà lỏn) Chiếc áolâu bền nhất đến nay còn lại là áo cánh (cách gọi miền Bắc hoặc áo bà ba 9 nam bộ) Áo lễ hộicủa phụ nữ là chiếc áo dài có hai loại tứ thân và năm thân, cài khuy bên trái Riêng nam giới vềsau cài khuy bên phải (áo cánh lệch tà) theo ảnh hưởng phần nào của Trung Quốc Sang thế kỉ

20, chiếc áo dài phụ nữ được cải tiến một bước nữa và trở thành kiểu áo đặc sắc vừa truyềnthống vừa hiện đại mà vẫn được coi là biểu tượng văn hóa Việt Nam Nam giới cũng mặc áo dàikhi trang trọng (cúng lễ, hội hè và những công việc nghiêm trang như ở công sở nơi dạy học).Ngày nay Âu phục đã hầu như thay thế hẳn loại áo dài nam giới Nhìn chung, trang phục nữ giớigiữ theo truyền thống lâu bền hơn nam giới

2.3 Nhà ở

Đối với nông nghiệp thì ngôi nhà chính là tổ ấm để đối phó với thời tiết nóng lạnh, nắngmưa, gió bão Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho họ 1 cuộc sống

Trang 16

định cư ổn định: "Có an cư thì mới có lạc nghiệp" hay "thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần" Dongôi nhà chiếm vị trí quan trọng đặc biệt trong cuộc sống nên nhà được đồng nhất với gia đình.

Ngôi nhà ở Việt Nam có những đặc điểm sau:

Do khu vực cư trú nên ngôi nhà của người Việt thường gắn liền với môi trường sôngnước Những người sống bằng nghề sông nước (chài lưới, chở đò ) thường lấy thuyền, bè là nhà

ở gọi là nhà thuyền, nhà bè, nhiều gia đình gọi là xóm chài và làng chài Tuy vậy nhưng họ vẫn

có nhà trên sàn trên mặt nước để ứng phó với việc ngập lụt và khí hậu nhiệt đới với độ ẩm caothêm vào đó là hình mái cong Mái cong ngoài ý nghĩa là con thuyền thì ko có tác dụng thực tế

gì, tạo dáng vẻ thanh thoát đặc biệt và gợi cảm giác bay bổng cho ngôi nhà vốn được trải rộngtrên mặt bằng để hòa mình vào thiên nhiên

Để đối phó với môi trường tự nhiên tiêu chuẩn ngôi nhà ở Việt Nam về mặt cấu trúc lànhà cao cửa rộng Kiến trúc mở tạo không gian thoáng mát, giao hòa với tự nhiên, cái cao củangôi nhà VN bao gồm 2 yêu cầu : sàn và nền cao so với mặt đất và mái cao so với sàn/ nền Nhàcao mà cửa ko cao mà phải rộng, của ko cao để tránh ảnh nắng chiếu xiên vào còn cửa rộng đểđón gió mát và tránh nóng

Biện pháp quan trong ko kém là chọn hướng nhà, chọn đất, tận dụng tối đa thế mạnh củamôi trường tự nhiên Hướng nhà tiêu biểu là hướng Nam "Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam".Nhưng tùy thuộc vào địa hình địa vật xung quanh vào sự có mặt của núi rừng, của sông, của conđường "Phong" và "Thủy" là 2 yếu tô quan trọng nhất, thuật phong thủy được xây dựng trên

âm dương ngũ hành do vậy mà nhà phong thủy cần nắm vững hướng gió và hướng nước để âmdương được điều hòa là tốt nhất Tuy nhiên trong việc "chọn nơi mà ở" thì người Việt còn có tínhcộng đồng mà ko thể quên làng "Nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cậnđiền"

Về cách thức kiến trúc thì đặc điểm của ngôi nhà VN truyền thống là rất động và linhhoạt Chất động linh hoạt đó trước hết được thể hiện ở lối kết cấu khung, cốt lõi của ngôi nhà là

bộ phận khung chịu lực tạo nên bởi các bộ phận liên kết với nhau trong ko gian 3 chiều: theochiều đứng, theo chiều ngang và theo chiều dọc Tất cả các chi tiết của ngôi nhà được liên kết vớinhau bằng mộng, mộng là cách ghép theo nguyên lý âm dương phần lồi ra của 1 bộ phận này vớichỗ lõm vào có hình dáng và kích thước tương ứng của 1 bộ phận khác

Về hình thức kiến trúc thì ngôi nhà là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống vănhóa dân tộc Trước hết là môi trường sông nước phản ánh qua cách làm nhà sàn với vách riêng vàmái cong hình thuyền Rồi tính cộng đồng thể hiện ở việc trong nhà ko chia thành nhiều phòngnhỏ biệt lập như phương tây

Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu khách cho nên việc ưu tiên cho

bộ bàn ghế tiếp khách là ko ngoại lệ Hình thức kiến trúc ngôi nhà còn tuân thủ nguyên tắc coi

Trang 17

trọng số lẻ của truyền thống văn hóa nông nghiệp : Ngọ môn 5 cửa 9 lầu, cột cờ 3 cấp, số giancủa ngôi nhà bao giờ cũng là số lẻ.

Cách liên kết theo lối ghép mộng âm dương giúp cho các bộ phận vừa gắn bó chặt chẽ lạivừa cơ động và linh hoạt Nhìn chung chỉ trong 1 việc ở, ta cũng thấy nguyên lý âm dương và ýmuốn hướng tới 1 cuộc sống hài hòa chi phối con người Việt Nam 1 cách trọn vẹn

2.4 Sự đi lại

Trước đây, hoạt động đi lại của người dân nông nghiệp Việt Nam trong một phạm vingắn, từ nhà ra ruộng đồng, gò bãi Do đó, chủ yếu chỉ dùng sức người mà vận chuyển trong sảnxuất và sinh hoạt

Giao thông đường bộ Việt Nam rất kém phát triển Trên những con đường nhỏ, chỉ có sứcđôi chân (đi bộ, lội bộ) hiếm khi có xe trâu bò, ngựa, voi Quan lại, nhà giàu đi bằng kiệu, cáng

Về sau có xe tay, rồi đến xe đạp, xích lô Giao thông đường thủy phát triển mạnh hơn nhưngcũng chỉ có phương tiện thô sơ trên sông ngòi chằng chịt, ít có tàu chạy biển

Hình ảnh con thuyền và sông nước in đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần người ViệtNam, vừa gần gũi thân thiết vừa lãng mạn bay bổng Hàng trăm câu tục ngữ, ca dao, dân catruyện cổ gắn liền với sông nước, đôi bờ, đầu sông, cuối sông, đò ngang, đò dọc Những sáng tácvăn học - nghệ thuật dân tộc ưa thích, đề tài, bối cảnh sông nước Đặc biệt người Nam bộ gọi cảviệc đi bộ là “lội bộ” Khi người chết, cũng theo tín ngưỡng dân gian, còn đi chuyến đò cuốicùng qua “chín suối” Khi hát cầu kinh trong đám tang, các bà vãi hát bài “chèo đò” đưa tiễn linhhồn

Trang 18

Chính sách ngo i giao văn hóa c a Vi t ạ ủ ệ Nam

1 Quan điểm về ngoại giao văn hóa của Việt Nam

Ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là ba trụ cột củanền ngoại giao toàn diện, hiện đại Việt Nam Ba trụ cột này gắn bó, tác động lẫn nhau, góp phầnthực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Ngoại giao chính trị có vai trò định hướng,ngoại giao kinh tế là nền tảng vật chất và ngoại giao văn hóa là nền tảng tinh thần của hoạt độngđối ngoại

Ngoại giao văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng, không có tổ chức bộ máy riêng mà

là hoạt động và nhiệm vụ chung của các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, cácđịa phương, mọi người dân Việt Nam và kiều bào ta ở nước ngoài dưới sự quản lý thống nhất củaNhà nước

Hoạt động ngoại giao văn hóa dựa trên các quan điểm được nêu rõ tại Cương lĩnh Xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (bổsung, sửa đổi năm 2011): “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triểntoàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ;làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnhnội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp củacộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hộidân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức,thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”

Sự phát triển của nền văn hóa của đất nước là nền tảng cho hoạt động quảng bá văn hóacủa Việt Nam đối với thế giới nói chung và cho hoạt động ngoại giao văn hóa nói riêng và việctriển khai ngoại giao văn hóa trong giai đoạn 2010 - 2020 cần có trọng tâm, trọng điểm, đúng đốitượng, phù hợp với điều kiện và khả năng đáp ứng kinh tế của đất nước

2 Mục tiêu

Ngoại giao văn hóa Việt Nam hướng tới hai mục tiêu, đó là tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động ngoại giao và phát triển văn hóa quốc gia Trong đó, mục tiêu tạo thuận lợi cho ngoạigiao nhằm mục đích góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vànâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Ngoại giao văn hóa góp phần phục vụ, thực hiện các mục tiêu và chiến lược chính trị đốingoại nói chung của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, với đặc thù và thế mạnh của mình, ngoạigiao văn hóa tạo ra các “kênh hoạt động” chuyên biệt để đạt tới các mục tiêu trên Về khía cạnh

an ninh, trên cơ sở tăng cường sự hiểu biết và hiểu biết “tích cực” để tạo lập môi trường thân

Trang 19

thiện, thuận lợi cho hoạt động ngoại giao, bảo đảm cho mối quan hệ tốt đẹp Về kinh tế - xã hội,ngoại giao văn hóa là một cách quảng bá hình ảnh quốc gia, bộ mặt nền kinh tế, kèm theo đó làtiếp thị các sản phẩm của nền kinh tế, dịch vụ kinh tế, văn hóa.

Đối với mục tiêu cụ thể, ngoại giao văn hóa góp phần nâng cao sự hiểu biết đúng đắn vàsâu sắc hơn về đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam Đồng thời, các hoạt động ngoạigiao văn hóa góp phần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêmnhững giá trị văn hóa truyền thống của đất nước Thông qua giao lưu văn hóa, các kênh thông tinvăn hóa đối ngoại, như báo chí, phát thanh, truyền hình, hội nghị, hội thảo khoa học, ngoạigiao văn hóa góp phần tạo dựng lòng tin cho việc xây dựng mối quan hệ hợp tác và hữu nghị lâudài giữa Việt Nam với các nước trong cộng đồng quốc tế

3 Ưu điểm và hạn chế

Trong những năm gần đây, hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam đánh dấu một bướcphát triển mới thể hiện qua những thành tựu đặc biệt đóng góp vào thành công chung của ngoạigiao Việt Nam

Trước hết, ngoại giao văn hóa bước đầu gắn kết với ngoại giao chính trị, góp phần quảng

bá văn hóa và tăng cường hiểu biết giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế, tạo dựng lòng tin cho việcxây dựng mối quan hệ hữu nghị lâu dài Những sự kiện văn hóa thường được gắn liền với cácchuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Đặc biệt, những thành tựu của công cuộc đổi mới, môi trườngchính trị ổn định, đất nước hòa bình, con người thân thiện, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều disản văn hóa dân tộc, lễ hội truyền thống đặc sắc, là những hình ảnh thường xuyên được thôngtin, tuyên truyền, quảng bá, thu hút sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

Có thể kể đến như vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 của Việt Nam đã được phát huy trong việc tổchức nhiều hoạt động quảng bá, không chỉ tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các nước thànhviên ASEAN, mà còn giới thiệu hình ảnh Việt Nam với thế giới Trên cương vị thành viên Hộiđồng chấp hành UNESCO (2009 - 2013), Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc ký kết Hiệpđịnh hợp tác khung giữa ASEAN và UNESCO Năm 2013, Việt Nam là một trong 22 nước ứng

cử và được bầu vào Ủy ban Liên chính phủ Công ước 1972 (nhiệm kỳ 2013 - 2017) Ngoài ra,Tuần văn hóa Việt Nam, Ngày văn hóa Việt Nam, đã trở thành hoạt động ngoại giao văn hóaquan trọng của Việt Nam tại nhiều nước

Thứ hai, hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam góp phần tích cực vận động, mang lạiniềm tự hào về các danh hiệu văn hóa thế giới Chẳng hạn như, trong khuôn khổ các hoạt độngvăn hóa nghệ thuật kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO đã traogiấy chứng nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới, góp phần giới thiệu hìnhảnh một Thủ đô giàu truyền thống văn hóa ra thế giới Hà Nội cũng trở thành thành phố đầu tiêntrên thế giới được UNESCO công nhận 3 di sản trong cùng một năm Cũng trong năm 2010, caonguyên đá Đồng Văn tại tỉnh Hà Giang được UNESCO công nhận là thành viên mạng lưới vườnquốc gia toàn cầu GNN Như vậy, hiện nay ở Việt Nam đã có 19 di sản thế giới, trong đó có 2 disản thiên nhiên, 5 di sản văn hóa, 8 di sản văn hóa phi vật thể, 3 di sản tư liệu và 1 di sản địa chất

Trang 20

toàn cầu Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân Việt Nam mà còn là cơ hội để cộng đồngquốc tế chia sẻ và thưởng thức các giá trị văn hóa - tinh thần của Việt Nam.

Thứ ba, thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa, các giá trị, tinh hoa văn hóa và trithức của các nước trên thế giới đã được tiếp thu có chọn lọc nhằm góp phần làm phong phú thêmnền văn hóa của Việt Nam, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân, đồng thờichuyển tải nhiều ý tưởng và chương trình lớn của Liên hợp quốc và UNESCO vào các chươngtrình hành động quốc gia, như xây dựng xã hội học tập, xã hội thông tin, giáo dục cho mọingười,

So với một số nước trong khu vực, hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam cũng cònnhững hạn chế nhất định, như sự đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của một quốcgia dân tộc có bề dày lịch sử văn hóa hàng nghìn năm Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, hòa bình đãđến với người dân Việt Nam trong nhiều thập niên qua, nhưng ở nơi này, nơi khác trên thế giớichỉ biết đến Việt Nam là một đất nước “anh hùng trong chiến đấu” nhưng vẫn trong tình trạngnghèo nàn, lạc hậu, mà chưa thực sự biết đến vị thế mới của một quốc gia đang “đổi mới từngngày”, có ý thức vươn lên mạnh mẽ và là một điểm đến thân thiện, an toàn với nhiều chính sáchcởi mở, thông thoáng đối với các nhà đầu tư Trong khi đó, hành lang pháp lý về bảo tồn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc, những quy định trong hợp tác quốc tế ở lĩnh vực văn hóa vẫn chưađược hoàn thiện, biểu hiện trên thực tế là sự xuống cấp của một số công trình văn hóa hoặc việctiếp thu tràn lan văn hóa ngoại Công tác quảng bá, tuyên truyền hình ảnh đất nước chưa đượctriển khai thường xuyên, mạnh mẽ, sâu rộng và tiềm lực “xuất khẩu văn hóa Việt” ra nước ngoàicòn hạn chế Do vậy, mức độ ảnh hưởng của vị thế, sức mạnh quốc gia của Việt Nam đến với cácnước chưa mang lại nhiều hiệu quả như kỳ vọng

Trang 21

Kinh nghi m c a các n ệ ủ ướ c và đ xu t ề ấ cho Vi t Nam ệ

1 Kinh nghiệm của các nước

1.1 Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia rất thành công với các hoạt động ngoại giao văn hóa, tạo dựng vàphát huy ảnh hưởng của Nhật Bản ra khắp thế giới thay cho sức mạnh quân sự, nổi bật là thànhtựu đưa nước Nhật ra thế giới với hình ảnh quốc gia của hoa anh đào, núi Phú Sĩ và truyền thốngvăn hóa lâu đời Để làm được điều đó, Nhật Bản đã rất coi trọng đầu tư vào việc triển khai cáchoạt động ngoại giao văn hóa

Các công cụ truyền bá chủ chốt là sự phổ cập tiếng Nhật, giao lưu văn hóa, nghệ thuậthiện đại, tác phẩm văn học và nghệ thuật sân khấu như truyện tranh, hoạt hình, âm nhạc, điệnảnh,… Sách lược ngoại giao văn hóa Nhật Bản cũng không quên lực ảnh hưởng truyền bá đốingoại của loại văn hóa đời sống như văn hóa khoa học và văn hóa thời trang Nhật Bản đã mởhàng trăm trung tâm văn hóa Nhật Bản, trung tâm dạy tiếng Nhật, cho người nước ngoài, tạiNhật và tại rất nhiều quốc gia trên thế giới; tài trợ cho sinh viên Nhật ra nước ngoài du học; tăngcường quảng bá các sản phẩm văn hóa Nhật ra thế giới như truyện tranh, hoạt hình anime (hoạthình được sản xuất theo phong cách vẽ riêng của Nhật Bản), búp bê Hello Kitty…; tổ chức cáchoạt động giới thiệu văn hóa truyền thống như trà đạo, hoa anh đào, võ thuật Bên cạnh đó, ẩmthực Nhật Bản với cách chế biến đặc trưng như sushi, sashimi cũng được truyền bá rộng rãi trênthế giới, chỉ riêng ở Việt Nam cũng có đến hàng trăm nhà hàng ẩm thực Nhật Bản Ngoài cáchoạt động quảng bá bên ngoài, Chỉnh phủ Nhật Bản cũng không ngừng tranh thủ các đối tượngnước ngoài, đặc biệt là các đoàn ngoại giao Mỗi khi có dịp lễ hội, Hoàng gia Nhật thường tổchức các hoạt động giới thiệu hoa anh đào cho các đoàn ngoại giao tại Nhật Bản

Với lịch sử hấp thu văn hóa ngoại lai, trong quốc sách văn hóa, Nhật hấp thu chủ thể vănhóa khác nhau trong lĩnh vực khác nhau để làm nguồn hoạt lực kích thích văn hóa Nhật Bản Khi

đề xuất quan niệm hấp thu, Nhật Bản đã để điểm đặt lực của ngoại giao văn hóa vào “hấp thu cótính sáng tạo” đồng thời muốn làm cho Nhật Bản trở thành “căn cứ sáng tạo văn hóa” tràn đầysức sống Các phương thức thúc đẩy hấp thu văn hóa là tích cực tiếp nhận lưu học sinh nướcngoài và đưa vào hạng mục “loại hình nhập cư”, cung cấp điều kiện cư trú thích đáng cho ngườinước ngoài; thúc đẩy giao lưu nhân tài tạo cơ hội cho họ cư trú, nghiên cứu và dùng thể chế linhhoạt thu dùng nhân tài quốc tế

Nhật Bản là quốc gia đi đầu trong việc kêu gọi các nước cùng bảo vệ các giá trị văn hóachung của nhân loại, với mục tiêu nâng cao lòng tôn sùng và cộng sinh Nhật Bản chủ trươngviệc trao đổi văn hoá trên thế giới không nên dẫn đến sự xung đột giữa các nền văn hoá, mà tất

cả các nền văn hoá nên được xem như là những tài sản đặc biệt của con người, tất cả những gì là

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Bảng điểm đánh giá của nhóm - Van hoa vit nam
2. Bảng điểm đánh giá của nhóm (Trang 42)
w