Nhiệm vụ học tập và nghiên cứu để nâng cao trình độ nhận thức lý luận về pháp luật cũng như các quy định pháp luật cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn là yêu cầu cấp thiết với học sinh, sinh viên, học viên các hệ đào tạo trong nhà trường. Do đó môn học Pháp luật đại cương ngày càng được coi trọng trong các cấp học. Nâng cao nhận thức về luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện Việt Nam tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuất phát từ những yêu cầu trên, để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức xuất bản và giới thiệu cuốn sách “Hỏi đáp Pháp luật đại cương”. Cuốn sách được các tác giả biên soạn trên cơ sở tham khảo khung chương trình môn học Pháp luật đại cương của các trường đại học chuyên ngành, các học viện và một số tài liệu tham khảo mới được ban hành. Cuốn sách “Hỏi đáp Pháp luật đại cương” được biên soạn dưới dạng Hỏi Đáp, cung cấp những khái niệm chung nhất về các hiện tượng nhà nước và pháp luật cho sinh viên, học viên hệ đại học chính quy, đại học tại chức, đại học từ xa của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Đồng thời có sự cập nhật những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước cũng như các quy định mới trong các văn bản quy phạm pháp luật. Những kiến thức này làm cơ sở cho việc nghiên cứu những môn pháp luật chuyên ngành và các ngành khoa học xã hội khác. Đây là một trong những cuốn sách tham khảo nằm trong Tủ sách Học tập và nghiên cứu các môn học ngành khoa học xã hội nhân văn mà Nhà xuất bản đồng thời giới thiệu đến bạn đọc
Trang 1HỎI VÀ ĐÁP PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
HỎI VÀ ĐÁP PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
(Dùng cho học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các trường
đại học, cao đẳng)
(Tái bản lần thứ 2)
Tác giả: TS TRẦN THỊ CÚC
TS NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
LỜI NÓI ĐẦU
Nhiệm vụ học tập và nghiên cứu để nâng cao trình độ nhận thức lý luận
về pháp luật cũng như các quy định pháp luật cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn là yêu cầu cấp thiết với học sinh, sinh viên, học viên các hệ đào tạo trong nhà trường Do đó môn học Pháp luật đại cương ngày càng được coi trọng trong các cấp học
Nâng cao nhận thức về luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện Việt Nam tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam
Xuất phát từ những yêu cầu trên, để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức xuất bản và giới thiệu cuốn sách “Hỏi & đáp Pháp luật đại cương” Cuốn sách được các tác giả biên soạn trên cơ sở tham khảo khung chương trình môn học Pháp luật đại cương của các trường đại học chuyên ngành, các học viện và một số tài liệu tham khảo mới được ban hành
Cuốn sách “Hỏi & đáp Pháp luật đại cương” được biên soạn dưới dạng Hỏi & Đáp, cung cấp những khái niệm chung nhất về các hiện tượng nhà
Trang 2nước và pháp luật cho sinh viên, học viên hệ đại học chính quy, đại học tại chức, đại học từ xa của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Đồng thời có sự cập nhật những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước cũng như các quy định mới trong các văn bản quy phạm pháp luật Những kiến thức này làm cơ sở cho việc nghiên cứu những môn pháp luật chuyên ngành và các ngành khoa học xã hội khác Đây là một trong những cuốn sách tham khảo nằm trong Tủ sách Học tập và nghiên cứu các môn học ngành khoa học xã hội & nhân văn mà Nhà xuất bản đồng thời giới thiệu đến bạn đọc.
Mặc dù các tác giả cố gắng tìm tòi trong quá trình nghiên cứu và biên soạn, Nhà xuất bản đã rất công phu trong các khâu thẩm định về nội dung cũng như hình thức trình bày, song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý quý báu của đông đảo bạn đọc, các nhà nghiên cứu để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
trong sự tác động qua lại lẫn nhau:
+ Nhà nước ban hành ra pháp luật, ngược lại pháp luật lại tác động trực tiếp tới các hoạt động của Nhà nước: quy định các hoạt động cụ thể của
hệ thống bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị khác
+ Đại cương về nhà nước và Pháp luật nghiên cứu những thuộc tính cơ bản của Nhà nước và Pháp luật như: các khái niệm; nguồn gốc, bản chất,
Trang 3chức năng, hình thức, vai trò và giá trị xã hội cũng như những quy luật đặc thù cơ bản của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Nhà nước và Pháp luật.
– Thứ hai: Nhà nước và Pháp luật đại cương - đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học:
– Thứ ba: Nhà nước và Pháp luật tồn tại và phát triển trong mối liên hệ
với hệ thống kiến thức chung của khoa học xã hội như: triết học; kinh tế– chính trị học, chính trị học, lịch sử , bởi vì:
+ Triết học với tư cách là cơ sở thế giới quan của các ngành khoa học, đặc biệt là đối với Nhà nước và Pháp luật đại cương
+ Kinh tế – chính trị là khoa học về những quy luật của đời sống kinh tế – xã hội Các khái niệm của kinh tế – chính trị học (lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất, sở hữu, quy luật giá trị…) có ý nghĩa to lớn đối với nhà nước và Pháp luật đại cương
+ Chính trị học nghiên cứu các quy luật và tính quy luật trong sự hình thành và phát triển của chính trị; quyền lực chính trị; quyền lực Nhà nước; các
cơ chế, phương thức thực hiện quyền lực nhà nước trong xã hội được tổ chức thành Nhà nước
Câu 2: Nguồn gốc xuất hiện của nhà nước là gì?
Có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước, song có thể xem xét hai quan điểm chính về nguồn gốc nhà nước sau:
1 Quan điểm phi mácxít
Trang 4Các học giả phi mácxít khi giải thích về nguồn gốc Nhà nước đều không dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và cho rằng:
“Nhà nước là một hiện tương xã hội phức tạp và đa dạng tồn tại một cách khách quan” Đặc trưng của quan điểm này là các học thuyết sau:
– Thuyết Thần học: Đại diện là Ph.Acvin, Masiten, Koet Theo thuyết
này, thượng đế là người sắp đặt ra trật tự xã hội, còn nhà nước do Thượng
đế tạo ra để bảo vệ xã hội Vì thế, nhà nước là lực lượng siêu nhiên, còn quyền lực nhà nước là vĩnh cửu Cho nên, con người phục tùng nhà nước là cần thiết và tất yếu
– Thuyết Gia trưởng: Nhà nước ra đời từ gia đình, cho nên nhà nước
tồn tại trong mọi xã hội Quyền lực nhà nước giống quyền lực của người đứng đầu gia đình, là sự kế tiếp quyền lực của người đứng đầu trong gia đình
– Thuyết Khế ước xã hội (Thế kỷ XVI, XVII, XVIII): là học thuyết về
nguồn gốc Nhà nước, trên cơ sở thuyết “Quyền tự nhiên”, trong đó các học giả cho rằng: sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm tự nhiên của một khế ước (hợp đồng), được ký kết (thoả thuận) giữa những người sống trong trạng thái
tự nhiên Vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội còn mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ và bảo vệ lợi ích của họ Đại diện cho học thuyết là Jean Bodin (1530–1596), Thomas Hobben (1588–1679), Jonn Loke (1632–1704), Saclo–Lui Mongtetxkio (1689–1775), Jean Jaccuan Roussou (1712– 1778)
– Thuyết Bạo lực cho rằng: Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử
dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác, trong đó thị tộc chiến thắng
“sáng tạo” ra một hệ thống cơ quan đặc biệt (gọi là nhà nước) để nô dịch kẻ chiến bại Đại diện cho học thuyết là Gumplovich, E Đuyrinh
– Thuyết Tâm lý, đại diện là L Petơlaritki Phoredo Thuyết này cho
rằng, nhà nước xuất hiện do nhu cầu về tâm lý con người nguyên thuỷ luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ tôn giáo
Trang 5Ngoài ra, còn một số thuyết khác có cái nhìn khách quan và khoa học hơn về nguồn gốc nhà nước (chế độ tư hữu về tài sản và sự phân chia xã hội thành giai cấp) mà đại diện của nó là Ađam Smit, Fơguson…
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc nhà nước
Quan điểm này được thể hiện tập trung trong cuốn “Nguồn gốc gia đình, chế độ tu hữu và Nhà nước” của Ph Ănghen và tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của Lênin Nội dung cơ bản của hai cuốn sách này đề cập đến vấn đề chế độ cộng sản nguyên thủy; quyền lực thị tộc, sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy Mác cho rằng:
– Nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh viễn, bất biến, mà là một phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong;
- Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm của sự phát triển nội tại của xã hội, nhà nước ra đời dưới sự tác động của nhiều yếu tố trong đó có hai tiền đề quan trọng nhất là:
+ Tiền đề kinh tế – chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất;
+ Tiền đề xã hội – sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng
nhau
Sự ra đời của một nhà nước cụ thể là khác nhau, do những đặc điểm
về giai cấp, địa lý, kinh tế, truyền thống, tập quán, dân tộc… của mỗi nước
Câu 3: Khi nào xã hội loài người không cần đến nhà nước?
– Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu bất biến Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến mức độ nhất định, tức là có tiền đề kinh tế và tiền đề xã hội
– Trong lịch sử xã hội loài người đã có thời kỳ không có nhà nước: đó
là xã hội cộng sản nguyên thuỷ Nhà nước sẽ tiêu vong khi xã hội phát triển đến một mức mà con người “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, khi con
Trang 6người sống trong một xã hội tự quản không cần đến sự quản lý của nhà nước, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Câu 4: Các hình thức cơ bản của sự ra đời của nhà nước trong lịch sử?
Theo Ph Ănghen có ba hình thức cơ bản:
1 Nhà nước Aten – Hy Lạp: Là hình thức nhà nước đơn giản nhất cổ
điển nhất, được ra đời hoàn toàn do sự phân hoá tài sản thành sự chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và phân chia giai cấp rõ nét
2 Nhà nước Giécmanh (Đức): hình thành sau chiến thắng của người
Giécmanh đối với đế chế La Mã cổ đại
Nhà nước này ra đời do nhu cầu phải thực hiện sự cai trị của người Giécmanh trên lãnh thổ La Mã chứ không phải do nhu cầu đấu tranh giai cấp trong nội bộ nước Đức bấy giờ, vì vậy, bên cạnh nhà nước vẫn tồn tại chế độ thị tộc
3 Nhà nước Rôma cổ đại: được thúc đẩy hình thành bởi cuộc đấu
tranh của những người bình dân sống ngoài thị tộc Rô–ma chống lại giới quý tộc của các thị tộc Rô–ma
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, các nước phương Đông cổ đại ra đời chủ yếu do nhu cầu chống ngoại xâm và bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng
Tóm lại: Nhà nước không phải thứ quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào
xã hội mà là lực lượng nảy sinh trong lòng xã hội, là sản phẩm của sự phát triển nội tại của xã hội.
Câu 5: Nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội Việt Nam hình thành như thế nào?
– Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam là nhà nước Văn Lang – Âu Lạc dưới thời kỳ Hừng Vương, ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN Thời kỳ
Trang 7này hiện tượng phân hóa giai cấp chưa rõ nét, nên chưa xuất hiện đấu tranh giai cấp gay gắt Tuy nhiên, do yêu cầu đấu tranh với thiên nhiên nhằm phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm nên Nhà nước Việt Nam đầu tiên ra đời sớm hơn so với các điều kiện chín muồi của lịch sử.
– Cơ cấu của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc bao gồm: Đứng đầu là Vua, giúp việc cho vua có các Lạc Hầu Dưới Lạc Hầu là Bộ, có 15 Bộ (vốn là
15 bộ lạc) Đứng đầu bộ lạc là Lạc tướng Dưới Bộ là công xã (làng, chiềng, chạ), đứng đầu công xã là bố chính
– Đặc điểm kinh tế– xã hội và cơ cấu bộ máy nhà nước đầu tiên ở Việt Nam là kiểu nhà nước phong kiến Ở Việt Nam không có nhà nước chủ nô, vì khi Nhà nước Việt Nam đầu tiên ra đời thì các nhà nước chủ nô trên thế giới
đã dần suy tàn và lỗi thời, hơn nữa thời kỳ đó nhà nước phong kiến Trung Hoa đã phát triển hùng mạnh
Câu 6: Khái niệm và bản chất của nhà nước?
1 Khái niệm:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa
Trang 8Câu 7: Trình bày những đặc trưng cơ bản của nhà nước?
1 Nhà nước phân chia lãnh thổ theo các đơn vị hành chính và quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính – lãnh thổ
Nhà nước thiết lập quyền lực trên các đơn vị hành chính – lãnh thổ quản lý dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ mà không phụ thuộc vào huyết thống, giới tính, tôn giáo v.v…
2 Nhà nước thiết tập quyền lực công để quản lý xã hội và nắm
quyền thống trị thông qua việc thành lập ra bộ máy chuyên làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và bộ máy thực hiện cưỡng chế (quân đội cảnh sát, nhà tù…) để duy trì địa vị của giai cấp thống trị
3 Nhà nước có chủ quyền quốc gia:
– Chủ quyền quốc gia thể hiện quyền tối cao của quốc gia trong phạm
vi lãnh thổ của mình;
– Nhà nước tự quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài;
4 Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý buộc các thành
viên trong xã hội phải tuân theo:
– Nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế;
– Thông qua pháp luật, ý chí của nhà nước trở thành ý chí toàn xã hội, buộc mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tuân theo;
– Trong xã hội, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành và áp dụng pháp luật,
5 Nhà nước quy định và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt buộc nhằm:
– Duy trì bộ máy nhà nước;
Trang 9– Bảo đảm cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng;
– Giải quyết các công việc chung của xã hội,
Qua năm đặc trưng trên nhằm phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội khác (Đảng phái chính trị, Đoàn thanh niên, hiệp hội…) đồng thời cũng là để phân biệt với các tổ chức thị tộc (trong xã hội Công xã Nguyên thuỷ) Qua đó cho thấy vai trò to lớn của nhà nước trong hệ thống chính trị mà các tổ chức khác không có được
Câu 8: Trình bày những chức năng của nhà nước?
Chức năng của nhà nước là những phương diện, mặt hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt ra Bản chất giai cấp, vai trò xã hội của nhà nước được thể hiện thông qua chức năng của nhà nước
Chức năng của nhà nước xuất phát từ bản chất giai cấp của nhà nước
do cơ sở kinh tế– xã hội quyết định
Cơ sở kinh tế của các nhà nước chủ nô, phong kiến, Tư bản là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chức năng cơ bản là bảo vệ chế
độ tư hữu, tiến hành bóc lột và mở mang lãnh thổ
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là chủ yếu Do vậy, chức năng của nhà nước này cũng khác với chức năng của các nhà nước Chủ nô, Phong kiến, Tư bản
Mọi nhà nước trên thế giới đều có hai chức năng chính: Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước trong
nội bộ đất nước như: duy trì và bảo đảm trật tự, chính trị – xã hội, phát triển kinh tế trong nước, giải quyết các vấn đề xã hội một cách đồng bộ, có tổ chức
và giải quyết các vấn đề một cách nhân đạo
Trang 10Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động của nhà nước trong quan
hệ với các nhà nước, các dân tộc khác như: phòng thủ đất nước, chống ngoại xâm, thiết lập mối quan hệ về kinh tế, văn hóa/ khoa học – công nghệ với các nước và tổ chức quốc tế
Để thực hiện các chức năng trên nhà nước áp dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau Có ba hình thức hoạt động chính là: Lập pháp; hành pháp và tư pháp Các chức năng của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở
Câu 9: Kiểu nhà nước là gì? Trong xã hội loài người có mấy kiểu nhà nước?
1 Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc điểm cơ bản của nhà nước, thể
hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội, những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế– xã hội có giai cấp nhất định Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế– xã hội là một kiểu nhà nước
2 Trong lịch sử đã và đang tồn tại 4 kiểu nhà nước.
– Nhà nước chủ nô;
– Nhà nước phong kiến;
– Nhà nước tư sản;
– Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước kia tiến bộ hơn là một biểu hiện quan trọng của quy luật phát triển và thay thế các hình thái kinh
tế – xã hội này bằng hình thái kinh tế– xã hội khác cao hơn.
Câu 10: Trình bày những đặc trưng cơ bản và bản chất của kiểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ?
1 Đặc trưng của kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ
Trang 11Nhà nước chiếm hữu nô lệ là kiểu nhà nước bóc lột dựa trên các cơ sở sau:
Cơ sở kinh tế của nhà nước chiếm hữu nô lệ là chế độ sở hữu của chủ
nô đối với người nô lệ, và mọi tư liệu sản xuất khác
Cơ sở xã hội: Giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ có những lợi ích căn bản đối lập nhau, mâu thuẫn giữa hai giai cấp này rất gay gắt và không thể điều hòa được
Nhà nước chiếm hữu nô lệ là công cụ bạo lực để bảo vệ quyền lợi của chủ nô và trấn áp sự phản kháng của nô lệ
Câu 11: Trình bày bản chất và những đặc trưng cơ bản của kiểu
nhà nước phong kiến
Trang 12Cơ sở tinh thần: Tư tưởng của nhà nước phong kiến là chế độ thần quyền, tôn giáo Mỗi thời đại phong kiến đều coi tôn giáo là quốc giáo làm cơ
sở nô dịch tinh thần nhân dân
2 Đặc trưng:
– Là xã hội bóc lột;
– Phân biệt đối xử và mang tính chất giai tầng, phụ thuộc vào mức độ
sở hữu tài sản, chủ yếu là ruộng đất;
– Củng cố và bảo vệ phương thức sản xuất phong kiến;
– Đàn áp sự chống đối của nông dân và những người lao động khác bằng những phương tiện tàn bạo;
– Nô dịch về tư tưởng,
– Tiến hành chiến tranh xâm lược
Câu 12: Trình bày bản chất và những đặc trưng cơ bản của kiểu nhà nước tư sản?
1 Bản chất kiểu nhà nước tư sản
Kiểu nhà nước tư sản là kiểu nhà nước bóc lột dựa trên các cơ sở sau:– Cơ sở kinh tế của kiểu nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được thiết lập dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư;
– Cơ sở xã hội của nhà nước tư sản là hai giai cấp chủ yếu song song tồn tại là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, hai giai cấp này tồn tại mâu thuẫn đối kháng;
– Nhà nước tư sản trước hết là công cụ để bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản
2 Đặc trưng của kiểu nhà nước tư sản
Trang 13– Bảo vệ chế độ tư hữu tư sản;
– Bành trướng về kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng trong quan hệ quốc tế phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản;
– Bảo vệ lợi ích của người lao động vì sự tồn vong của giai cấp tư sản
Câu 13 Hình thức nhà nước là gì?
1 Hình thức nhà nước là phương thức, cách thức tổ chức và thực
hiện quyền lực của mỗi kiểu nhà nước
Hình thức nhà nước do bản chất và nội dung của nhà nước quy định, qua từng giai đoạn phát triển xã hội của nhà nước thì cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau
2 Hình thức nhà nước bao gồm: Hình thức chính thể, hình thức cấu
Chính thể quân chủ chia làm hai loại:
+ Chính thể quân chủ tuyệt đối, trong đó người đứng đầu nhà nước là vua (hoặc Quốc vương) có quyền lực vô hạn và suốt đời “cha truyền con nối”
+ Chính thể quân chủ tương đối (hạn chế), quyền lực của vua bị hạn chế, vua chỉ nắm một số quyền lực tối cao của nhà nước, các quyền còn lại được trao cho người đứng đầu nhà nước (thủ tướng, Tổng thống…)
– Chính thể Cộng hoà
Trang 14Chính thể Cộng hoà chia làm hai loại: Cộng hoà dân chủ và cộng hoà
Pháp, CHLB Đức, LB Nga, Ấn Độ, Hoa Kỳ là nước theo hình thức cộng hoà dân chủ tư sản, trong đó nhân dân có quyền bầu ra người đứng đầu nhà nước, nhưng theo hình thức đại cử tri, có một số người dân không được đi bầu cử Căm–pu–chia, Thái Lan, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển theo hình thức chính thể quân thủ lập hiến, người đứng đầu nhà nước là vua theo nguyên tắc cha truyền con nối
Câu 15: Trình bày hình thức cấu trúc nhà nước?
Hình thức cấu trúc nhà nước là cách thức tổ chức và từ thực hiện quyền lực nhà nước theo đơn vị hành chính – lãnh thổ và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước với nhau.
Hình thức cấu trúc gồm có:
– Nhà nước đơn nhất là hình thức nhà nước, trong đó tồn tại một chủ
quyền quốc gia duy nhất, một hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, và một hệ thống pháp luật thống nhất từ trung ương đến địa phương (Việt Nam, Lào, Trung Quốc v.v…)
Trang 15– Nhà nước liên bang là hình thức nhà nước do nhiều nhà nước thành
viên hợp lại Trong nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan nhà nước: một hệ thống chung cho cả liên bang và một hệ thống riêng cho mỗi nhà nước thành viên Nhà nước liên bang có hai hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật của nhà nước bang và hệ thống pháp luật của liên bang Pháp luật của bang không được trái với pháp luật của liên bang, trừ một số nước có quy định khác
Nhà nước liên bang có chủ quyền chung cho tất cả các bang thành viên, đồng thời mỗi nước thành viên có chủ quyền riêng: Ví dụ cộng hòa Liên bang Đức, Mỹ, Ấn Độ, Nga…
Ngày nay thế giới đang chứng kiến một hình thức nhà nước mới, đó là nhà nước Liên minh như: Liên minh Châu Âu (EU); liên minh châu Phi (AU)
và trong tương lai sẽ có liên minh các nước Đông Nam Châu Á, gọi tắt là AEC theo mô hình EU
Câu 16: Chế độ chính trị là gì?
Chế độ chính trị là toàn bộ các phương pháp, thủ đoạn, cách thức mà
giai cấp cầm quyền sử dụng để giữ chính quyền và xây dựng nhà nước
Chế độ chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với bản chất, nội dung hoạt động của nhà nước, với đời sống chính trị xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp tới hình thức nhà nước Mỗi hình thái kinh tế– xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định thì sử dụng các phương pháp cai trị khác nhau Song nhìn chung có hai phương pháp:
+ Phương pháp dân chủ: thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như
dân chủ thực sự, dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp, dân chủ giả hiệu, v.v…
+ Phương pháp phản dân chủ: thể hiện dưới hình thức như chế độ độc
tài chuyên chế, chế độ phát xít, quân phiệt.v.v…
Có thể biểu diễn hình thức nhà nước theo sơ đồ sau:
Trang 16Câu 17: Trình bày hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ?
Chủ yếu được tổ chức dưới hình thức chính thể, trong đó các nhà nước được tổ chức theo hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối, hình thức chính thể cộng hòa quý tộc cũng đó xuất hiện ở Spác và La Mã, đặc biệt là chính thể cộng hòa dân chủ của nhà nước Aten;
Hình thức cấu trúc nhà nước, cấu trúc phổ biến là đơn nhất và đại lục
có xuất hiện một vài nhà nước liên minh;
Chế độ chính trị, ngoài nhà nước Aten, Spác và La Mã, các nhà nước khác đều thực hiện một chế độ chính trị chuyên chế độc tài
Câu 18: Trình bày hình thức Nhà nước phong kiến?
– Hình thức chính thể, phổ biến nhất trong nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ chuyên chế
– Hình thức cấu trúc nhà nước, phổ biến là cấu trúc nhà nước đơn nhất, nhà nước liên minh có xuất hiện nhưng không nhiều;
– Chế độ chính trị, giai cấp địa chủ phong kiến thiết lập một chế độ chính trị quân chủ chuyên chế độc tài và tàn bạo
HINH THUC NHA NUOC
Hinh thuc chinh the
Hinh thuc cau truc
Che đo chinh tri
Trang 17Câu 19: Trình bày hình thức nhà nước tư sản?
Hình thức chính thể của nhà nước tư sản khá phong phú và đa dạng, bao gồm: quân chủ đại nghị, cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống (Hoa Kỳ)
và cộng hòa lưỡng tính (Pháp);
– Hình thức cấu trúc nhà nước, các nhà nước tư sản vừa được tổ chức dưới hình thức đơn nhất như Thái lan, vừa được tổ chức dưới hình thức liên bang (Nga; CHLB Đức);
– Chế độ chính trị, xét về mặt hình thức thì nhà nước tư sản đó thực hiện một cơ chế dân chủ, theo đó nhân dân có quyền thiết lập ra các cơ quan nhà nước
Câu 20: Mối quan hệ giữa kiểu nhà nước với hình thức nhà nước được thể hiện như thế nào?
Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc trưng cơ bản của nhà nước, thể hiện
bản chất giai cấp, vai trò, giá trị xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế– xã hội nhất định
– Vì vậy hình thức nhà nước được quy định bởi kiểu nhà nước
– Hình thức nhà nước phụ thuộc trực tiếp vào cơ sở kinh tế và tính chất giai cấp của nhà nước
– Do vậy cùng một hình thức nhà nước, nhưng thuộc những kiểu nhà nước khác nhau thì có những đặc điểm khác nhau (ví dụ cùng một hình thức cộng hòa dân chủ, nhưng kiểu nhà nước tư sản thì có những đặc điểm khác
so với kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa)
Trang 18Câu 21: Phân tích hình thức chính thể nhà nước XHCN?
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II năm 1945 hàng loạt nhà nước theo hình thức dân chủ nhân dân ra đời, trong đó có Việt Nam
Hình thức nhà nước này có một số đặc điểm sau:
– Việc giành và tổ chức chính quyền thường sử dụng phương pháp hoà bình kết hợp với phương pháp bạo lực; đều thực hiện bước chuyển tiếp
từ cách mạng dân chủ nhân dân sang cách mạng xã hội chủ nghĩa;
– Các nhà nước dân chủ nhân dân đều tồn tại hình thức tổ chức Mặt trận đoàn kết các dân tộc (Mặt trận Tổ quốc, Mặt trận nhân dân) Trong mặt trận gồm nhiều đảng phái chính trị; tổ chức chính trị – xã hội, các lực lượng
xã hội khác nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
– Thực hiện nguyên tắc phổ thông đầu phiếu không phân biệt đẳng cấp, địa vị xã hội, tôn giáo…;
– Cơ sở xã hội của nhà nước dân chủ nhân dân rộng rãi hơn cơ sở xã hội của nhà nước Xô viết vì thực tiễn cách mạng dân chủ nhân dân do nhiều tầng lớp tham gia;
– Trong thời kỳ đầu mới thành lập, nhà nước dân chủ nhân dân sử dụng một số chế định pháp luật của chế độ cũ, nhưng chế định này không trái với nguyên tắc của chế độ mới;
– Chế định nguyên thủ quốc gia có những thay đổi nhất định, có khi là chủ trại tập thể như Hội đồng Nhà nước (ở Việt Nam 1980 – 1992) hoặc Đoàn chủ tịch cơ quan quyền lực nhà nước tối cao (CHDC Đức, Ba Lan…) hoặc là một cá nhân (Chủ tịch nước) như ở Việt Nam hoặc Trung Quốc hiện nay,
– Ở Việt Nam, chính thể Cộng hoà dân chủ nhân dân được hình thành
từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, từ đó đến nay, chính thể này ngày càng hoàn thiện Hiến pháp năm 1992 quy định hình thức chính thể của Nhà nước Việt Nam hiện nay là hình thức chính thể cộng hoà dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trang 19Câu 22: Trình bày hình thức cấu trúc nhà nước XHCN? Liên hệ ở Việt Nam?
Hình thức cấu trúc nhà nước là việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước theo đơn vị hành chính lãnh thổ, phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận hành chính lãnh thổ của nhà nước và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới
Các nhà nước xã hội chủ nghĩa hình thành và tồn tại hai hình thức cấu
trúc cơ bản đó là: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang
– Nhà nước đơn nhất có đặc điểm:
+ Các đơn vị hành chính – lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã :) là những bộ phận hợp thành quốc gia, không có chủ quyền quốc gia;
Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương tạo thành một
hệ thống nhất, có tính thứ bậc, trực thuộc rõ ràng, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương
Nhà nước và xã hội tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật thống nhất do cơ quan quyền lực tối cao ban hành
Nhà nước liên bang có đặc điểm.
Các nước cộng hòa trong liên bang có tổ chức bộ máy nhà nước riêng,
có hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng;
Trong nhà nước liên bang tồn tại hai hình thức quyền lực nhà nước: quyền lực liên bang và quyền lực của các nước cộng hòa;
Các đạo luật của liên bang là các cơ sở pháp lý có tính nguyên tắc đối với hệ thống pháp luật của các nước cộng hòa;
Quan hệ giữa nhà nước liên bang và các nước cộng hòa được thiết lập trên cơ sở của nguyên tắc tập trung dân chủ;
Trang 20Các nước cộng hòa có quyền xin ra khỏi nhà nước liên bang khi có sự đồng ý của các nước cộng hoà khác trong liên bang.
Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất, bởi nó có một số đặc điểm sau:
– Các đơn vị hành chính – lãnh thổ (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) là bộ phận hợp thành của một quốc gia, nên không có chủ quyền quốc gia riêng Hiến pháp năm 1992 quy định chính quyền ở Việt Nam gồm bốn cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã
Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương là cơ sở tạo thành một thể thống nhất, có tính thứ bậc, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương
Câu 23: Việc tổ chức và thực hiện chế độ chính trị ở Việt Nam như thế nào?
– Chế độ chính trị của nhà nước là tổng thể những phương thức, phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước.
– Nhà nước Việt Nam tổ chức và thực hiện theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa với đặc trưng là: thực hiện phương pháp quản lý nhà nước và quản
lý xã hội theo phương thức dân chủ rộng rãi, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào mọi công việc quản lý theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
– Phương pháp thực hiện quyền lực của Nhà nước Việt Nam chủ yếu
là giáo dục, thuyết phục trên cơ sở dân chủ để mọi quyết định của nhà nước đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân; nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước
Câu 24: Các yếu tố cấu thành hình thức nhà nước tư sản?