13. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người. 1 14. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS). 1 15. Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS). 1 17. Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS). 2 II. Bài tập 2 Bài tập 7 2 Bài tập 9 3 Bài tập 12 5 Bài tập 13 6
Trang 1Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
BÀI THẢO LUẬN LẦN 6 Môn: Luật Hình sự phần các tội phạm
MỤC LỤC
Trang 2I Nhận định
13 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.
Nhận định SAI
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người vì trong ý thức chủ quan của người phạm tội, chủ thể mà họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình nhất chính là người quản lý tài sản bởi chính người quản lý tài sản là chủ thể dễ dàng nhất trong việc nhận thức được tài sản mình đang trong tình trạng thế nào, ở đâu … , chính vì thế, dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản mà không đòi hỏi phải lén lút với tất cả mọi người, ở đây, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ
14 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Nhận định SAI
Vì hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có dấu hiệu gian dối là hành vi không chỉ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) mà còn có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) Nếu người phạm tội gian dối làm nạn nhân tin và tự nguyện giao tài sản thì sẽ cấu thành tội Điều 174 Còn nếu người phạm tội nhận tài sản hoàn toàn hợp pháp (vay, mượn,thuê…), sau khi nhận tài sản người phạm tội không trả lời lại và đưa ra những thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành tội Điều 175
15 Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản
có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)
Nhận định SAI
Vì để xác định một hành vi khách quan có thuộc trường hợp được quy định tại Điều 175 BLHS thì phải đáp ứng các điều kiện:
- Nhận tài sản khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng phải là hành vi ngay thẳng, hợp pháp;
- Hành vi lạm lụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã nhận:
Trang 3+ Sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bổ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến hạn mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
+ Sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng nhưng lại sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Như vậy, khi đáo ứng điều kiện khách quan được quy định mới phải chịu TNHS, nếu họ nhận tài sản thông qua hành vi cưỡng ép mà có thì sẽ có thể phải chịu tội cưỡng đoạt tài sản
17 Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)
Nhận định SAI
Tội chiếm giữ trái phép tài sản thể hiện bởi một trong các hành vi: cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu, không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại Tuy nhiên ,yêu cầu nhận lại tài sản bị giao nhầm, do người phạm tội tìm được hoặc bắt được là yêu cầu của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản Nếu chưa có yêu cầu nhận lại tài sản hoặc yêu cầu đó không phải của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản thì chưa cấu thành tội phạm tội này
II Bài tập
Bài tập 7
Tội danh đối với hành vi của A là tội cướp giật tài sản theo Điều 171 và tội giết người chưa đạt theo khoản 2 Điều 123
a) Hành vi của A thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội cướp giật tài sản
* Mặt khách thể:
- Khách thể: xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người phụ nữ
- Đối tượng bị tác động: người phụ nữ đang đứng chờ đèn đỏ
- Chủ thể: A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này-chủ thể thường
* Mặt chủ quan:
A thực hiện hành vi này với lỗi cố ý trực tiếp, A nhận thức được hành vi này của mình là gây thiệt hại cho nạn nhân về tài sản khi cố tình, nhanh chóng giật chiếc dây chuyền trên
cổ của một phụ nữ và bỏ chạy kể cả khi có người đuổi theo
Trang 4* Mặt khách quan:
- Hành vi: A đứng yên trên bờ ao chờ tới khi B chìm xuống hẳn rồi bỏ đi
- Hậu quả: người phụ nữ bị thiệt hại về mặt tài sản, cụ thể ở đây là chiếc dây chuyền Mối quan hệ: hành vi của A là nguyên nhân trực tiếp khiến nạn nhân mất chiếc dây chuyền
b) Hành vi của A thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội giết người chưa đạt
*Mặt khách thể:
- Khách thể: tính mạng, sức khỏe của anh B
- Đối tượng bị tác động: anh B-người người chứng kiến được sự việc và chạy đuổi theo
để bắt A
* Chủ thể: A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này-chủ thể thường
* Mặt chủ quan:
A thực hiện hành vi này với lỗi cố ý trực tiếp, A nhận thức được hành vi này của mình là nguy hiểm cho nạn nhân khi cố tình rút dao đâm vào bụng của B một cách nhanh chóng chứ không hề do dự, chần chừ
* Mặt khách quan:
- Hành vi: A một tay bỏ dây chuyền vào miệng, tay kia rút dao đâm vào bụng của B và bỏ chạy ngay chứ không hề có ý định quay lại xem xét nạn nhân Việc cố tình rút giao và đâm vào bụng của B chứ không phải là chỗ khác như chân, tay nhằm ngăn cản việc B cản trở việc tẩu thoát của mình đủ chứng minh cho việc A muốn giết B để ngăn chặn hẳn những hành vi mà B có thể làm ảnh hưởng đến việc tẩu thoát của mình sau đó
- Hậu quả: B bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 27%
- Mối quan hệ: hành vi của A là nguyên nhân trực tiếp khiến B bị thương với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 27%
Bài tập 9
1 A vứt lại sợi dây chuyền, dùng tay đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy.
A phạm tội cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS 2015
Vì hành vi trái pháp luật của A đủ điều kiện để cấu thành tội cướp giật tài sản
* Khách thể
Trang 5- Xâm phạm quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân của bà C
- Đối tượng tác động: sợi dây chuyền của bà C
* Chủ thể: A là người đủ NLTNHS và đủ tuổi TNHS
* Mặt khách quan
- Hành vi của A là hành vi chiếm đoạt sợi dây chuyền của bà C một cách nhanh chóng và công khai Trong tình huống trên A đã nhanh chóng kéo đứt sợi dây chuyền và bỏ chạy ngay lúc bà C còn thức Và việc khi bà C tóm được A, A đã vứt lại sợi dây chuyền và đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy Việc A đánh bà C sẽ được xem là tình tiết định khung tăng nặng của A trong tội này
* Mặt chủ quan
Lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp.A biết hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước nguy hiểm cho xã hội nhưng A vẫn thực hiện và mong hậu quả xảy ra
2 A nhanh tay bỏ sợi dây chuyền vào túi quần và rút dao mang sẵn trong người đâm vào ngực bà C làm bà C chết
A phạm tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và tội giết người (Đ123 BLHS)
Vì hành vi trái pháp luật của A đủ điều kiện cấu thành tội cướp tài sản và tội giết người Đối với tội cướp tài sản
* Khách thể
- Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bà C, bà C
- Đối tượng tác động: sợi dây chuyền của bà C
* Chủ thể: A là người đủ NLTNHS và đủ tuổi TNHS
* Mặt khách quan
Hành vi của A là sử dụng vũ lực ngay tức khắc để bà C không thể chống cự để lấy bằng được tài sản Cụ thể trong tình huống trên sau khi giật sợi dây chuyền bà C một cách công khai, nhanh chóng A đã bỏ chạy, khi bị tóm lại A đã bỏ dây chuyền vào túi quần và rút dao đâm bà C ngay tức khắc để thực hiện bằng được mục đích cướp dây chuyền của mình
*Mặt chủ quan
Lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp.A biết hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước nguy hiểm cho xã hội nhưng A vẫn thực hiện và mong hậu quả xảy ra
Mục đích: nhằm chiếm đoạt sợi dây chuyền
Trang 6Đối với tội giết người
* Khách thể
- Xâm phạm quyền bảo vệ tính mạng của bà C
- Đối tượng tác động: bà C
* Chủ thể: A là người đủ NLTNHS và đủ tuổi TNHS
* Mặt khách quan
- Hành vi của A là cố ý muốn tước bỏ mạng sống của bà C bằng cách rút con dao đã chuẩn bị từ trước để đâm vào ngực khiến bà C chết Đây là hành vi có chủ đích và đã lên
ý định từ trước, vì A đã lựa vùng ngực để đâm vì đây là nơi nguy hiểm dễ gây chết người trên cơ thể con người
- Hậu quả: bà C chết
- Quan hệ nhân quả: hành vi của A là hành vi trực tiếp dẫn đến cái chết của bà C
* Mặt chủ quan
Lỗi của A là lỗi cố ý A biết hành vi của giết người là trái pháp luật, thấy trước nguy hiểm cho xã hội nhưng A vẫn thực hiện và mong hậu quả xảy ra
Bài tập 12
a, A cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo điều 170 NLHS 2015
* Mặt khách thể:
- Xâm phạm đến quan hệ tài sản của B cụ thể là sở hữu số tiền 5 triệu đồng
- Xâm phạm đến quan hệ nhân thân cụ thể là ảnh hưởng đến sức khỏe của B
- Đối tượng tác động là tài sản cụ thể là 5 triệu đồng
* Mặt khách quan: A đã có thủ đoạn để uy hiếm tinh thần của B được thể hiện qua: B đã dọa sẽ báo công an nếu không đưa 5 triệu cho A Vì B là người buôn bán hàng cấm nên khi nghe A đe dọa như vậy thì B lo sợ và đã giao 5 triệu đồng cho A
* Mặt chủ thể: đây là chủ thể thường đã đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự
*Mặt chủ quan:
- Lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp vì A đã đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự dó đó A nhân thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hâu quả xảy ra là B sẽ lo
Trang 7sợ và đưa tiền cho mình và mong muốn hậu quả xảy ra thể hiện qua chính A đã yêu cầu B đưa 5 triệu đồng nếu không thí sẽ báo công an về hành vi buôn bán hàng cấm của B
- Mục đích: nhằm chiếm đoạt tài sản
b, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 BLHS 2015
* Mặt khách quan:
- Xâm phạm đến quan hệ sở hữu cụ thể là sở hữ số tiền 5 triệu đồng
- Đối tượng tác động là tài sản cụ thể là 5 triệu đồng ( thoản mãn điều kiện là từ 2 triệu đến dưới 50 triệu)
* Mặt khách quan: A đã có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của B thông qua A đã mặc trang phục công an để giả làm công an đến chỗ buôn bán hàng cấm của A và cộng với việc B là người buôn bán hàng cấm thì lúc này A không xem xét là công án thaatj hay giả mà ngay lập tức tin A là công an và đưa số tiền 5 triệu cho A
* Mặt chủ thể: chủ thể thường có đã đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự
* Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả xảy ra là biết B buôn bán hàng cấm nếu mà giả công an thì B
sẽ đưa tiền cho mình và mong muốn hậu quả xảy ra
Bài tập 13
A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên CSPL: Điều 139 BLHS
* Về khách thể: A xâm hại quyền sở hữu của chủ cửa tiệm mỹ phẩm, giá trị 3 triệu VNĐ
* Về chủ thể: A là người đủ năng lực chịu TNHS, đủ tuổi chịu TNHS
* Mặt khách quan:
- Hành vi: A lừa đảo đánh tráo món hàng 3 triệu đồng bằng món hàng 50 ngàn đồng
- Hậu quả: Chủ tiệm mỹ phẩm bị lừa mất tài sản là 3 triệu đồng
* Mặt chủ quan:
Lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức được hành vi đang làm là lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tiệm mỹ phẩm và biết trước được hậu quả nhưng A vẫn mong muốn hậu quả xảy ra