Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS). Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS. 1 Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) chỉ là người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người. 1
Trang 1Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
BÀI THẢO LUẬN LẦN 3 Môn: Luật Hình sự phần các tội phạm
MỤC LỤC
Trang 2I NHẬN ĐỊNH
30 Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS).
Nhận định ĐÚNG
Vì căn cứ vào khoản 2 điều 124 BLHS 2015 thì tội vức bỏ con mới đẻ là cấu thành tội phạm vật chất trong đó hậu quả có ý nghĩ trong việc định tội danh, mà để cấu thành tội này cần phải đảm bảo điều kiện về mặt khách quan phải: trẻ được sinh ra trong phạm vi
7 ngày tuổi, người mẹ ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt, hậu quả là đứa trẻ chết Như vậy phải có hậu quả là đứa trẻ chết mới cấu thành tội vứt bỏ con mới đẻ (các điều kiện khác thỏa mãn), còn nếu không có hậu quả
là đứa trẻ chết sẽ không cấu thành tội phạm bởi lẽ xuất phát từ lý do để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ, bản án lương tâm nó lớn hơn so với bản án hình sự
31 Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.
Nhận định SAI
Nếu chiếm đoạt bộ phận cơ thể do quá căm tức, uất ức hoặc bị kích động mạnh mà người phạm tội sau khi giết nạn nhân đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân để thỏa mãn sự căm tức, uất ức hoặc kích động mạnh thì không thuộc trường hợp phạm tội giết người mà sẽ thuộc điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS
CSPL: Khoản 1 Điều 123 BLHS
33 Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) chỉ là người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người.
Nhận định trên SAI
Bởi vì căn cứ theo theo Điều 157 BLHS 2015 thì chủ thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này Tuy nhiên, trong trường hợp chủ thể cố tình làm sai lệch sự đúng đắn của hoạt động tố tụng hoặc thi hành án nên đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện những hành vi nói trên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình thì không phạm tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật theo quy định cùa Điều
377 của bộ luật này Vì vậy, người có thẩm quyền vẫn có thể là chủ thể của tội phạm này nếu không rơi vào trường hợp được quy định tại Điều 377 BLHS 2015
Trang 336 Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước
Nhận định SAI
Vì đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) gồm có công chức làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội (đơn vị sự nghiệp công lập) và những người lao động làm trong doanh nghiệp tư nhân, cong ty nước ngoài, thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
40 Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS).
Nhận định SAI
Vì căn cứ vào Điều 182 BLHS thì người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác mà chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự như: “làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; đã có quyết định của tòa án hủy hôn hoặc buộc hủy hôn phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó….” Thì không thể cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
42 Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Nhận định SAI
Nếu xét chính xác từng chữ một thì chỉ có Đ184 mới quy định về giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ Tuy nhiên, nếu xét về bản chất hành vi thì trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c K2 Đ145 BLHS 2015), nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan
hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d K2 Đ143 BLHS 2015) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a K2 Đ144 BLHS 2015); trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm
a K2 Đ142 BLHS 2015)
Trang 4II BÀI TẬP
Bài tập 15
a Nạn nhân chết
* Về khách thể của tội phạm: Hành vi của A đã xâm hại đến quyền nhân thân, cụ thể là xâm phạm đến quyền được sống của người bẻ măng, đối tượng tác động là người bẻ măng- người đang sống
* Về mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi A tước đoạt mạng sống của người bẻ măng là hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại đáng kể cho xã hội
- Hậu quả: Người bẻ măng chết
- Quan hệ nhân quả: Người bẻ măng chết là do chính hành vi chủ quan bóp cò của A
* Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể thường là A là người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
* Về mặt chủ quan của tội phạm: A thấy trước hành vi của mình là có thể gây nguy hiểm cho người khác, mặc cho B có cản nhưng vì tự tin hậu quả người bẻ măng chết sẽ không xảy ra nên hành vi của A là lỗi vô ý vì quá quá tự tin (khoản 1 điều 11 BLHS2015)
Như vậy, hành vi của A thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội vô ý làm chết người (điều 128 BLHS 2015) Trong đó hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc đối với tội vô ý làm chết người
b Nạn nhân bị thương nặng
* Về khách thể của tội phạm: Hành vi của A đã xâm hại đến quyền nhân thân, cụ thể là xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của người bẻ măng, đối tượng tác động là người bẻ măng- người đang sống
* Về mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi A là hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người bẻ măng là hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại đáng kể cho xã hội
- Hậu quả: người bẻ măng bị thương nặng
- Quan hệ nhân quả: người bẻ măng bị thương nặng là do chính hành vi tự tin, chủ quan bóp cò của A
* Về chủ thể của tội phạm: chủ thể thường là A là người có năng lực trách nhiệm hình sự
Trang 5* Về mặt chủ quan của tội phạm: A thấy trước hành vi của mình là có thể gây nguy hiểm cho người khác, mặc cho B có cản nhưng vì tự tin hậu quả người bẻ măng bi thương nặng
sẽ không xảy ra nên hành vi của A là lỗi vô ý vì quá quá tự tin (khoản 1 điều 11 BLHS2015)
Như vậy, hành vi của A có thể cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 BLHS 2015) nểu tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.Trong trường hợp tỷ lệ thương tật dưới 31% thì anh A sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thương tích nhưng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo điều 590 BLDS 2015
c Nạn nhân bị thương với tổn thương cơ thể 21%
* Về khách thể của tội phạm: Hành vi của A đã xâm hại đến quyền nhân thân, cụ thể là xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của người bẻ măng, đối tượng tác động là người bẻ măng- người đang sống
* Về mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi A là hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người bẻ măng là hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại đáng kể cho xã hội
- Hậu quả: Người bẻ măng bị thương với tổn thương cơ thể 21%
- Quan hệ nhân quả: Người bẻ măng bị thương nặng là do chính hành vi tự tin, chủ quan bóp cò của A
* Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể thường là A là người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
* Về mặt chủ quan của tội phạm: A thấy trước hành vi của mình là có thể gây nguy hiểm cho người khác, mặc cho B có cản nhưng vì tự tin hậu quả người bẻ măng bi thương nặng
sẽ không xảy ra nên hành vi của A là lỗi vô ý vì quá quá tự tin (khoản 1 điều 11 BLHS2015)
Như vậy, hành vi của A không cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 BLHS 2015) Trong trường hợp nạn nhân bị thương với tổn thương cơ thể 21%, tỷ lệ thương tật dưới 31% thì anh A sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thương tích nhưng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo điều 590 BLDS 2015
Bài tập 16
Căn cứ vào tình huống, xác định ông M phạm tội: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại Điều 182 BLHS vì:
Trang 6* Về mặt khách thể: ông M xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng – điều kiện đảm bảo cho cuộc sống vợ chồng được trọn vẹn, hạnh phúc, cơ sở cho việc xây dựng quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, vợ chồng bình đẳng
* Về mặt chủ thể: ông M là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
* Về mặt khách quan: Ông M có vợ hợp pháp là bà H, khi quan hệ hôn nhân được thiết lập, ông M và bà H phải tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng, tôn trọng, thủy chung để tiến tới hôn nhân tiến bộ và pháp luật cấm hành vi chung sống hoặc kết hôn với người khác khi quan hệ hôn nhân hợp pháp chưa chấm dứt Với cương vị là một người chồng, ông M phải biết tôn trọng bà H và phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hôn nhân nhưng ông M đã không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình mà
ông M đã có hành vi vi phạm quy định của Pháp luật thể hiện ở hành vi: “ông M đang có
vợ bé và đang có một con chung với người vợ này” Và để xác định hành vi này có dấu
hiệu phạm tội được quy định tại Điều 182 BLHS hay không thì cần xác định rõ hành vi
“chung sống như vợ chồng với người khác” Hiện nay, BLHS chưa có văn bản hướng
dẫn thế nào trường hợp “chung sống như vợ chồng với người khác” Tuy nhiên, dựa trên tinh thần của Thông tư liên tịch số 01/2001/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ
hôn nhân và gia đình” của BLHS năm 1999 quy định chung sống như vợ chồng là: “việc
người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng
mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và
xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…” Như vậy, dựa trên tinh thần của
Thông tư liên tịch số 01/2001 và căn cứ vào hành vi “ông M đang có vợ bé và đã con chung với người này” đã đủ điều kiện để xác định: ông M có hành vi “chung sống như vợ chồng với người khác”, đây là dấu hiệu định tội được quy định tại Điều 182 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017
- Hậu quả: bà H tự sát dẫn đến tử vong
- Mối quan hệ giữa hậu quả và hành vi: bà H tự sát là hậu quả trực tiếp xuất phát bởi hành
vi ông M “chung sống như vợ chồng với người khác”
* Về mặt chủ quan: ông M nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả xảy ra
Bài tập 19
* Mặt khách quan :
Trang 7- Hành vi của anh A là hành vi thường xuyên đánh đập gây mẫu thuẫn với mẹ con chị B, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của chị ,anh A còn tàn nhẫn quăng hết đồ đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà trong hoàn cảnh thời tiết mưa bão đã ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của chị B
- Hậu quả: chị B ôm con tự sát
- Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Chị A và anh B có mối quan hệ lệ thuộc về hôn nhân Và chính hành vi đánh đập chửi bới một cách thường xuyên của anh A đối với
mẹ con chị B, hành vi này lặp đi lặp lại nhiều lần khiến chị bị tổn thương về sức khỏe cũng như là dồn nén quá lâu về mặt tâm lý nên đã dẫn đến suy nghĩ túng quẫn của chị B
là ôm con tự sát
Kết luận: Từ những căn cứ này, hành vi của anh A có đầy đủ yếu tố để xét về tội bức tử (Đ130 BLHS)
* Chủ thể: Chị B là người phạm tội
* Mặt khách quan
- Hành vi của chị A là hành vi xâm phạm đến quyền sống, tước đoạt tính mạng của C là người đang sống là trái với quy định của pháp luật, ôm con là C ( 8 tháng tuổi) nhảy xuống sông tự sát
- Hậu quả: C chết
- Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Chính vì hành vi ôm con nhảy xuống sông
tự sát của chị B và không được cứu giúp kịp thời nên C đã bị ngạt nước dẫn đến tử vong
* Mặt chủ quan
Chị B nhận thức được hành vi của mình là ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của chị và C nhưng chị vẫn cố ý thực hiện do đó hành vị của chị B là lỗi cố ý trực tiếp: chị đã bế con là C ra bờ sông và nhảy xuống
Trong trường hợp trên hành vi đối xử tàn ác của anh A đối với chị B đã diễn ra một cách thương xuyên và lâu dài làm ảnh hưởng đến tâm lý của chị B làm cho chị có suy nghĩ tự sát suy nghĩ này càng ngày càng lớn dần thông qua cái việc đối xử của anh B dẫn đến hành động chị B ôm con là C tự sát Đối tượng chị B tác động là C (8 tháng tuổi) nhưng C không gây ra hành vi nào tác động đến tinh thần của chị B lúc đó Cho nên không thể xét hành vi của chị B vào tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh(Đ 125 BLHS)
Kết luận: từ những căn cứ trên hành vi của chị B được coi là phạm tội giết người ( Đ123 BLHS)