Thầy cũng đưa ra mong muốn được tích hợp việc dạy trong trường với những dự án thật để sinh viên được trải nghiệm, được tiếp cận công nghệ, với những sản phẩm thực tế thúc đẩy động lực h
Trang 1TẠP CHÍ
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Số 4, tháng 9/2014 HỌC TẬP THỜI ĐẠI SỐ
Lưu hành nội bộ
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU 4
TIN TỨC SỰ KIỆN 5
Đào tạo giáo viên khối PTTH 6
Thử nghiệm lớp học lịch sử theo phương pháp mới tại Fschool 7
Seminar : Best Practices In Teaching Programming 8
Con người học như thế nào? 10
TỪ THỰC ĐỊA 11
Cơ hội với học tập đảo ngược 12
MOOC – Một hiện tượng giáo dục số 19
Lớp học số hóa – Giải pháp nào? 28
Góc tối của công nghệ 34
Bàn về giảng dạy tích cực 43
Google Classroom – Những trải nghiệm đầu tiên 45
BEST PRACTICES 46
Mô hình lớp học đảo ngược 47
Làm thế nào để đảo ngược lớp học? 51
50 công cụ hữu ích cho giáo viên 55
TỦ SÁCH GIÁO DỤC 60
Internet đã làm gì với đầu óc chúng ta, và những nhà giáo cần làm gì? 61
TƯ LIỆU 63
Tương lai của Giáo dục Đại học: Bằng cấp số 64
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Con người tạo ra công nghệ để phục vụ mình, nhưng chính công nghệ sẽ thay đổi con người Những công nghệ mang tính bước ngoặt như đồng hồ, công nghệ in, hay công nghệ thông tin và Internet đã và đang thay đổi sâu sắc cách thức con người lao động, suy nghĩ và sinh sống Điều này đã được Nicolas Carr phân tích rất thấu đáo trong
công trình tổng hợp nghiên cứu mang tên “Trí tuệ giả tạo – Internet đã làm gì chúng
ta?” Ông khẳng định chính Internet đã khiến người sử dụng nó thay đổi sâu sắc Hoạt
động của não bộ con người thời đại Internet cũng khác trước rất nhiều Chính các siêu liên kết và tính phân mảnh thông tin của web cùng với công cụ vạn năng mang tên Google đã khiến thói quen đọc, thói quen tìm kiếm và ghi nhớ thông tin, hay thói quen suy nghĩ của chúng ta hoàn toàn thay đổi
Chúng ta đang chứng kiến sự xâm nhập của công nghệ vào mọi góc cạnh cuộc sống
Đó là một xu hướng không cưỡng lại được Tình hình đó đặt ra vấn đề thích nghi với những tiện ích mới và những thử thách mới do công nghệ mang lại Giáo dục không thể đứng ngoài cuộc nếu không muốn tự cách li mình và trở nên lạc điệu Hơn thế, người làm giáo dục có thể phải chủ động hơn nữa trong việc tận dụng các tiến bộ công nghệ để đổi mới chính mình, mang lại một khuôn mặt mới năng động và hiệu quả hơn.
Làn sóng các Khóa học trực tuyến đại chúng mở (MOOCs) dưới sự hậu thuẫn của
những tổ chức giáo dục hàng đầu thế giới như Harvard, Stanford, MIT trong hai ba năm trở lại đây dấy lên những thảo luận sôi nổi về giáo dục trên toàn cầu, tạo ra hy
vọng mới về những thay đổi lớn lao của giáo dục Cách đặt vấn đề “Một trường học
đẳng cấp trực tuyến toàn cầu cho mọi người” của Sal Khan, người sáng lập Khan
Acad-emy – một nền tảng học tập trực tuyến nổi bật hàng đầu hiện nay – ngày càng được chia sẻ và gợi cảm hứng đặc biệt Ở những nơi nghèo hơn, những sáng kiến như edX, Coursera hay Khan Academy thực sự giúp người học có điều kiện tiếp cận với những chương trình học tập đẳng cấp thế giới mà trước đây họ thậm chí không dám mơ tới
vì những rào cản về kinh tế và địa lí
Làn sóng tiếp theo của các loại hình thiết bị cầm tay, của những máy tính bảng, của điện toán di động đang thúc đẩy môi trường học tập mở rộng xa hơn nữa, làm nhòe hơn nữa ranh giới nhà trường – cuộc sống Việc học giờ đây có thể diễn ra ở bất cứ
ở đâu, bất cứ lúc nào chứ không chỉ phải đến trường và gói gọn trong những giờ lên lớp hay trong các phòng lab Các thiết bị tương tác thông minh này cũng đang dần dần biến chuyển từ những thiết bị giao tiếp thông thường, hay những thiết bị tiêu dùng sang những nhiệm vụ đặc thù chuyên nghiệp hơn trong các lớp học Ngày càng
có nhiều sáng kiến, nhiều dự án đang âm thầm hoặc lộ liễu đưa máy móc xâm nhập học đường Người ta đã bắt đầu nhắc tới các khái niệm về học tập thông minh (smart learning), lớp học thông minh (smart classroom), và giáo dục thông minh (smart ed- ucation) Một lớp học không sách vở không chỉ còn là mơ ước, mà đã trở thành hiện thực ở nơi này, nơi kia trên địa cầu
Những hiện tượng công nghệ như cái thế đặt ra cho người làm giáo dục hàng loạt câu hỏi: Cơ hội hay thách thức? Bắt kịp hay tụt hậu? Tốn kém hay tiết kiệm? Làm sao phát huy mặt lợi, hạn chế mặt hại của công nghệ? Làm sao để lướt trên làn sóng công nghệ để đổi mới nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập? Liệu có làm được không?… Tạp chí Công nghệ Giáo dục số 04 sẽ cùng bạn lướt qua các chi tiết từ những khảo sát trào lưu MOOCs, trào lưu giáo dục số, cùng với những kinh nghiệm thực hành
Trang 5Tin tức
Sự kiện
Trang 6ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHỐI PTTH
Nguyễn Thị Vân | LTIT
Theo yêu cầu của Ban giám hiệu (BGH) Fschool, dự án CNGD có kế hoạch tổ chức chuỗi đào tạo cho giáo viên của khối phổ thông FPT từ tháng 8/2014 đến hết tháng 5/2015
Ngày 14/8 vừa qua, buổi đào tạo đầu tiên đã diễn ra tại FSchool - Hòa
Lạc với sự tham gia của 35 giáo viên và BGH nhà trường với chủ đề: Giáo
dục Kiến tạo.
Nhiều giáo viên chia sẻ cảm giác tuy phải “bơi” trong các khái niệm về giáo dục kiến tạo nhưng đều rất hào hứng và đặt câu hỏi Đa phần các ý kiến khảo sát cuối buổi học đều cho rằng, việc cải tiến phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết để tạo ra môi trường học tập hiệu quả, khác biệt cho Fschool
Ảnh: Buổi đào tạo đầu tiên tại Fschool
Song song với các buổi đào tạo trực tiếp, dự án CNGD sẽ triển khai chương trình thông qua lớp học trực tuyến của Google (Google Class-room) và mỗi giáo viên sẽ có những dự án riêng của mình, được quản lý trên Google Classroom
Buổi đào tạo thứ 2 diễn ra vào 8h30 sáng thứ 7, ngày 06/9 tại A4, tòa nhà Detech
Trang 7THỬ NGHIỆM LỚP HỌC LỊCH SỬ
THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI TẠI FSCHOOL
Hoàng Giang Quỳnh Anh | LTIT
Ngày 12/08/2014, Google đã chính thức mở của Google Classroom
Ngày 22/08/2014, Google Classroom đã chính thức được áp dụng tại lớp 10A của Fschool
Với sự hỗ trợ của Dự án CNGD, cùng sự chuẩn bị kĩ lưỡng của cô PhươngNT và học sinh, buổi học đầu tiên đã diễn ra với không khí sôi nổi và hào hứng Học sinh theo dõi clip do chính giáo viên thực hiện trước khi lên lớp, đồng thời chuẩn bị trước các câu trả lời cho các câu hỏi được đưa ra Trong suốt buổi học, học sinh được trao đổi, thảo luận, làm việc nhóm, thuyết trình và được đưa ra quan điểm cá nhân, bảo vệ quan điểm của mình trước lớp học
Với cách tiếp cận mới, việc học lịch sử của học sinh trở nên chủ động thay vì bị nhồi nhét thông tin về các sự kiện và số liệu Thông qua các hoạt động học tập tích cực, học sinh tự nhập thân vào lịch sử, xây dựng lòng yêu thích lịch sử, kiến thức và tư duy lịch sử cho riêng mình
Trang 8SEMINAR BEST PRACTICES IN TEACHING PROGRAMMING
Hoàng Giang Quỳnh Anh | LTIT
Ngày 16 tháng 08 năm 2014, tại phòng A2 nhà Detech, Dự án Công nghệ Giáo dục đã tổ chức seminar “Best Practices in Teaching Programing” với sự tham gia của nhiều giảng viên bộ môn CF (lập trình) và các giáo viên của Fschool Thầy AnhNN3 của bộ môn CF đã trình bày về những thách thức trong dạy lập trình, đưa ra những khó khăn cơ bản khi dạy lập trình Trong đó có những điểm đáng chú ý như: sự khác nhau giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ lập trình, ngành phần mềm phát triển nhanh, sinh viên ra trường không chỉ cần kiến thức cơ bản nhưng không thể dạy tất cả ở trường Thầy cũng đưa ra mong muốn được tích hợp việc dạy trong trường với những dự án thật để sinh viên được trải nghiệm, được tiếp cận công nghệ, với những sản phẩm thực tế thúc đẩy động lực học tập của sinh viên nhằm giảm sự mất tập trung, giảm sự gián đoạn để sinh viên tập trung vào việc học; tăng cường khả năng đọc tiếng Anh của sinh viên cũng như việc đọc giáo trình
Sau những chia sẻ của thầy AnhNN3, thầy ĐớiPA của khoa Quốc tế chia sẻ một số kinh nghiệm trong đổi mới phương pháp giảng dạy, đưa
ra những gì đã làm được trong một năm học để thay đổi việc học của sinh viên Các bài giảng của thầy ĐớiPA được thiết kế đảm bảo mô hình ARCS của Keller (attention, revelance, confidence, satisfaction) Thầy chia sẻ, học theo cách này, mọi đối tượng đều được lợi Những bạn yếu hoặc chủ động yếu sau nhiều môn học sẽ sợ không dám hỏi Nhiệm vụ của giảng viên là quan sát và hỗ trợ, ngồi bên cạnh 1-2 buổi để người học
tự tin hơn và sẽ làm được Lý thuyết lúc này không còn nữa vì người học
Trang 9hỗ trợ và học tốt hơn Tổng kết sau môn học, trước thi thực hành lần 1 chỉ có 30% sinh viên qua môn, hiện nay đã tăng lên 53%.
Bên cạnh chia sẻ của hai giảng viên, trưởng nhóm nghiên cứu của Dự
án CNGD LươngPTT cũng đã thảo luận xung quanh các “Best practices” với các mô hình học trải nghiệm, học qua vấn đề, học qua dự án, học tập phân hóa và học tập cộng tác nhằm giúp các giảng viên có thể nhìn nhận một cách có cơ sở khoa học hơn về những phương pháp học tập
Sau ba báo cáo, các thành viên tham gia seminar cùng nhau thảo luận
về các vấn đề dạy và học tập với bộ môn CF hiện nay Có nhiều câu hỏi
và quan điểm đưa ra: Liệu có nên đưa các phương pháp mới vào ngay hay
không? Thay đổi thì thi theo hình thức nào? Tiêu chuẩn như thế nào? Khi muốn thay đổi cần làm như thế nào?
Kết thúc buổi seminar, các giảng viên cho rằng cần có một chương trình đào tạo đối với giảng viên, cần phải đào tạo liên tục, đến mức độ này được chấm bài, đến mức này được ra đề thi
Seminar kết thúc lúc 11h30 cùng ngày, hứa hẹn sẽ cố gắng duy trì sinh hoạt với những chủ đề để áp dụng cụ thể với việc dạy trên lớp
Trang 10CON NGƯỜI HỌC NHƯ THẾ NÀO?
Nguyễn Thị Vân | LTIT
Tìm hiểu về cách thức con người học tập (How People Learn) dưới góc
nhìn của Tâm lý học là chủ đề của buổi sinh hoạt cuối tháng 8 của dự
án Công nghệ giáo dục Buổi seminar thu hút được nhiều giảng viên của khối đại học, cao đẳng và phổ thông của trường đại học FPT
Với những nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực Tâm lý học, dự án đã
sẽ chia sẻ những hiểu biết cơ bản về Thuyết phân tâm học; Thuyết kiến
tạo nhận thức; Thuyết kiến tạo xã hội; Thuyết học tập xã hội; những ảnh
hưởng của của yếu tố tâm lý với việc học tập, từ đó liên hệ tới vấn đề áp dụng vào giáo dục phù hợp với các lứa tuổi khác nhau
Những người tham gia đã có những thảo luận sôi nổi về các khái niệm
‘tính dục” và “tình dục”, “mặc cảm Oedipe và Electra” từ đó đưa ra nhiều câu hỏi có liên quan đến việc học tập của học sinh, sinh viên Một
câu hỏi khác được đặt ra là: Đại học FPT đang áp dụng lý thuyết tâm lý
nào trong hoạt động giảng dạy? Từ những quan sát và kinh nghiệm giảng
dạy tại trường, có ý kiến cho rằng, tuy chưa đưa thành phương châm, nhưng các thầy cô đang vận dụng nhiều thuyết Hành vi (Behaviourism) Buổi seminar là khởi đầu cho một chuỗi các hoạt động nghiên cứu về Tâm lý học sẽ được triển khai ở dự án trong thời gian tới, đặc biệt vào tháng 9/2014
Lịch sinh hoạt chuyên môn của dự án Công nghệ Giáo dục, dự kiến cho tháng 9/2014:
Tuần 4: Ra mắt sách "Xây dựng đội ngũ giáo viên - Một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục".
Trang 11Từ Thực Địa
Trang 12CƠ HỘI VỚI HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC
Vấn đề tồn tại của lớp học truyền thống
Trong lớp học truyền thống, giáo viên dành phần lớn thời gian áp dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau để giúp người học nắm được những khái niệm mới Phương pháp phổ biến nhất là giảng dạy trực tiếp (direct instruction) Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, phong cách học
và sở thích của người học được mặc định là giống nhau Đây là cách dạy
“một cỡ cho tất cả” (one-size-fit-all), việc học các kiến thức mới bao giờ cũng bắt đầu từ giáo viên, còn người học chỉ tiếp nhận bị động
Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển của Internet, sinh viên dễ dàng
có được các học liệu (sách, bài viết, bài giảng ở dạng video v.v) tốt nhất
mà không cần hoặc cần rất ít sự trợ giúp của giáo viên Những tài nguyên này mang lại cho người học những giá trị lớn khác bởi họ có thể học bất
cứ khi nào, bất cứ ở đâu, theo nhịp và sở thích của từng người Điều đó
có nghĩa, dù không nhận được hoặc nhận được ít sự giúp đỡ của giáo viên, người học vẫn có thể tự học các khái niệm mới Vì vậy các lớp học truyền thống ngày càng mang lại ít giá trị cho người học trong xã hội hiện đại, thậm chí còn làm giảm động lực học tập với những người học thiếu đôi chút kiến thức cần thiết hoặc có phong cách học không hợp với thành viên khác trong lớp hoặc giảng viên
Mặc dù có rất nhiều sự hỗ trợ của Internet như các diễn đàn, mạng xã hội, nhưng trong các lớp học truyền thống, người học vẫn thiếu sự kết nối với các bạn cùng học, sự hỗ trợ tức thì, cá nhân hóa và sự trải nghiệm sâu sắc Như vậy, vấn đề lớn nhất của lớp học truyền thống là không cá nhân hóa việc học về khả năng, thời gian, phong cách học và mang lại
ít những hoạt động giàu trải nghiệm, động viên và khiến sinh viên ngày càng bị động
Một lời giải cho vấn đề trên
Một trong những giải pháp đã được áp dụng vào chương trình đào tạo
tại Trung tâm FPT Aptech trong nhiều học kỳ vừa qua là lớp học/học tập
đảo ngược (Flipped Classroom/Learning) Vậy Học tập đảo ngược là gì?
Kinh nghiệm triển khai lớp học đảo ngược của bản thân tác giả là gì? Đó
là những câu hỏi sẽ được trả lời trong nội dung dưới đây
Định nghĩa học tập đảo ngược (Flipped Learning) của FLN[1]:
Học tập đảo ngược là một phương pháp sư phạm, trong đó việc hướng
Trang 13dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học theo nhóm sang không gian học
cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trường học tập động
và tương tác mới mà nhà giáo dục hướng dẫn người sinh viên khi họ áp dụng các khái niệm và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề
Bốn yếu tố của học đảo ngược: môi trường linh hoạt, văn hóa học, nội dung có chủ ý, nhà giáo dục chuyên nghiệp Học tập đảo ngược có thể được coi là biệt dược để chữa những vấn đề của lớp học truyền thống
Học tập đảo ngược trong triển khai thực tiễn
Chúng ta hãy xem xét một triển khai mô hình học đảo ngược được trình bày ở cuốn “Flipped classroom: the full picture” (Hình 1) Nội dung môn học được chia thành các mục tiêu nhỏ khác nhau Việc học của sinh viên
ở mỗi mục tiêu được thiết kế theo mô hình được đề cập trong cuốn sách.Riêng với mục tiêu dạy kỹ năng còn được thiết kế theo cả mô hình chiếm lĩnh kỹ năng Dreyfus hay cũng như mô hình học tập Kolb
Hình1 Mô hình flipped learning của Flipped Classroom: the full picture 2
Các giai đoạn cơ bản trong lớp học đảo ngược đã triển khai tại Trung tâm FPT Aptech
1 Trải nghiệm cuốn hút
Những trải nghiệm này được sinh ra khi xem xét những vấn đề thực tế
ở trên lớp Cách giáo viên làm là cho sinh viên xem để suy nghĩ về một
Trang 14vài tính năng nào đó của các ứng dụng thực tế và bài tập lớn của họ Đó chính là gợi ý cho những khái niệm họ phải xem xét để giải quyết dự án của môn.
Trong lớp áp dụng phương pháp học tập đảo ngược, các bài tập lớn được đưa ra ngay từ đầu môn, và mỗi buổi học sẽ có những gợi ý về những tính năng đã có thể làm được sau những nội dung cụ thể Tuy nhiên, sự cuốn hút có thể đến từ việc một số sinh viên đã hoàn thành được một vài tính năng nào đó và chia sẻ cho các thành viên khác trong lớp
2 Khám phá khái niệm
Ở lớp học đảo ngược, việc khám phá khái niệm được thực hiện ở bên ngoài lớp học Trước mỗi buổi học, sinh viên khám phá khái niệm mới dựa vào học liệu do giáo viên cung cấp, chủ yếu là những video ngắn, tự tìm trên Internet cũng như tham khảo với các bạn học và giáo viên thông qua các kênh liên lạc như thư điện tử, facebook v.v
Trang 15Hình 3 Tài nguyên cung cấp cho sinh viên
3.Tạo ra ý nghĩa
Vẫn ở ngoài lớp, khi đã khám phá được các khái niệm, sinh viên làm các bài kiểm tra (quiz) để củng cố những điều mới học được Nếu mục tiêu là đạt kỹ năng áp dụng thì trong video sẽ có một bài ví dụ, sinh viên sẽ xem
ví dụ và làm lại Sau cùng sinh viên thực hiện việc phản tư (reflection) thông qua việc viết blog
4.Trình diễn và áp dụng
Bây giờ khi sinh viên cơ bản đã khám phá và nắm được ý nghĩa của các khái niệm họ bắt đầu áp dụng vào bài tập lớn của mình, chia sẻ và trình diễn trên lớp
Công việc chủ yếu của giáo viên (của tôi) trên lớp là hỗ trợ sinh viên Với những sinh viên chủ động tìm trợ giúp thì công việc của giáo viên là tìm sinh viên khác có thể trợ giúp, nhưng cần chắc chắn rằng khó khăn của sinh viên được giải quyết Sẽ có nhiều sinh viên gặp khó khăn nhưng không đề nghị hỗ trợ, do đó công việc lúc này là quan sát xem những sinh viên nào gặp vấn đề này và chủ động ngồi cùng để hỗ trợ họ làm việc Với những sinh viên “lười” không học gì ở nhà, thì công việc của giáo viên là hỏi thăm, hay ngồi cạnh để sinh viên học bất cứ điều gì, thậm chí là cùng xem video
Mô hình học tập Kolb & mô hình chiếm lĩnh kỹ năng Dreyfus
Ở mỗi mục tiêu sinh viên đi hết một chu trình học Kolb: Họ xem lý thuyết trong video, và trong video đó học có một bài tập ví dụ; họ sẽ cần làm lại (thử nghiệm) ví dụ đó, từ đó họ sẽ cần phải xem lại những kiến thức và trải nghiệm của mình để so sánh, đánh giá với những gì đã biết (phản
Trang 16Hình 4 Mô hình học tập Kolb[5]
tỉnh – quan sát suy tưởng) Nhưng nếu họ chỉ dừng lại ở vòng đầu tiên của Kolb thì theo mô hình Dreyfus họ mới chỉ đạt được kỹ năng thấp (novice hoặc advanced beginner) Vậy họ cần lặp lại chu trình Kolb nhiều lần nữa
Lúc này từ những kết luận của người học, họ đem vào áp dụng ở một vấn đề tương tự ở mục delivery (Hình 3), khi hoàn thành mục này họ sẽ
có những kinh nghiệm cụ thể đáng kể, từ đó họ sẽ có thêm những quan sát, phản tư ở mức độ khác Từ đó kỹ năng của họ có thể đạt tớ mức có năng lực
Một lần nữa, họ đem những gì học được áp dụng vào bài tập lớn của môn ở mức độ phạm vi rộng hơn, khác biệt hơn so với những gì họ được hướng dẫn Và lúc này kỹ năng của họ có thể đạt tới mức thành thạo Nếu
họ có được khuyến khích áp dụng thêm ở những bài tập khác cũng như mức độ phức tạp hơn thì sinh viên hoàn toàn có thể đạt tới những mức cao hơn trong thang kỹ năng
Người học trong giai đoạn đầu thường có tư duy “đi tắt” để làm ngay những bài tập yêu cầu kỹ năng ở mức cao mà không đi qua mức thấp hơn Điều này thường gây cho họ vô vàn khó khăn, và từ đó làm giảm động lực Giáo viên cần chú ý quan sát và nhắc nhở sinh viên
Trang 17Hình 4 Mô hình chiếm lĩnh kỹ năng Dreyfus[4]
Đánh giá sinh viên
Mỗi môn học có hai điểm thi: một điểm thi lý thuyết lấy bằng thi trắc nghiệm và một điểm thi thực hành có điểm thành phần: 20% điểm tiến
độ, 20% điểm bảo vệ bài tập lớn, 60% bài thi cuối môn Điểm tiến độ là tổng điểm ở từng mục tiêu Mỗi sinh viên khi hoàn thành một mục tiêu thì lưu lại đường dẫn của bài viết trên blog bằng cách chú thích vào ô tương ứng với tên và mục tiêu (Hình 3) Giáo viên cho điểm ở mỗi mục tiêu theo mức:
2 - Chỉ có tóm tắt nội dung
3 - Có nội dung chi tiết
4 - Như tiêu chí 3 điểm + phản tư
5 - Như tiêu chí 4 điểm + có 4 tham chiếu của 4 thành viên khác
Thưởng và trừ điểm khi nộp sớm hoặc nộp muộn so với mục tiêu đề ra.Giáo viên chấm bài của sinh viên một cách thường xuyên, việc đưa ra các cập nhật kết quả sớm mang lại khích lệ rất tích cực cho sinh viên Thực
tế cho thấy việc chấm bài hàng ngày có tính kích thích người học trong ngày hôm đó rất tốt Nên chấm bằng cách đếm đủ thành phần và cho
Bảng 1 Kết quả áp dụng hai phương pháp
Trang 18Kết luận
Học tập đảo ngược đã mở ra cơ hội thật sự cho việc học của mọi đối tượng sinh viên, đặc biệt là sinh viên có học lực kém hơn bằng việc cá nhân hóa Việc sinh viên tự học nhiều hơn giúp tăng tính tự chủ và kỹ năng học tập tốt hơn, đó là những kỹ năng tối quan trọng trong thế kỷ
21 đầy biến động
Việc thiết kế và theo dõi lớp học căn bản cần một giáo viên kinh nghiệm, làm việc chủ động, nghĩa là vừa thiết kế, quan sát và đưa ra những hỗ trợ kịp thời Bên cạnh giáo viên đó, một sinh viên năm cuối cũng có thể làm tốt việc giảng dạy bị động, tức là khi người học hỏi thì họ trả lời (và thậm chí làm tốt hơn cả giáo viên vì họ gần sinh viên hơn) Điều này giúp nhà trường có thể cung cấp chất lượng tốt với ít nguồn lực hơn và phát triển nguồn nhân lực khi những người ít kinh nghiệm được làm việc với người nhiều kinh nghiệm
Tài liệu tham chiếu
1 Định nghĩa học đảo ngược: tion
http://www.flippedlearning.org/defini-2 The Flipped Classroom: The Full Picture
3 Blog của một sinh viên: http://trandinhthinh.blogspot.com/2014/07/introduction-to-jaxp-gioi-thieu-ve-jaxp.html
4 Dreyfus Model: http://www.sld.demon.co.uk/dreyfus.pdf
5 Kolb Learning Model: media/kolb/static_version.php
http://www.ldu.leeds.ac.uk/ldu/sddu_multi-CÁC CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG
YouTube để lưu trữ bài giảng video;
Google Drive để lưu trữ các tài nguyên liên quan;
Google Spreedsheet là công cụ để làm progress tracking;
OnlineQuizCreator là công cụ làm quiz;
Blogger | WordPress để viết reflection;
Facebook, Gmail để trao đổi trực tuyến;
Trang 19MOOC – MỘT HIỆN TƯỢNG GIÁO DỤC SỐ
và Alexander nhắc đến là “Connectivism and connective Knowledge” do
George Siemen và Stephen Downes tổ chức, với 25 sinh viên của
Uni-versity of Manitoba tham gia cùng với hơn 2.200 sinh viên học miễn phí
trên mạng Đây chính là khóa học đầu tiên được gắn nhãn MOOCs dù trước đó đã có nhiều địa chỉ cung cấp miễn phí các chương trình học trực tuyến với sự tham dự số lượng lớn người dùng như Khan Academy hay các trang e-learning khác
Sự ra đời và tiến hóa của MOOC
Những mốc đáng chú ý của MOOC:
2008: MOOC đầu tiên – khóa học “Connectivism and Connective
Knowledge”
2011: Khóa học về trí tuệ nhân tạo của Sebastian Thrun và Peter
Norvig thu hút 160.000 sinh viên tham gia
Tháng 1, 2012: Đại học Helsinki của Phần Lan cung cấp MOOC
đầu tiên về lập trình máy tính
Trang 20Tháng 2, Udacity khai trương – một MOOC vì lợi nhuận được khởi sự bởi Sebastian Thrun và đồng sự Tới nay đã thu hút trên 1.6 triệu người dùng
Tháng 4, 2012: Coursera khai trương Đây là một cổng MOOC phi lợi nhuận do Đại học Stanford, ĐH Michigan, ĐH Princeton và
ĐH Pennsylvania khởi xướng, tới nay đã thu hút hơn 7.1 triệu người dùng và hơn 100 ĐH trên thế giới tham gia cung cấp khóa học
Tháng 5, 2012: edX – một MOOC khi lợi nhuận khác - khai trương Liên minh MOOC giữa Harvard và MIT này tới nay đã thu hút hơn 2.5 triệu người dùng, và khoảng 50 các cơ sở giáo dục tham gia edX khác với Coursera ở điểm quan trọng là nó chạy trên nền phần mềm nguồn mở, và các khóa học hoàn toàn phi lợi nhuận edX cũng cung cấp nền tảng MOOC có tên Open edX cho cộng đồng giáo dục toàn cầu
Tháng 6, 2012: Đại học Galileo ở châu Mĩ Latinh tham gia cuộc chơi MOOC với khóa “Lập trình ứng dụng iPhone và iPad” bằng tiếng Tây Ban Nha
Tháng 10, 2012: Đại học New South Wales cung cấp MOOC đầu tiên về Computing
Tháng 11, 2012: New York Times bầu MOOC là nhân vật của năm
vì những tác động lớn lao của nó tới cộng đồng giáo dục bậc cao
Tháng 8, 2013: MOOC đầu tiên của Việt Nam được Giáp Văn Dương sáng lập tại địa chỉ www.giapSchool.vn
Tháng 9, 2013: edX bắt tay Google để cung cấp Open edX Khai trương MOOC.org
Trang 21cMOOC – xMOOC - vMOOC
Đặc trưng cơ bản của MOOC được hàm chứa trong các chữ cái của thuật ngữ này: Massive – chỉ khả năng tiếp cận đại chúng của các khóa học (vài nghìn lên tới hàng trăm nghìn người học); Open – chỉ tính mở của các khóa học (mở về nội dung, mở về phí, mở về khả năng tham gia, và mở
về nền tảng), Online (học trực tuyến qua Internet), và Course – nội dung
và tổ chức học tập như một khóa học chính quy chứ không đơn thuần
là cung cấp một vài tư liệu rải rác được gom lại (có thể có thời điểm bắt đầu/kết thúc khóa học, có phần thưởng, có đánh giá, có phản hồi, có giáo viên trợ giúp, có cộng đồng hỗ trợ, thậm chí là có chứng chỉ và được chuyển đổi tín chỉ tương đương với khóa học chính quy tại trường đại học truyền thống)
Người ta phân loại MOOC dựa trên đặc tính vận hành khác nhau, gồm hai loại cMOOC (c = connectivist) và xMOOC (x = extended) xMOOC (như TEDx, edX) cung cấp các khóa mở rộng, cộng thêm (extended), các khóa học tham khảo, v.v Một số xMOOC sơ khai chỉ đơn thuần chỉ ghi lại và cung cấp các bài giảng dưới dạng video, cho nên nhiều người đánh giá chúng không hơn gì “sô diễn truyền hình + sách giáo khoa số” Trong khi đó, cMOOC xây dựng một cộng đồng học tập bằng nền tảng số hóa dựa trên các nguyên lí sư phạm kết nối (connectivist pedagogy) vốn rất
có ảnh hưởng trong lĩnh vực học tập trực tuyến
Trang 22Hollands và Tirhali (2014) so sánh đặc trưng hai loại hình MOOC như bảng dưới:
Nội dung xác định trước, giáo viên giảng (instructor-led), có cấu trúc, các hoạt động tuần tự theo tuần.
Giáo viên chỉ là một nút trong mạng lưới học tập mang tính xã hội.
Video Ngắn, bài đọc thêm, bài tập Sáng tạo, khám phá một chủ điểm
trong một môi trường kiểu “xưởng máy”.
Bài tập kiểm tra ngắn tự chấm, đánh giá chéo. Các sản phẩm được sinh viên tạo ra (blog, ảnh, sơ đồ, video) Chuyển giao qua nền tảng của nhà
cung cấp dịch vụ MOOC (ví dụ sera, edX )
Cour-Diễn đàn thảo luận, Twitter và các công cụ mạng xã hội là công cụ tối quan trọng.
Người thúc đẩy (Facilitator) tổ hợp, rà xoát, đúc kết và phản tư (reflect) trên các hoạt động thông qua các bản tin hằngngày/hằng tuần.
Nền tảng dạng Boot-strap và các công
cụ cộng tác
Gần đây, người ta còn dùng vMOOC(v = vocational) để chỉ ý tưởng về loại hình MOOC chứa các công nghệ để giả lập (simulation, như Unity, Second life, ) trợ giúp người học phát triển các kĩ năng thực hành và khả năng khác Nhờ đó chúng có thể được áp dụng vào trong việc đào tạo nghề và kĩ năng
Theo MOOC Guide, những lợi ích chính mà MOOC mang lại gồm:
1 Chỉ cần có kết nối là có thể học được
2 Học bằng bất kì ngôn ngữ nào hoặc trong môi trường đa ngôn ngữ
3 Dùng bất kì công cụ online nào
4 Không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian
5 Tạo lập và chuyển giao các khóa học trong thời gian ngắn
6 Nội dung phù hợp bối cảnh dễ dàng được chia sẻ
7 Phi chính quy, học thoải mái hơn
8 Các tương tác người cùng học(peer-to-peer) thúc đẩy việc học tập
9 Dễ dàng băng qua các rào cản của chuyên ngành và trường học
Trang 2310 Ít rào cản cho người nhập học.
11 Thúc đẩy môi trường học tập cá nhân hóa
12 Cải thiện khả năng học tập suốt đời
Những nhược điểm của MOOC cũng được chỉ ra, ví dụ:
1 Thông tin bị nhiễu loạn và thiếu tổ chức, do lượng lớn nội dung do người dùng tạo ra
2 MOOC đòi hỏi người dùng phải có am hiểu và kĩ năng công nghệ thông tin để có thể khai thác hiệu quả
3 Đường truyền và băng thông là một rào cản đối với những nơi không đủ điều kiện
4 Ngôn ngữ cũng là một rào cản lớn, các khóa học chất lượng cao lại đang chủ yếu được cung cấp bằng tiếng Anh
5 Người học phải có năng lực tự học và tự động viên tốt để có thể hoàn tất được khóa học
6 Giáo viên thấy lúng túng vì không biết cách thiết kế bài giảng cho phù hợp mới môi trường mới
7 Khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy và học tập
MOOC như là nền tảng học tập mới
Khi chúng ta nhắc tới edX, là chúng ta đang nhắc tới một nền tảng form) cho việc chuyển giao các khóa học dạng MOOC Trên nền tảng
(plat-đó, có thể tồn tại những cách thức tổ chức học tập rất cũ đã từng được
sử dụng trong ở các nền tảng học tập trực tuyến hay e-learning trước đó Cách thức tổ chức thông tin, tổ chức học tập vẫn dường như độc lập với nền tảng chuyển giao các khóa học Điều đó cho thấy vai trò của người thiết kế học tập, của các vấn đề sư phạm và vai trò của giáo viên vẫn nằm
ở trung tâm cho sự thành công của các chương trình học tập trên MOOC (Bayne & Ross, 2013)
Bên cạnh các lý thuyết về kiến tạo xã hội (social constructivism), các phương pháp học tập phát triển năng lực (mastery learning), đánh giá đồng đẳng (peer assessment), kể chuyện (story telling), thảo luận …, lý thuyết được cho là có ảnh hưởng lớn tới cách thức xây dựng và triển khai
các khóa học MOOC chính là học tập kết nối (connectivism) với bốn
nguyên lí (Downes, 2011):
1 Tổng hợp(Aggregation): nội dung được tạo ra từ nhiều nguồn.
2 Hòa trộn (Remix Hòa trộn): các tài liệu học tập được xử lí, hòa trộn
Trang 24giữa các khóa học với nhau, và với các tài liệu khác.
3 Tái định hướng mục đích (Re-purpose): các học liệu được tổng hợp
và hòa trộn đề phù hợp với mục tiêu của từng người học
4 Tích cực nuôi dưỡng (Feedingforward): các ý tưởng và nội dung
được chia sẻ rộng rãi với người tham gia và phần còn lại của thế giới.Trước đó, Siemens (2005), đưa ra cái nhìn khác với tám nguyên lí của thuyết kết nối:
1 Việc học và tri thức tồn tại bởi các ý kiến đa dạng
2 Việc học tập là quá trình kết nối các mắt xích hoặc nguồn thông tin đặc biệt
3 Việc học có thể nằm trong những thứ nhân tạo
4 Khả năng mở rộng hiểu biết quan trọng hơn rất nhiều những gì đã biết
5 Nuôi dưỡng và duy trì các kết nối là cần thiết để tạo điều kiện cho việc học tập liên tục
6 Khả năng nhìn thấy được các kết nối giữa các lĩnh vực, ý tưởng, và khái niệm là một kĩ năng cốt lõi
7 Tính cập nhật (Currency, bao gồm tính chính xác, tính cập nhật của tri thức) là mục đích của tất cả những hoạt động học tập kết nối
8 Ra quyết định là một quá trình học tập Lựa chọn học cái gì và ý nghĩa của các thông tin được nhìn dưới thấu kính của một thực tiễn đang biến đổi Cái hôm nay còn là đúng có thể ngày mai sẽ sai Ravenscroft (2011) cho rằng các cMOOC hỗ trợ tốt hơn việc tạo lập các thảo luận nhóm và xây dựng tri thức mới, Downes (2005) thì nhấn mạnh cMOOC là “sáng tạo và năng động” hơn so với cách thức triển khai cũ kiểu xMOOC
Trong một diễn tiến khác, MOOC có thể tạo điều kiện để các nhà giáo tái tổ chức phương pháp học tập hỗn hợp (blended learning), ví như trào lưu lớp học đảo ngược (Flipped Classroom, xem thêm các bài viết về học tập đảo ngược trong cùng số tạp chí này) với kết quả học tập được cải thiện đáng kể Cách thức học tập hỗn hợp giữa việc học tập trực tuyến thông qua các cổng MOOC và tương tác trên lớp có thể giúp cho việc học vượt qua được những trở ngại cơ bản của học tập thuần trực tuyến mà nhiều khóa học đang phải đối mặt Một lớp học đảo ngược kiểu này cuối năm 2012 được edX thử nghiệm tại trường San Jose đã mang lại kết quả
Trang 25lớp chỉ học trực tuyến Đây là một ví dụ về những nỗ lực của những nhà giáo nhằm khai thác lợi thế của MOOC, biết cách dùng công nghệ để gia tăng thời gian tương tác, giúp cho lớp học nhân văn hơn (humanize- chữ dùng của Sal Khan, người sáng lập Khan Academy).
Những nhận định trái chiều
Ngay từ khi ra đời, MOOC được kì vọng là sẽ thay đổi cuộc chơi giáo dục (game changing), ở đó các tay chơi (player) chính là những trường học truyền thống đang gặp phải rất nhiều vấn đề về chất lượng, cơ hội tiếp cận (accessibility) và bình đẳng trong giáo dục MOOC tạo ra cơ hội bằng vàng cho những người có điều kiện thấp được tiếp cận với các chương trình giáo dục chất lượng cao hơn Việc hàng loạt các tổ chức giáo dục hàng đầu tham gia tích cực vào việc dựng lên các địa chỉ cung cấp MOOC có chất lượng cũng thu hút sự chú ý của cộng đồng giáo dục quốc tế Có những bước đi mạnh dạn (như trường hợp thí điểm chuyển đổi tín chỉ giữa việc tham gia MOOC với các chương trình truyền thống tại Đại học bang San Jose), chứng tỏ MOOC đang là ý tưởng hấp dẫn Nhiều cơ sở đại học nhìn thấy cơ hội thông qua việc tái sử dụng các nguồn học liệu phong phú và chất lượng để cải thiện chất lượng giáo dục Các nhà giáo tìm thấy một công cụ chưa từng có để quảng bá tư tưởng của mình (cả đời giảng dạy của một GS ở Harvard có khi chưa dạy được một phần trăm nhỏ của hàng trăm nghìn người học trên một khóa ở Coursera) Thậm chí, một số nhà giáo từng lo ngại về nguy cơ mất việc trước sức ép của làn sóng MOOC Tuy vậy, cũng chính tỉ lệ hoàn thành khóa học rất thấp (thường là dưới 10%, tỉ lệ trung bình ở edX là khoảng 4%) dấy lên làn sóng lo ngại về chất lượng của các khóa học loại này
Trang 26Trong thực tế, có những khóa học trên các cổng MOOC không khác gì một chương trình truyền hình dài tập Ngày càng nhiều yêu cầu về một nền tảng sư phạm mới cho MOOC được đặt ra Đại học San Jose đã tạm ngừng liên kết với Udacity trong việc cung cấp các khóa học chính thức trước những tranh cãi về kết quả nghèo nàn của các chương trình học online với MOOC Nhiều người nhấn mạnh vào nhược điểm cố hữu của việc học tập trực tuyến mà MOOC cũng thừa hưởng, đó là việc thiếu vắng những hỗ trợ cần thiết và mối tương tác liên cá nhân giữa những người học với nhau và giữa người học với người dạy Cuối năm 2013, một số nhà báo thậm chí đã nhắc tới cái chết của MOOCs, rằng “MOOC chỉ làm được vài việc tốt” Trong khi đó, lại có báo cáo nhận định thị trường MOOC sẽ tăng trưởng đều khoảng hơn 50% trong thời gian bốn năm tới đây
Thay lời kết
MOOC có lẽ đã qua thời kì được thổi phồng Ngày càng nhiều nhược điểm và lo ngại về MOOC đã được chỉ ra Những người ủng hộ MOOC cũng như các nhà cung cấp đều đã có những nỗ lực để giúp MOOC phát triển MOOC đang trên đà trưởng thành, trở nên thực chất hơn, và sẽ tiến hóa nhanh trong tương lai gần để thực hiện sứ mệnh của nó, định hình lại giáo dục toàn cầu MOOC đang thực sự tạo ra một trào lưu mới trong giáo dục số trên phạm vi rộng lớn và sâu sắc
Tài liệu tham khảo
• Andrew Ravenscroft (2011),"Dialogue and connectivism: A new proach to understanding and promoting dialogue-rich networked learning | | The International Review of Research in Open and Dis-tance Learning", Vol 12, No.3,2011 Irrodl.org
ap-• Downes Stephen (5-1-2011), "'Connectivism' and Connective Knowledge", Huffpost Education, truy cập 26-8-2014
• Fowler, Geoffrey A (2013-10-08) "An early report card on MOOCs" Wall Street Journal Truy cập 26-8-2014
• Fiona M Hollands & Devayani Tirthali (5 2014), MOOCs: tations and Reality, Columbia University
Expec-• John Macus, Harvard, MIT: Despite low completion rates, MOOCs work (21-1-2014)(http://hechingerreport.org/content/harvard-mit-despite-low-completion-rates-moocs-work_14495/), truy cập 27-8-2014
• Robert White, The Death of MOOCs Has Been Greatly Exaggerated, truy cập 27-8-2014
Trang 27Online Course: the UK view, Higher Education Academy.
• Siemens, G (2005) Connectivism: A learning theory for a digital age International Journal of Instructional Technology and Distance Learning, 2(1), 3–10
• Parr, Chris (17 -10 - 2013) "Mooc creators criticise courses’ lack of creativity" Times Higher Education, Truy cập26-8-2014
• Wikipedia, mục MOOC, truy cập 26-8-2014
Trang 28LỚP HỌC SỐ HÓA – GIẢI PHÁP NÀO?
Phan Thị Thanh Lương | LTIT
Bill Gate vừa giới thiệu một công cụ hỗ trợ giáo viên và học sinh có tên Graphite cung cấp 6 ứng dụng giúp cho việc giảng dạy hiệu quả hơn Cũng vào đầu tháng 8/2014, Google ra mắt ứng dụng dành riêng cho giáo dục là Google classroom, với những thao tác đơn giản, giáo viên đã
có thể thiết lập một lớp học online, tương tác với học sinh một cách riêng
tư hoặc tương tác với cả lớp qua tính năng comment (bình luận) trong lớp học Sự hiện diện của Khan Academy, Coursera, Duolingo, và nhiều trang MOOCs học tập online miễn phí khác đã khẳng định sự thâm nhập sâu rộng của công nghệ vào giáo dục Chưa bao giờ công nghệ dành cho giáo dục lại nở rộ như hiện nay
Trong khi cả thế giới đang sống trong một kỷ nguyên kỹ thuật số, sinh ra một thế hệ công dân kỹ thuật số, thì giáo dục vẫn giữ được truyền thống
lâu đời với bảng, phấn/bút, ghi chép, sách giấy “Công nghệ sẽ làm thay
đổi cách chúng ta giảng dạy” là câu phát biểu của các trang website cung
cấp các công cụ cho giáo dục Trong tháng 8/2014 này nước ta cũng xuất
hiện một đề án có tên “Thí điểm mô hình đổi mới và toàn diện giáo dục
tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM năm học 2014-2015” đang gây xôn
xao dư luận vì mục đích của đề án là số hóa lớp học bằng máy tính bảng Vậy công nghệ đã thay đổi thế nào khi ngày càng nhiều điều bất ổn liên quan đến việc sử dụng công nghệ cho việc dạy và học?
Câu chuyện cái máy tính bảng
Trang 29Lúc đầu chỉ là phương tiện giải trí, giờ lại là giải pháp của giáo dục Ở Mỹ cũng đang rộ lên xu hướng này và có hẳn một trang web đưa ra những ưu
và nhược điểm của công cụ này khi sử dụng cho giáo dục1
Bảng so sánh biểu hiện rõ cái LỢI thì ít hơn cái HẠI, nhưng không phải
vì vậy mà chúng ta phán xét một cách hồ đồ rằng máy tính bảng là “con cừu đen” trong giáo dục Nếu có một cách nào đó khắc phục được các nhược điểm và phát huy tối đa ưu điểm của máy tính bảng nói riêng, hay bất cứ một thiết bị công nghệ nào nói chung, thì chúng ta tin tưởng rằng giáo dục có thể có một diện mạo mới
Câu chuyện người giáo viên
Công nghệ bản thân nó không tạo nên sự khác biệt cho giáo dục2 “cả
những người làm quảng cáo cho các công ty công nghệ hàng đầu cũng không có tầm nhìn về việc làm thế nào để công nghệ của họ thay đổi việc dạy và học”, chính người sử dụng mới quyết định sự thay đổi đó Việc
giáo viên lựa chọn công nghệ gì và áp dụng thế nào cho việc giảng dạy của mình trong lớp học và ngoài lớp học đang là câu hỏi hóc búa cho giáo viên và cả các nhà nghiên cứu giáo dục
Cô giáo Edita Tahirovic3 đeo micro và loa di động vào người, cô hướng
dẫn cả lớp lấy bảng điều khiển, ngồi xuống thảm và nói với học sinh: “câu
trả lời có trong bảng điều khiển của các em, không có gì phải sợ Các em hãy cố gắng hết sức” Đó là lớp học có bảng tương tác và các điều khiển
cầm tay dành cho học sinh lớp 4 và 5 tại trường tiểu học Sir Adam Beck
ở Toronto, Canada
Cô Tahirovic nói rằng lớp học với bảng tương tác thông minh thì hấp dẫn hơn nhiều và tiến trình giảng dạy cũng nhanh hơn Tuy nhiên cuối năm học cô kiểm tra thì khả năng sử dụng bút và giấy của học sinh có biểu hiện kém đi Cô cũng khẳng định công nghệ sẽ chẳng phát huy tác dụng gì nếu giáo viên không sẵn sàng và được đào tạo cẩn thận Trong bài báo này cũng đưa ra nhận định dù sử dụng công nghệ gì cũng không nên quên những điều cơ bản như kỹ năng viết Cần dành nhiều thời gian
để chú trọng vào rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh
Câu chuyện phương pháp sư phạm
Một lớp học không thể thiếu những nốt nhạc du dương của phương pháp sư phạm Chúng ta vẫn thường nghe được câu chuyện có một ông giáo sư nọ, rất giỏi về chuyên môn, nhưng khi đứng lớp thì sinh viên không hiểu gì hết Hay câu chuyện một thầy tiến sỹ về chuyên ngành kia, nhưng khi giảng bài thì cả lớp ngủ gật Hóa ra một nhà giáo giỏi không
1 - http://tablets-textbooks.procon.org/
2 - http://learntechgalway.blogspot.com/2013/02/e-learning-and-digital-cultures-week-2.
Trang 30đơn giản chỉ cần giỏi về chuyên môn mà còn phải ứng dụng các phương pháp sư phạm kết hợp với công nghệ một cách linh hoạt như một nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc vậy Bàn về vấn đề này Martin, D., & Loomis, K
(2013) nói rằng “Dạy học vừa là nghệ thuật vừa là khoa học” 4
Dễ dàng nhận thấy nếu muốn số hóa lớp học nhìn chung có ba yếu tố: Nội dung chuyên môn, Phương pháp sư phạm và Công nghệ Công nghệ đóng vai trò là công cụ để triển khai hai yếu tố còn lại, trong khi công nghệ cho giáo dục còn biểu hiện những điểm yếu cần được khắc phục
(xin đọc bài Góc tối công nghệ trong giáo dục trong số báo này) Những lo
ngại về sử dụng công nghệ cho giáo dục có thể phần nào được khắc phục nếu người thiết kế và triển khai giảng dạy khéo léo áp dụng một cách thông minh các phương pháp sư phạm
Giải pháp cho vấn đề hạn chế giao tiếp ngôn từ và gây sao lãng của công nghệ
Việc kết hợp các phương pháp học tập trong giảng dạy sẽ giúp khắc phục được hạn chế này Mỗi giáo viên có thể có cách riêng của mình, phù hợp với phong cách giảng dạy, nội dung bài học và đối tượng học sinh/sinh viên Chúng tôi có một gợi ý một tổ hợp các yếu tố áp dụng để triển khai một bài học trong mô hình sau:
Với cách kết hợp hai phương pháp: Phương pháp học tập qua giải quyết vấn đề và phương pháp học tập hợp tác, thời lượng sử dụng công nghệ hoàn toàn của hs/sv chỉ nên chiếm khoảng 10% - 20% tổng thời lượng buổi học Tuy nhiên trong quá trình làm việc nhóm, hs/sv có thể sử dụng công cụ công nghệ để đọc tài liệu, tìm kiếm thêm thông tin và các thao
Trang 31tác phục vụ cho thảo luận nhóm, tuy nhiên thời lượng cũng nên hạn chế, và nên khuyến khích thảo luận với thành viên của nhóm để tìm ra phương án giải quyết Như vậy hs/sv tập trung vào giải quyết vấn đề của bài học và dành phần lớn thời gian để thảo luận với nhau.
Như vậy công việc thiết kế bài giảng của mỗi giáo viên là rất quan trọng,
vì không thể có “one size fits all” (tạm dịch: một cỡ vừa với mọi đối tượng) Nếu đã có bài được thiết kế sẵn thì giáo viên vẫn phải tùy biến sao cho phù hợp với lớp, đối tượng hs/sv, thời lượng mỗi bài học và nội dung muốn chuyển tải của bài học mà mình đang giảng dạy
Giải pháp cho vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe
Hiện đang những ý kiến rằng lạm dụng công nghệ sẽ mang đến những điều bất lợi cho sức khỏe như: khô mắt, đau đầu, hoang tưởng, … Sử dụng máy tính và các thiết bị công nghệ trong thời gian thích hợp sẽ không có ảnh hưởng đến sức khỏe Để bảo vệ sức khỏe cho hs/sv, nhà trường và gia đình cùng kết hợp để có một thời gian biểu hợp lý Tuy nhiên việc thiết kế chương trình giảng dạy thông minh cũng giúp hạn chế tác hại của thiết bị công nghệ đối với sức khỏe người dùng
Triển khai lớp học đảo ngược là một lựa chọn thông minh Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy hs/sv dành hàng ngàn giờ mỗi năm cho các thiết bị công nghệ trong thời gian ngoài lớp học Patricia Greenfield, nhà tâm lý học phát triển đã nhận định rằng ngoài giờ học chính thức ở lớp, hs/sv còn học rất nhiều thứ từ các thiết bị kỹ thuật số, bà đưa ra nhận định nếu
có sự triển khai khác đối với giáo dục chính quy và không chính quy thì
có thể sẽ mang lại lợi ích5
5 - http://goo.gl/obFRCb
Trang 32Như vậy, nếu thời gian ngoài lớp học hs/sv dùng để học bài của chương trình chính quy thì có thể hạn chế thời gian chơi games hay các trò vô bổ khác, sau đó thời gian trong lớp học là để tương tác và tạo lập các kỹ năng thông qua trải nghiệm từ môn học.
Với mô hình gợi ý trên, phần sử dụng thiết bị công nghệ của hs/sv sẽ được thiết kế trong phần thời gian ngoài lớp học, thời gian trong lớp học
sẽ chỉ dành cho hoạt động, trải nghiệm và tương tác Nếu áp dụng sẽ hạn chế được thời gian hs/sv sử dụng máy tính mỗi ngày, giúp đảm bảo sức khỏe
Ngoài ra, đối với hs nhỏ tuổi có thể yêu cầu phụ huynh cùng kết hợp để mỗi ngày các em chỉ sử dụng khoảng 3 tiếng được chia nhỏ trong suốt 24 giờ thì tác hại của thiết bị số cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của các em6
Giải pháp cho tình trạng gian lận trong học tập
Một trong những ưu điểm của công nghệ là có thể giúp người học tra cứu, lưu giữ, sao chép tài liệu một cách nhanh chóng, nhưng chính điều
đó lại là nhược điểm khi đưa công nghệ vào giáo dục vì làm tăng tình trạng gian lận trong học tập như: đạo văn, tìm kiếm câu trả lời trên mạng, đạo ý tưởng… Nhà trường và giáo viên có thể sử dụng các phần mềm kiểm tra tỉ lệ copy trên mạng internet của hs/sv, như TurnItIn, Gram-marly, hoặc các phần mềm chống gian lận miễn phí khác Ngoài ra cũng nên cung cấp cho người học những phần mềm này để họ có thể tự kiểm tra bài làm của mình trước khi nộp bài cho giáo viên Điều này còn giúp người học phát triển kỹ năng tự đánh giá và tư duy phê phán đối với sản phẩm của mình làm ra
Các nghiên cứu tâm lý học7 cho thấy khi con người biết rằng họ sẽ bị phát hiện nếu làm gian dối thì một động cơ từ bên trong thúc đẩy họ tìm kiếm giải pháp: hoặc sẽ tìm cách để lách luật, hoặc tìm tòi để tự làm ra sản phẩm của mình một cách chân thực Dù là cách nào thì người học đã bắt đầu tiến thêm được một bước về tư duy, đó là suy nghĩ, khai phá và hoài nghi về vấn đề mà họ cần giải quyết
Kết luận
Công nghệ hiện đại có đóng vai trò quyết định trong cuộc cách mạng giáo dục không? Bản thân vấn đề này còn gây tranh cãi Rõ ràng là công nghệ đã làm thay đổi cuộc sống, thậm chí là thay đổi hết sức triệt để, ví
dụ như trường hợp Internet, vậy với giáo dục thì sao? Nếu được lựa chọn
là công cụ để cải cách giáo dục như những nốt cao trong một bản nhạc,
Trang 33cộng hưởng với sự nghiên cứu nghiêm túc về phương pháp sư phạm như những nốt trầm thì chúng ta sẽ có một bản giao hưởng làm say đắm những trái tim đam mê giảng dạy và giáo dục của giáo viên và những người làm giáo dục Có bản nhạc hay rồi thì vấn đề còn lại là người nào
sẽ phối âm và mang bản giao hưởng này đến với công chúng bằng cách nào?
Trang 34GÓC TỐI CỦA CÔNG NGHỆ
Nguyễn Thị Vân | LTIT
Máy tính điện tử nói chung và Internet được xếp vào hai trong số những phát minh công nghệ vĩ đại nhất của thế kỷ XX 1 Sau máy tính là hàng loạt các thiết bị khác như laptop, iPad, iPod, Smart phone… Lợi ích của các phát minh nay có lẽ không còn phải bàn cãi Nhưng gần đây, báo chí ở ta liên tiếp có những loạt bài chỉ trích các thiết bị công nghệ, đặc biệt là nếu thiết bị công nghệ đó có liên quan đến giáo dục “Tác hại” và “mặt trái của công nghệ” là những chủ đề được nhắc đến ở khắp nơi Phải chăng chúng thực sự có hại? Một vài câu chuyện dưới đây hy vọng sẽ phần nào tiếp cận được một vài góc tối xung quanh vấn đề ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Lạm dụng công nghệ trong trường học
1 Sử dụng quá nhiều công nghệ (hiệu ứng, công cụ, cách thức triển khai bài giảng…) trong giờ học, bỏ qua những tương tác trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên, có thể được coi là một sự lạm dụng công nghệ trong lớp học Nghiên cứu của trường đại học Havard2, nơi vẫn luôn được coi là trường đào tạo hiện đại nhất của Mỹ và thế giới, đưa ra nhận định: việc lạm dụng công nghệ trong lớp học
sẽ dẫn đến tình trạng giáo viên không cảm thấy thoải mái với công nghệ do không sử dụng thành thạo, mất quá nhiều thời gian chuẩn
bị, chưa kể đến việc các thiết bị phần cứng và phần mềm bị lỗi trong quá trình dạy, cả thầy và trò không còn thời gian cho các tài liệu thiết thực khác, hiệu quả giáo dục vì thế cũng không cao Nghiên cứu này
cũng khẳng định: “công nghệ có thể nâng cao nhưng không thể thay
thế những tương tác trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên” g nhể nâng
2 Lowell Monke, trường đại học Wittenberg University, Ohio, Mỹ, tác
giả của bài báo The Human Touch (2004)3 đưa ra nhận xét: Trong guồng quay đem máy tính đến từng ngóc ngách của trường học, người ta đã quên mất vấn đề cần quan tâm hơn, đó là sự phát triển cá nhân và trí tuệ sáng tạo của người học Monke nhấn mạnh, những thông tin mà các thiết bị số đem lại cho học sinh đa phần rất trừu tượng, và lướt nhanh khiến học sinh không đủ thời gian để cảm nhận sâu sắc Việc sử dụng quá nhiều các thiết bị công nghệ trong lớp học sẽ dẫn đến tình trạng là thay vì tư duy giáo dục đi từ chân
lý, tưởng tượng, sáng tạo và đầy ý nghĩa, giáo dục sẽ chuyển thành dạng sản phẩm nhìn thấy từ bên ngoài như đánh giá và hiệu suất
1 - Theo đánh giá của Tạp chí France Press (AFP)
Trang 353 Andrew, giảng viên trường đại học Georgia Regents, Augusta, gia, Mỹ, là một trong 8 người đóng góp cho một nghiên cứu về công nghệ trong nhà trường ở Mỹ4 cũng khẳng định không nên lạm dụng
Geor-công nghệ, ép buộc sinh viên phải dùng Geor-công nghệ vì: “Công nghệ
nói chung có thể làm tăng chất lượng giáo dục, nhưng phụ thuộc vào việc giáo viên sử dụng trong lớp học như thế nào Vấn đề là bối cảnh giáo dục ra sao, ví dụ như sinh viên thu nhập thấp không có điều kiện tiếp xúc, những vấn đề như thế này thật sự rất khó giải quyết triệt để
Vì thế, công nghệ không nên là một công cụ bắt buộc để có được một nền giáo dục tốt Thay vào đó, nó chỉ nên được coi là một lựa chọn để thúc đẩy việc học và làm gia tăng các cơ hội”
4 Không chỉ trong phạm vi giờ học, lạm dụng công nghệ còn diễn ra ở các hình thức đầu tư thiết bị trường học Theo bản đánh giá 14 năm thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông5, chưa bao giờ nhà trường được trang bị thiết bị dạy học đồ sộ như vậy, cũng chưa bao giờ nước ta đầu tư một khoản tiền lớn mà lãng phí như vậy, vì trên thực tế, có không ít trường ở Việt Nam để xảy ra tình trạng đầu tư trang thiết bị rồi để đắp chiếu
Công nghệ có làm tăng hiệu quả học tập?
1 Nghiên cứu của Baker, Gearhart và Herman, dự án ACOT (The ple Classrooms of Tomorrow, 1994)6 đã đánh giá những ảnh hưởng của việc sử công nghệ trong việc dạy và học ở các khu vực trường học của nước Mỹ (California, Tennessee, Minesota và Ohio) như sau: Trong những bài kiểm tra từ vựng, đọc hiểu, khái niệm toán học, sinh viên học theo chương trình ACOT không đạt kết quả tốt hơn so với sinh viên của các trường không được sử dụng máy tính
Ap-2 John Schater, nghiên cứu viên của quỹ Milken Exchange7 khẳng định: việc học với công nghệ thậm chí sẽ kém hiệu qủa hơn so với lớp học thường nếu các mục tiêu học tập không rõ ràng và mục tiêu sử dụng công nghệ không tập trung Khi đó, việc sử dụng chỉ làm hao tốn thời gian và công sức của cả thầy và trò mà không đem lại kết quả thiết thực Theo Tiến sỹ Martha Stone Wiske, giám đốc
Trung tâm Công nghệ giáo dục ở trường Đại học Havard thì "Một
trong những khó khăn liên quan công nghệ và giáo dục đó là, người
4 - Andrew T.Kem & John Preston & Joseph Flynn & Misato Yamaguchi, C Steven Page,
Rebecca Harper, and Benita Dillard, 2014, Technology and Teaching: A Conversation among Faculty Regarding the Pros and Cons of Technology
5 - http://www.moet.gov.vn/?page=6.9&view=166
6 - Dự án ACOT nghiên cứu khả năng hỗ trợ giảng dạy của công nghệ.
7 - www.milkenexchange.org - Quỹ từ thiện, nơi có nhiều nghiên cứu về y tế và giáo dục để
Trang 36ta thường nghĩ đến công nghệ trước sau mới đến giáo dục" Để hỗ trợ
những người làm giáo dục và những người làm chính sách ưu tiên đặt việc giáo dục lên trước, quỹ Milken Exchange mở ra dịch vụ làm sáng tỏ (clearning house) các nghiên cứu và thông tin về công nghệ
3 Một thực tế xảy ra thường xuyên trong các lớp học công nghệ, đó là sinh viên mất tập trung vào việc học (class distraction) Những lớp học sử dụng công nghệ đem lại nguồn truy cập thông tin vô tận với sinh viên, nhưng cũng đem đến cho họ không ít sao lãng Trò chơi, tin tức, nhắn tin, email, báo điện tử, mạng xã hội…vv đều có sức hấp dẫn khó cưỡng với sinh viên Nhiều giáo viên đứng lớp thực sự không biết liệu sinh viên của mình có đang ghi chép bài giảng hay đang cập nhật trạng thái trên facebook, hoặc mua sắm cũng chưa biết chừng! Thực tế này đã được ghi nhận ở các trường Havard và Yale, Columbia8
4 Trường đại học Austan Goolsbee ở Chicago, Mỹ đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của Internet đối với hệ thống các trường học ở Chicago
và cho thấy, không có ảnh hưởng tích cực của Internet đối với kết quả học tập của học sinh ở đây Thậm chí, chương trình thử nghiệm này còn chỉ ra rằng Internet có ảnh hưởng không tốt đến điểm số môn toán của học sinh, sinh viên
5 Những ý kiến phản bác cho rằng, quá dựa dẫm vào công nghệ sẽ gây
ra tình trạng con người bị đẩy ra rìa (deskilled) ở hầu hết các lĩnh vực (Apple, 2003) Apple cũng chỉ ra rằng, công nghệ đã đưa đến cho trường học những chương trình đóng gói sẵn, với tư liệu được tạo ra ngoài phạm vi (realm) của giáo viên, đánh mất năng lực nghề nghiệp thực sự của họ Apple cho rằng, trong khi công nghệ mở rộng nguồn thông tin và kho tri thức thì nó cũng đồng thời làm suy giảm tính cộng đồng (collective humanity) của chúng ta
6 Không quá khi nói rằng công nghệ là cỗ máy “nuốt” thời gian của giáo viên và sinh viên Ngay cả những giáo viên sử dụng công nghệ thành thạo cũng phải dành nhiều thời gian hơn cho việc chuẩn bị bài giảng Theo Brand (1998), học cách sử dụng công nghệ trong lớp học không đơn thuần chỉ là việc giáo viên dành thời gian nghiên cứu máy tính như một công cụ cá nhân, mà phải nghiên cứu dưới góc độ một công cụ giảng dạy và sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp Hơn thế nữa, khi họ có hiểu biết về cách thức sử dụng công nghệ, họ lại cần thêm thời gian để áp dụng kỹ năng đã học đó vào trong chương trình dạy học
Trang 37mất công bằng trong học tập Nhiều sinh viên không có điều kiện về máy tính, internet hay các thiết bị thông minh sẽ cảm thấy đuối sức, việc học vì thế trở nên nặng nề
8 Có một thực tế diễn ra đã nhiều năm nay về việc ứng dụng máy tính và máy chiếu trong các giờ giảng của giáo viên, đó là thay vì vui mừng thì nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên nông thôn cảm thấy rất áp lực Ngoài lý do thiếu kĩ năng sử dụng, họ còn khổ vì phong trào thi đua ứng dụng công nghệ với tần suất liên tục, khiến nhiều người “không kịp trở tay” Việc học vì thế mà trở nên kém hiệu quả, thầy mệt mà trò cũng không lấy làm hứng thú vì bài giảng chuẩn bị
sơ sài
Công nghệ và sức khỏe người học
1 Nghiên cứu của trường đại học Cairo, Ai Cập9 đưa ra lời cảnh báo, công nghệ có những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người,
do ngồi trước màn hình máy tính quá lâu, sai tư thế, thức đêm, gọi chung là hội chứng “mắt mờ, chân chậm”, đồng thời khuyến cáo sinh viên nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe, điều tiết mắt bằng cách mỗi 50 phút nghỉ mắt 10 phút
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, công nghệ (máy tính và điện thoại thông minh) có những ảnh hưởng tiêu cực đáng báo động đến sinh viên do làm giảm tính tương tác xã hội và gây ra những rối loạn về tâm lý Các thiết bị này thường gắn bó với những người hay có tâm
lý e ngại hoặc kém tự tin bởi họ muốn tương tác trên mạng xã hội
Về sức khỏe tâm lý, mạng xã hội có ra những thay đổi thường xuyên
về tâm trạng, sinh viên có thể thấy giận dữ về những vấn đề không mấy quan trọng Kết luận này được đưa ra sau khi nhóm nghiên cứu
đã có những thử nghiệm với các sinh viên của trường
2 Theo nghiên cứu của Cris Rowan10 trong cuốn “Ảnh hưởng của công
nghệ đến sự phát triển giác quan và dây thần kinh vận động của trẻ”:
Cách đây khoảng 20 năm, trẻ em chủ yếu được chơi ở ngoài trời cả ngày, đi xe đạp, chơi thể thao, những trò chơi tưởng tượng, tự sáng tạo ra những trò chơi ngộ nghĩnh Chúng vận động nhiều, do đó thế giới giác quan của chúng rất đơn giản và tự nhiên Nhưng ngày nay, trẻ em chủ yếu chơi đồ công nghệ, điều này làm giảm tính sáng tạo
và tưởng tượng cũng như hạn chế những thử thách cần thiết cho
cơ thể để đạt được sự phát triển tối ưu về thần kinh vận động, giác quan Nghiên cứu này cũng cho thấy, cơ thể kém vận động cùng
9 - Christine Safwat, Heba Adel, Mireille George, Silvana Sobhy, 2012, The Effect of ogy on Human Behavior, Cairo University
Technol-10 - Cris Rowan, OTR, The Impact of Technology on Child Sensory and Motor Development