1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TP CHI CONG NGH GIAO DC s 3

64 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 8,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến từ quốc-gia-khởi-nghiệp ở Trung Đông, trong thời đại Internet và số hóa khác xa thời chiến tranh lạnh nặng tính phe phái và cục bộ của những năm 70 của thế kỉ trước, TimeToKnow cũng

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 4

TIN TỨC SỰ KIỆN 5

Hồ ngọc đại: “Lớp trẻ mới chính là tương lai của đất nước” 6

Tư duy hành dụng là gì? 10

Hội nghị đào tạo Blended Learning toàn quốc 11

Toàn cảnh hội thảo Smart.Edu 2014 12

TỪ THỰC ĐỊA 18

Chương trình tiếng anh T2K 19

Từ góc nhìn sư phạm 19

Sơ lược về phương pháp dạy học phân hóa 28

Thăng trầm công nghệ giáo dục Hồ Ngọc Đại 32

TỦ SÁCH GIÁO DỤC 36

Sách tâm lý học dạy học 37

TƯ LIỆU 39

Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm 40

Thiết kế môi trường giáo dục của Time to Know 45

Trang 4

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Công nghệ giáo dục, một thuật ngữ vừa lạ tai vừa hấp dẫn và cũng không khiến ít người hiểu nhầm Sự hiểu nhầm tai hại ấy nằm ở chỗ lâu nay người

ta hay đặt giáo dục ra ngoài “cuộc chơi” trong các lĩnh vực công nghệ Chúng

ta có thể thấy thuận tai hơn khi nghe về công nghệ thông tin, công nghệ chế biến thực phẩm, hay thậm chí là công nghệ nông nghiệp; chứ nhất quyết thấy chướng tai khi nghe phải “công nghệ giáo dục” Vậy ra, công nghệ giáo dục là gì?

Theo cha đẻ của một Công nghệ Giáo dục (CGD) “chỉ có ở Việt Nam” thì

“công nghệ giáo dục là quá trình tổ chức và kiểm soát chặt chẽ việc dạy và học” Đi kèm cách hiểu một thứ công nghệ như bao công nghệ khác như vậy,

GS mạnh dạn đề xuất một Giải pháp Giáo dục tiểu học hoàn toàn mới cho đất nước với đảm bảo “học gì được nấy, học đâu chắc đấy” ngay từ những năm cuối của thế kỉ trước Tạm gác lại những lên bổng xuống trầm của CGD, chúng ta có thể thấy một sự tìm tòi và tư duy đột phá vào những góc kĩ thuật nhà nghề khó nhất của công cuộc giáo dục quốc dân Tới nay, ý tưởng đó

đã chừng bốn thập kỉ, đã hết thời kì “thí điểm” để người dân có quyền lựa chọn cách thức con em mình được giáo dục, nhưng nó chưa từng hết nóng hổi và cũng chưa thôi gợi nguồn cảm hứng cho những người làm giáo dục đương đại

Đến từ quốc-gia-khởi-nghiệp ở Trung Đông, trong thời đại Internet và số hóa khác xa thời chiến tranh lạnh nặng tính phe phái và cục bộ của những năm 70 của thế kỉ trước, TimeToKnow cũng đã đưa ra một Giải pháp Chỉnh thể cho nền giáo dục trong thế kỉ 21 với những công nghệ tân tiến, với tư duy hệ thống và những tìm tòi sư phạm đáng nể để cung cấp một cơ hội cho các nhà giáo dục thực hiện được giấc mơ “tổ chức và kiểm soát” chặt chẽ và chắc chắn tiến trình học tập của người học mà vẫn đảm bảo sự cá nhân hóa cao độ

Khi đặt Công nghệ giáo dục đến từ đất nước của người Do Thái bên cạnh một CGD của Việt Nam, ta nhận ra nhiều sự tương đồng đáng ngạc nhiên: đều lấy việc tự học của học sinh làm học thuyết căn bản, quy trình hóa chặt chẽ đến từng bài học, lấy nguyên lí kiến tạo làm kim chỉ nam cho hoạt động giảng dạy-học tập, đề cao hoạt hoạt động và hướng tới các kĩ năng sống quan trọng phù hợp thời đại … Điều thú vị là đã từng có sự việc tiếp xúc giữa CGD với công nghệ giáo dục Israel cuối những năm 90 Tuy vậy ở thời điểm đó, Công nghệ giáo dục ở Israel được đánh giá là vẫn còn nghiêng nhiều về yếu

tố kĩ thuật, quy trình Giờ thì có vẻ như các nhà sư phạm của TimeToKnow

đã để ý nhiều hơn đến khía cạnh tâm lí học, đến “công nghệ làm ra một sản phẩm giáo dục” như GS Hồ Ngọc Đại quan niệm Tạp chí Công nghệ Giáo dục lần này cố ý đặt hai Công nghệ đó cạnh nhau dưới nhiều góc nhìn để bạn đọc có thêm cơ hội đặt ra nhiều câu hỏi thú vị bên cạnh câu “Công nghệ giáo dục là gì?” mà việc trả lời nó chưa chắc đã hay bằng những câu hỏi giáo

Lời Nói Đầu

Trang 5

Tin tức

Sự kiện

Trang 6

Trò chuyện với GS.TSKH Hồ Ngọc Đại trong buổi tọa đàm là TS Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng trường ĐH FPT Tham dự buổi tọa đàm có đại diện Ban Giám hiệu 3 miền Bắc, Trung, Nam, đông đảo giảng viên, sinh viên trường ĐH FPT cùng các khách mời.

Trang 7

và về Việt Nam mở trường Thực nghiệm Những khẩu hiệu “Đi học là hạnh phúc” hay “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” bắt đầu xuất hiện

ở Việt Nam kể từ ngày đó

Trong câu chuyện đưa CGD về Việt Nam, GS nhấn mạnh: “Tôi tâm niệm, làm khoa học, một đời người cũng chỉ có một tư tưởng mà thôi Từ tư tưởng

ấy có thể làm ra nhiều sản phẩm Cả cuộc đời tôi gần 40 năm cũng chỉ nói

và làm một vấn đề, với một tâm huyết” Ông cũng chia sẻ hiện nay đã có

khoảng 400.000 học sinh trên 42 tỉnh đang theo học chương trình CGD Nhiều giáo viên sau khi tham gia vào việc giảng dạy bằng CGD đã có sự tiến bộ rõ rệt, học sinh cũng phát triển rất nhanh Khi nhìn lại sự nghiệp của mình, ông cho rằng, cuốn Tiếng Việt lớp 1 là giá trị nhất Ông khẳng

định: “Tôi biết chắc chắn rằng việc tôi đang làm là đúng nhưng còn ở mức thô sơ và chỉ đang ở những bước đầu”.

Có lần trả lời phỏng vấn với báo chí, vị GS khẳng định: “Hồ Ngọc Đại chỉ là một cái tên ước lệ để tiện nhận mặt những sản phẩm làm ra bằng công sức và tấm lòng của cán bộ, giáo viên, nhân viên, cộng tác viên, của học sinh, của cha mẹ học sinh Một cá nhân sao có thể xây lên tòa tháp đồ

sộ đến thế, thế mà tháp ấy người ta vẫn gọi ước lệ là tháp Eiffel đấy thôi”.1

“Trẻ em là thực thể tự nhiên, đừng nhổ lên để ép chúng lớn!”

Trong phần giao lưu với những người tham gia, một vị khách mời đến

từ một trường đại học tại Hà Nội đã chia sẻ với GS về Chương trình giáo dục sớm, phát triển toàn diện trí thông minh của trẻ và ngỏ lời mời GS

đồng hành cùng chương trình Hồ Ngọc Đại chỉ trả lời vị khách này hai

câu, trong đó là lời khẳng định “Trẻ em là thực thể tự nhiên, đừng nhổ lên

để ép chúng lớn!”

Ông cũng chia sẻ: Trẻ em hiện đại sinh ra với hơn 99% số gen giống nhau CGD sinh ra là để đảm bảo trẻ phát triển như nhau Để trẻ em có thể phát triển một cách tự nhiên, người lớn phải yêu thương, tôn trọng trẻ Thêm nữa, trẻ em là con đẻ của thời đại, người lớn phải “theo” để dạy trẻ thay vì dùng phương pháp áp đặt Trong xã hội hiện đại, mỗi người

là một cá nhân cụ thể, không thể so sánh và bắt ép cá nhân này phải như

cá nhân khác

Để làm được điều này, những người trẻ làm giáo dục cần có kiến thức thực chất về triết học, tâm lý học và khoa học chuyên ngành Trong đó, tâm lý học có vai trò quan trọng để hiểu rõ tâm lý của trẻ Ông lý giải, trong cuộc sống, tâm lý đóng vai trò chủ yếu trong việc chi phối cách ứng

xử của mỗi người trong mỗi hoàn cảnh khác nhau

1 - Diễn từ tại lễ nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Chu Trinh

Trang 8

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Tin tức - Sự kiện

GS đề cập đến bản chất của CGD là quản lý quá trình tự học Trẻ tự làm

ra sản phẩm của trẻ và từ đó phát triển sự tự tin Ở trường tiểu học Thực nghiệm, học sinh được giáo dục sự tự tin và sự tự trọng Trẻ em phải tự làm mọi thứ và người lớn không bao giờ được đưa những thứ có sẵn cho trẻ Người lớn có trách nhiệm cho trẻ những công cụ và hướng dẫn trẻ

Đại đã khiến cho không khí khán phòng trở nên vui vẻ và thật thân thiện

FPT và Công nghệ giáo dục

Nhận thấy tầm quan trọng của Công nghệ giáo dục trong việc đổi mới và

nâng cao chất lượng dạy và học, trường ĐH FPT đã thành lập đội ngũ nghiên cứu về Công nghệ giáo dục để tìm ra cơ chế tối ưu hóa hiệu quả dạy – học và tự học ở các cấp học, bậc học (ĐH, CĐ, THPT) Nhóm

nghiên cứu này có tên gọi: Dự án Công nghệ Giáo dục (Learning and Teaching Innovation Taskforce – LTIT 2) Ngoài ra, công nghệ dạy tiếng Anh của trung tâm FPT GEM English cũng là một sản phẩm của Công

Trang 9

nghệ giáo dục được trường ĐH FPT mang về từ Isarel

Trong buổi tọa đàm, GS Hồ Ngọc Đại nhận được một số câu hỏi về giáo dục bậc đại học từ các giảng viên của trường ĐH FPT Trả lời câu hỏi,

“Với giáo dục đại học, cơ sở Tâm lý học cho lứa tuổi này như thế nào?”, GS

cho rằng: Tự học ở đại học theo đúng nghĩa đen, tự học qua sách Phải

để sinh viên được tin, không ép buộc họ phải tin, nhờ đó sức mạnh tinh thần được phát triển GS cũng đề cập đến việc cần được thực hiện ngay

từ bậc tiểu học và từ trong gia đình Có như vậy, lên bậc đại học - tự học mới được thực hiện thực chất, hiệu quả

Vẫn là quan tâm từ phía vị khách mời đến từ một trường đại học ở Hà Nội, hiệu trưởng trường ĐH FPT đã được “chất vấn” bằng một câu

hỏi: “FPT và GS Đại có thể đi tiên phong để thay đổi giáo dục Việt Nam không?” TS Lê Trường Tùng đã trả lời câu hỏi với một thái độ khiêm tốn khi cho rằng: “Đại học FPT là trường tư, chúng tôi luôn làm tốt nhất trong khả năng của của mình Chúng tôi tin tưởng rằng đất nước sẽ phát triển nếu có nền giáo dục tốt.”

GS Hồ Ngọc Đại cũng trao đổi với phóng viên các báo sau khi buổi tọa

đàm kết thúc, ông nhấn mạnh: “Đại học là khai phá, phải khác so với phổ thông – là cái nền văn minh nhân loại đã có sẵn Chúng ta nên khuyến khích sinh viên nghe những điều thầy giảng để mà suy ra những điều có thể nghi ngờ Phải để sinh viên có quyền không chấp nhận thầy”

GS cũng chia sẻ: “Tôi rất tin tưởng lớp trẻ ngày nay, chúng năng động lắm, xông xáo lắm, xã hội cũng phải tin, giao quyền cho chúng vì lớp trẻ mới chính là tương lai của đất nước”

Trang 10

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Tin tức - Sự kiện

TƯ DUY HÀNH DỤNG LÀ GÌ?

Bùi Thị Hạnh

Sáng thứ Bảy, ngày 26/7/2014, dự án Công nghệ giáo dục (DA-CNGD)

đã tổ chức buổi seminar nội bộ với chủ đề “Tư duy hành dụng của Dewey

và bài học cho người làm giáo dục Việt Nam hiện nay”.

Giám đốc DA-CNGD-TấnDT đã dẫn dắt người nghe từ bối cảnh xã hội

Mỹ và giáo dục Mỹ thời kỳ trước John Dewey đến nguồn gốc ra đời của thuyết hành dụng (Pragmatism) Phần trình bày cũng đề cập đến một số thông tin tóm tắt về John Dewey, nhà triết học hành dụng, nhà tâm lý học, nhà giáo dục học và nhà cải cách giáo dục nổi tiếng người Mỹ Những câu hỏi triết học mà John Dewey đặt ra cách đây gần một trăm năm cũng được nhắc lại nhằm khơi gợi cho người nghe về những vấn đề

“Thế nào là tư duy hành dụng” hay “Cách đặt câu hỏi theo tư duy hành

dụng” như: Giáo dục là gì? Mục đích tối hậu của giáo dục là gì? Giáo dục nên dạy những cái gì và dạy như thế nào? Ai là người quyết định nội dung

và phương pháp giảng dạy? Học sinh nên học theo tiến trình như thế nào?

Buổi hội thảo nội bộ chỉ diễn ra trong vòng hơn 1 giờ đồng hồ, song

người nghe đã được tiếp cận với rất nhiều khái niệm mới mẻ: Thực hiệm luận (Experimentalism); Công cụ luận (Instrumentalism); Dân chủ trong giáo dục (Democractic); Chủ nghĩa tự nhiên hành dụng (Pragmat-

ng-ic Naturalism)… đi kèm việc phân tích một số trường hợp cụ thể như

Pragmatic Bookshelf trên thế giới và trường Thực nghiệm, Cánh Buồm, Giap School ở Việt Nam về việc ảnh hưởng của thuyết Hành dụng trong giáo dục

Để kết thúc, dựa trên những luận điểm của Dewey về tư duy hành dụng trong giáo dục, diễn giả đặt ra một loạt các câu hỏi mà giáo dục Việt Nam, cũng như người làm giáo dục của Việt Nam hiện nay cần phải suy

ngẫm và đi tìm lời giải đáp, đó là: giáo dục hiện nay đang giải quyết vấn

đề gì? Ai là người quyết định đích đến của giáo dục? Ai là người quyết định tiến trình học tập của sinh viên? Vai trò can dự của người học là như thế nào? Giáo dục có phải thuần túy là chuẩn bị cho cuộc sống?

Theo kế hoạch, lịch sinh hoạt chuyên môn tháng 8 của DA – CNGD như sau:

Hội thảo chủ đề: Best Practices in Teaching Programing - Tuần 2Hội thảo chủ đề: Tâm lý học giáo dục và việc học– Tuần 4

Trang 11

HỘI NGHỊ ĐÀO TẠO BLENDED LEARNING TOÀN QUỐC

Hoàng Giang Quỳnh Anh

Ngày 31 tháng 7, tại khu công nghệ cao Hòa Lạc, hội nghị Blended ing đã diễn ra, đánh dấu mốc triển khai 2 năm tại FPoly Hội nghị diễn

learn-ra từ 9h sáng đến 16h30 chiều cùng ngày với sự tham gia của ông Lê Trường Tùng – Hiệu trưởng trường ĐH FPT, bà Nguyễn Kim Ánh – Phó hiệu trưởng trường ĐH FPT, phòng phát triển chương trình, phòng hành chính, phòng IT cùng đại diện cán bộ, giảng viên trực tiếp triển khai Blended learning tại các cơ sở ở Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh

Triển khai đầu tiên với môn học tiếng Anh vào năm 2012, dần dần đến một số môn học chuyên môn, Blended learning cũng là bước thay đổi tư duy về phương pháp học tập tại FPoly Xuất phát điểm của việc triển khai Blended learning là giải quyết các vấn đề liên quan đến giờ giảng: Mỗi giáo viên dạy được nhiều sinh viên hơn, mỗi sinh viên học được nhiều hơn, hạn chế tình trạng sinh viên ngủ gật trên lớp, nhiều bạn đi học nhưng cả kì không đụng đến sách giáo khoa, trình độ trong lớp học khác biệt, phong cách học phong phú, smartphone nhiều, nhưng vẫn đảm đảo được chất lượng của sinh viên theo đúng chương trình của FU Nhờ triển khai Blended learning, so với cách học truyền thống, tỉ lệ sinh viên đỗ môn học cao hơn ở một số môn

Tuy nhiên, FPoly ở cả Hà Nội, Hồ Chí Minh, và Đà Nẵng cũng còn tồn tại khó khăn khi triển khai Blended learning Các báo cáo đưa ra thực trạng triển khai tại các cơ sở của FPoly: Học sinh chưa chủ động học bài online, học một cách đối phó, số lượng môn học triển khai tăng nhanh dẫn đến số lượng sinh viên tăng làm hệ thống hiện tại bị quá tải, nội dung bài giảng online vẫn còn có lỗi, câu hỏi cuối bài học tương đối dễ, bài giảng những môn khó như kinh tế chính trị vẫn còn sơ sài, giáo viên mất nhiều thời gian khi làm việc ở nhà, giáo viên gặp khó khăn khi kiểm tra sinh viên có học bài trước hay không, chưa có slide bài học online… Đồng thời, các cơ sở cũng đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện những vấn đề khó khăn ấy: Phải có đào tạo sư phạm cho toàn bộ các cơ sở trên toàn quốc, tăng giờ giảng, cần có hệ thống tutor cho môn tiếng Anh, chỉnh sửa lại hệ thống bài online, cần có kịch bản đứng lớp cho giáo viên, thống nhất điều kiện đánh giá môn học, đưa tiếng Anh thành chuẩn đầu

Trang 12

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Tin tức - Sự kiện

TOÀN CẢNH HỘI THẢO SMART.EDU 2014

Nguyễn Thị Vân

Ngày 01/8 vừa qua, tại Cung Trí thức thành phố Hà Nội đã diễn ra Hội

thảo Smart.Edu 2014 với chủ đề “Công nghệ thông tin và tương lai

giáo dục và đào tạo” Hội thảo được Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ

Công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) tổ chức dưới sự bảo trợ của

Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) và Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hội thảo diễn ra trọn vẹn một ngày với sự tham gia của đại diện lãnh đạo Bộ TT&TT, Bộ GD&ĐT, chủ tịch hiệp hội VINASA, nhiều chuyên gia công nghệ thông tin, chuyên gia giáo dục, các công ty sản xuất phần mềm quản lý trường học, đại diện các tổ chức giáo dục, các trường học trên địa bàn Hà Nội Buổi Hội thảo Smart.Edu 2014 tiếp theo sẽ được

tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh vào ngày 12/8 tới đây

Về phía FPT tham gia hội thảo Smart.Edu 2014 có Chủ tịch Trương Gia Bình (đồng thời là Chủ tịch VINASA), bà Nguyễn Kim Ánh – Phó hiệu trưởng trường ĐH FPT, các thành viên Dự án Công nghệ giáo dục (CNGD) và Trung tâm tiếng Anh FPT GEM Tại Hội thảo, bà Phan Thị Thanh Lương – Trưởng nhóm nghiên cứu, Dự án CNGD và Giám đốc Trung tâm GEM - Nguyễn Trọng Khôi đã có phần trình bày về “Nền tảng giảng dạy kỹ thuật số - DTP”

Sau đây là những thông tin vắn tắt về buổi hội thảo:

“Smart.Edu là một cơ hội rất lớn”

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Trương Gia Bình – chủ tịch VINASA khẳng định: SMAC (Social, Mobile, Analytic & Cloud) từng được coi là một cuộc cách mạng về công nghệ thông tin (CNTT) thì nay, Smart.Edu

có thể được coi là cơ hội rất lớn cho những người làm CNTT và Giáo dục

Trang 13

“Bộ rất ủng hộ”

TS Nguyễn Trọng Đường - Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ TT&TT nhận định: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, CNTT là công cụ để thực hiện thành công ba đột phá chiến lược, trong đó có giáo dục Lực lượng CNTT của chúng ta ngày càng phát triển Bộ rất ủng hộ và mong muốn thúc đẩy đưa CNTT vào giáo dục Chúng tôi mong muốn được đồng hành với ngành Giáo dục

“Tránh đầu tư mang tính giải ngân, trang sức”

PGS TS Nguyễn Hữu Chí, Nghiên cứu viên cao cấp, Bộ phận thường trực đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, Bộ GD&ĐT, Nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục, đào tạo và dạy nghề, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng đã phát biểu tại Hội thảo

Ông kể lại hành trình đi đến Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, và dẫn lời của Giáo sư Hoàng Tụy đánh giá “đây là văn bản tốt nhất trong vòng 20 năm qua” Đây là kết quả của rà soát, cải tiến từ đề án đổi mới sau hai hội nghị Trung ương 6

và 8, đưa rõ quan niệm và nhiệm vụ giái pháp, định nghĩa thế nào là đổi mới căn bản, làm sao đổi mới tận gốc rễ và đổi mới như thế nào, thực hiện như thế nào

Trong bài phát biểu của mình, ông Chí chia sẻ về tư tưởng của Nghị quyết này gồm năm điểm quan trọng:

1 Đổi mới nền giáo dục theo hướng Thực học – Thực nghiệp

2 Chuyển đổi mạnh mẽ từ Truyền thụ tri thức sang Phát triển năng lực

3 Phát triển giáo dục trên cơ sở phát huy tính tích cực và hạn chế điểm tiêu cực của cơ chế thị trường

Trang 14

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Tin tức - Sự kiện

4 Phát triển hài hòa giáo dục công lập và ngoài công lập

Trong ý này, ông khẳng định, trong tương lai, xã hội phát triển, công nghiệp phát triển, vị trí và vai trò của giáo dục ngoài công lập sẽ cao, tất yếu phải có cơ chế cho nó phát triển Giáo dục công – tư phải như hai cánh của một con chim

5 CNTT phải được ứng dụng hiệu quả

Về điểm này, ông cho rằng, cần tránh việc ứng dụng CNTT vào trường học như một khoản đầu tư đồ sộ nhưng chỉ với ý nghĩa giải ngân, trang sức, không thực sự giúp ích cho dân, lãng phí ngân sách nhà nước Ông cũng đưa ra quan điểm CNTT là phương tiện, công cụ của giáo dục

“Chúng ta sẽ có chất lượng bài giảng không thua kém Harvard”

TS Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện CNTT – Đại học Quốc gia Hà Nội

đã có phần trình bày về “CNTT và tương lai của GD&ĐT”

Sau khi “trấn an” người nghe về ý nghĩa của hai chữ “CNTT” và “tương lai”, rằng đó không phải là cái gì quá to tát hay quá xa xôi, ông khẳng định: CNTT là cơ hội cho giáo dục; Nếu chúng ta đưa CNTT vào sử dụng hiệu quả thì chúng ta sẽ có chất lượng bài giảng không thua kém Harvard

Để minh chứng cho điều này, ông đưa ra những tính năng ưu việt của CNTT cho giáo dục như: Đưa toàn bộ toàn bộ chuỗi tri thức vào lớp học, theo một chu trình đi từ “Lí thuyết -> Kinh nghiệm -> Thí nghiệm -> Thực hành -> Sáng tạo” (Giáo dục cổ điển chỉ làm được lí thuyết); Thay đổi phương thức và phương pháp giảng dạy: “Văn bản -> Trực quan -> Tương tác”; Các công nghệ lớp học thông minh (bàn thông minh, bảng thông minh…); Công nghệ thực tại ảo; Ứng dụng quản lí trường học (thi

cử tuyển sinh, học tập mọi nơi, thư viện điện tử, chống đạo văn, bằng cấp bảng điểm); Mạng xã hội kết nối giáo viên, chuyên gia giáo dục …Ông Việt cũng đưa ra những đề xuất hết sức quan trọng cho ngành giáo dục, trong đó có một số giải pháp mang tính đột phá như:

1 Xã hội hóa việc làm sách giáo khoa (SGK), Bộ GD&ĐT chỉ hợp chuẩn

2 Đưa SGK điện tử lên cloud

3 Xây dựng thư viện sách điện tử

4 Đầu tư thiết bị truy cập Ông cũng hài hước khi so sánh việc đầu tư cho thiết bị, thuê chuyên gia, tính cả “hoa hồng” vẫn chưa bằng con

số 34.000 tỷ1 (!)

1 - Dự thảo kinh phí cho Đề án đổi mới chương trình SGK do Thứ trưởng Bộ GD&ĐT

Trang 15

5 Quy hoạch kiến trúc ứng dụng CNTT trong giáo dục: Đó là hệ sinh thái gồm ứng dụng trong lớp học, ứng dụng về SGK và học liệu trên

“đám mây”

Một hướng tiếp cận trường học mới của CNTT

Đại diện của trường Tiểu học thị trấn Yên Viên, Gia Lâm và trường THCS Lương Thế Vinh, Đan Phượng đem đến Hội thảo những bài báo cáo tham luận về tình hình ứng dụng CNTT trong giảng dạy, học tập và quản lý nhà trường Theo các báo cáo này, mặc dù các trường học cũng

đã thấy rõ lợi ích của CNTT, song việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến hiệu quả đạt được còn hạn chế Vấn đề chủ yếu mà các trường đưa ra hiện nay là công tác đào tạo cho giáo viên và nguồn kinh phí Một số đại diện của các trường học khác bày tỏ sự e ngại với việc áp dụng CNTT vào trường học, vì “chưa rõ áp dụng như thế nào, hiệu quả

ra sao”

Theo ông Lê Hồng Quang, Giám đốc Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần MISA Hà Nội, thái độ “dè chừng” CNTT đã dẫn tới hàng loạt bất cập trong hoạt động của ngành giáo dục hiện nay, từ việc nhiều trường thậm chí chưa dùng phần mềm mà vẫn dùng hệ thống sổ, sách báo cáo chép tay, hoặc có ứng dụng phầm mềm excel để quản lý cho đến không

có sự kết nối công nghệ, liên thông giữa nhà trường với phòng giáo dục (PGD) và sở giáo dục (SGD), dẫn đến việc số liệu không chính xác và kịp

Trang 16

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Tin tức - Sự kiện

thời là khó tránh khỏi Và việc phụ huynh, học sinh có thể tự theo dõi kết quả học tập của mình qua website, hay cập nhật thông báo của trường qua hệ thống giống như các trường nước ngoài thì càng hiếm Nếu đầu

tư số tiền lớn cho một hệ thống rồi lại “đắp chiếu” vì không dùng được thì ai chịu trách nhiệm?

Trên thực tế, bài toán tưởng là khó với nhà trường, PGD và SGD này thực ra lại rất dễ giải, nếu như họ cập nhật chủ trương mới nhất của Chính phủ về việc khuyến khích thuê dịch vụ CNTT Hướng đến thực hiện chủ trương này, các doanh nghiệp tham gia tư vấn, giới thiệu sản phẩm ứng dụng CNTT vào giáo dục (bao gồm giảng dạy, học tập và quản

lý giáo dục) trong Hội thảo này có: công ty cổ phần MISA, công ty Điện

tử Samsung Vina, Công ty TNHH Hãy Trực Tuyến (BeOnline), công ty

Cổ phần Phần mềm Quản lý Hiện đại

QLTH.VN của MISA hiện đang được cung cấp dưới dạng dịch vụ, hoàn

toàn trực tuyến, sử dụng công nghệ điện toán đám mây, không cần phải cài đặt trên máy tính và có giao diện 100% tiếng Việt Hệ thống này cho phép kết nối nhà trường với học sinh, phụ huynh và nhà trường với PGD, SGD một cách chặt chẽ Ban giám hiệu sẽ quản lý được tổng thể trường học; Giáo viên quản lý học sinh, nội dung học tập, chấm điểm; Học sinh xem điểm, khai thác tài liệu học tập, tra cứu mượn sách thư viện hoặc vào các diễn đàn trao đổi thông tin; Phụ huynh đăng nhập để xem thông tin học tập của con em, xem thông báo của nhà trường, liên lạc với giáo viên Trong khi đó, các PGD, SGD có thể xem ngay các báo cáo tổng hợp toàn ngành bất cứ lúc nào mà không cần phải chờ từng trường báo cáo một như trước đây Quan trọng nhất, chi phí thuê một hệ thống như vậy chỉ chưa đến 10 triệu/năm

Giải pháp trường học thông minh của Samsung đang được triển khai thử

nghiệm tại trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) gần hai năm Lớp học thử nghiệm đã được trang bị bảng thông minh cảm ứng, có thể tương tác thời gian thực với tất cả các máy tính bảng trang bị cho giáo viên và học sinh trong lớp Bảng thông minh này và các máy tính bảng đều được kết nối Wi-Fi, cho phép truy cập, tham khảo kiến thức từ In-ternet tức thì, mang đến sự giảng dạy trực quan nhất

Giải pháp học tiếng Anh online của TiengAnh123 đem đến một giải pháp

học trực tuyến vô cùng tiện lợi với chi phí thấp cũng là một sự lựa chọn cho các trường học khi việc thuê giáo viên nước ngoài dạy tiếng Anh cho học sinh gặp khó khăn về ngân sách

Giải pháp thư viện tổng thể KIPOS của công ty Quản lý Hiện đại giới

thiệu về dịch vụ quản lý thư viện cho các trường học Tương lai của hệ

Trang 17

thống này có thể là một mạng lưới liên kết thư viện các trường trong cả nước, mở ra một hướng tiếp cận tri thức phổ thông, rộng khắp

Nền tảng giảng dạy kỹ thuật số DTP của trường Đại học FPT, triển khai

tại Trung tâm FPT GEM English đem đến một sự khác biệt trong triết lý giáo dục: Cá nhân hóa việc học tập của học sinh, giải quyết được 3 vấn đề lớn còn tồn tại trong giảng dạy truyền thống, đó là: (1) Sự khác biệt của các học sinh; (2) Sự thích hợp giữa môi trường sống và học tập của học sinh; (3) Tính liên tục trong đánh giá và phản hồi với học sinh

Ngoài ra, trong phần tọa đàm, dự án ViOlympic của FPT cũng đã được chủ tọa là ông Nguyễn Nhật Quang, Phó chủ tịch VINASA đánh giá cao Ông cũng nhấn mạnh, với hướng đi đúng đắn này, FPT nên đầu tư hơn nữa cho hạ tầng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các trường học.Hội thảo Smart.Edu 2014 có thể được coi là một “phát súng” mở đầu trong chuỗi chương trình đưa CNTT vào trường học như một chiến lược đột phá Thiết nghĩ trong tương lai, với chủ trương mới của Chính phủ về hướng thuê dịch vụ, thì một SMAC thứ hai như lời ông Trương Gia Bình nói hẳn sẽ không còn xa

PV

Trang 18

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

Từ Thực Địa

Trang 19

CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG ANH T2K

TỪ GÓC NHÌN SƯ PHẠM

Hoàng Giang Quỳnh Anh

& Phan Thị Thanh Lương

Cuối thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, con người bước vào thời đại kỹ thuật số của những công nghệ hiện đại Những công dân sinh ra trong thời kỳ này được gọi là công dân kĩ thuật số (digital-native) Các cô bé, cậu bé của thời đại này được sống, ăn, ngủ, hít thở, chơi và học trong bầu không khí

kĩ thuật số Điều ấy khiến mục tiêu của nền giáo dục hiện đại hướng đến đích xa hơn, mà theo đó, học sinh không chỉ được học kiến thức, mà còn tiếp thu và rèn luyện những kĩ năng tư duy Nhiệm vụ của các nhà giáo dục hiện đại là hướng dẫn trẻ, giúp trẻ xây dựng khả năng tư duy độc lập, khả năng lập luận, khả năng sáng tạo và kĩ năng giải quyết các vấn đề để vận dụng vào cuộc sống, như nhà cải cách giáo dục John Dewey đã nói:

“Giáo dục chính là cuộc sống” (Education is life itself) Tuy nhiên, trong quá trình cải tiến lớp học để đạt được mục tiêu giáo dục, các nhà giáo dục hiện đại của thế kỉ 21 đang tiếp tục phải giải quyết những vấn đề còn tồn tại hàng ngày trong từng lớp học mà những giáo viên đứng lớp vẫn chưa thể giải quyết được Dovi Weiss1, Giám đốc sư phạm của Time To Know

đưa ra quan điểm trong bài viết Bản giao hưởng sư phạm cho Công nghệ trong lớp học rằng, hiện nay, giáo viên trong các lớp học thông thường

phải đối diện với ba vấn đề lớn không thể giải quyết được, ảnh hưởng

đến hiệu quả học tập của học sinh Thứ nhất là, sự khác biệt, tất cả các

lớp học đều “đa dạng”2 Giáo viên không thể dạy từng học sinh riêng lẻ bằng phương pháp phù hợp trong khi học liệu giảng dạy lại chỉ có một

theo kiểu đồng nhất Thứ hai là, mối liên hệ giữa cuộc sống hàng ngày và

trong lớp học, trẻ em ngày nay sinh ra và lớn lên trong một môi trường

số, ảo và tương tác Điều đó khiến cho trẻ bị thu hút, tham gia vào nhiều trò chơi và những luồng thông tin hấp dẫn Hoàn toàn trái ngược với lớp học truyền thống, phương pháp giảng dạy đơn điệu và nội dung môn học

không phù hợp Thứ ba là, sự liên tục và tức thì, liên tục trong đánh giá

và liên tục trong việc phản hồi quá trình học tập của học sinh Trong lớp học thông thường, việc theo dõi quá trình học tập của từng học sinh là rất khó khăn Ví dụ: lớp học 35 học sinh thì việc cung cấp cho từng học sinh những phản hồi có ích và có các giải pháp tiếp theo phù hợp cho từng vấn đề dường như là nhiệm vụ bất khả thi Việc xử lý thông tin đánh giá ngay tức thì và có phản hồi lại để nâng cao chất lượng của quá trình học tập là cần thiết và không hề dễ dàng để thực hiện nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

1 - Dovi Weiss, 2012, A Pedagogical Symphony for Technology in the Classroom

2 - Đa dạng trong lớp học nghĩa là có nhiều cấp độ, phong cách học tập, kiến thức nền …

khác nhau

Trang 20

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

Trong phạm vi bài viết này, từ góc nhìn sư phạm, chúng tôi mong muốn cung cấp cho người đọc một sự hiểu biết về nền tảng những nghiên cứu chuyên sâu: ngôn ngữ học, trí khôn nhiều thành phần, phương pháp sư phạm và công nghệ sử dụng trong chương trình tiếng Anh của Time To Know (T2K) khi xây dựng kho dữ liệu bài học, các bộ câu hỏi và những gợi ý hoạt động giúp người học có thể phát triển một cách toàn diện nhằm giải quyết ba vấn đề ở trên

1 Giảng dạy ngôn ngữ 3

Trong những thập kỉ gần đây, các phương pháp tiếp cận kiến tạo đã nổi lên như một mô hình chủ đạo trong giáo dục Ban đầu, cách tiếp cận kiến tạo được áp dụng trong các lĩnh vực toán học và khoa học, nhưng gần đây, dựa trên những quy tắc của hoạt động nhận thức và học tập, cách tiếp cận kiến tạo đã ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của chương trình giảng dạy ngôn ngữ Cách thức tiếp cận này dựa trên những học thuyết của Piaget (1959, 1967, 1974) và Vygotsky (1974), tạo điều kiện cho người học trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực hành học tập

để đạt được kiến thức và sự hiểu biết mới Đồng thời, cho phép quá trình học ngoại ngữ phát triển dần dần từ những công việc nhỏ nhất là học ngữ âm qua những chữ cái đơn giản cho đến các văn bản phức tạp hơn

như đọc một câu truyện Thuyết Kiến tạo khẳng định học tập hiệu quả là

sản phẩm của chủ động sáng tạo cá nhân Theo John Richards và Joseph Walters4, Kiến tạo xã hội định nghĩa học tập: Ý nghĩa (meaning) được

kiến tạo từ cá nhân; không có gì trên thế giới tồn tại mà không liên kết với cá nhân; người học xây dựng tri thức và hiểu biết mới dựa trên những

gì họ đã biết và tin tưởng, việc học của học sinh được hình thành thông qua các cấp độ phát triển (development level) và kinh nghiệm có được qua trải nghiệm; kiến thức nền tảng về văn hóa xã hội được đưa vào các bài tập thực tế và xác thực; người học xây dựng kiến thức cá nhân thực tế, sáng tạo ra những điều mới lạ và hiểu biết về những tình huống cụ thể

T2K lấy thuyết Kiến tạo của Piaget và Kiến tạo xã hội của Vygotsky làm

kim chỉ nam, đưa ra một cách thức tiếp cận mới trong giáo dục, quan niệm con người có thể hiểu và tiếp nhận, xây dựng thông tin tốt hơn theo cách của mình Từ đó, xây dựng nguyên tắc sư phạm của việc học ngôn ngữ: Việc học tập diễn ra khi học sinh tham gia vào các hoạt động phù hợp với kinh nghiệm và nhu cầu của bản thân; học sinh tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai hiệu quả nhất thông qua bối cảnh giao tiếp; sự phát triển hình xoắn ốc về từ vựng và kỹ năng cho phép việc học tăng trưởng theo cấp độ từ đơn giản đến phức tạp; hiệu quả học tập phụ thuộc vào

3 - Elite Olshtain and Dorit Kaufman, 2011, English as Foreign Language (EFL)

4 - John Richards and Joseph Walters, 2012, Digital Teaching Platform in Spectrum of

Trang 21

ưu điểm của thuyết Kiến tạo để xây dựng một nguyên tắc dựa trên tính tương tác, nhấn mạnh tầm quan trọng của tương tác xã hội, giúp học sinh phát triển thông qua tương tác với học sinh khác, với người lớn và thế giới vật chất phù hợp với bản thân Nguyên tắc sư phạm trên đây, đồng thời cũng nhấn mạnh giáo viên trong vai trò hỗ trợ hoạt động học tập

2 Thiết kế giảng dạy

Howard Gardner là một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard Ông quan niệm trí thông minh là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo

ra các sản phẩm mà giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa, và trí thông minh cũng không thể chỉ được

đo lường duy nhất qua chỉ số IQ (Frames of Mind, 1983) Thuyết trí khôn nhiều thành phần (Multiple Intelligences) của Gardner ra đời, mang đến

một cách nhìn khác, nhằm khuyến khích nhà trường và các nhà giáo dục đón nhận tính đa dạng về trí tuệ của mỗi người học để hỗ trợ, khơi gợi tiềm năng và tạo điều kiện học tập cho học sinh sao cho đạt hiệu quả cao nhất Trong thuyết này, Howard Gardner (2013)5 đưa ra 9 loại trí

khôn cơ bản (trích theo Building Teacher): Trí khôn không gian (spatial intelligence), trí khôn cơ thể - vận động (bodily-kinesthetic intelligence), trí khôn âm nhạc (musical intelligence), trí khôn ngôn ngữ (linguistic intelligence), trí khôn lôgic-toán (logical-mathematical intelligence) trí khôn cá nhân hướng ngoại (interpersonal intelligence), trí khôn cá nhân hướng nội (intrapersonal intelligence), trí khôn thiên nhiên (naturualistic intelligence), trí khôn hiện sinh (existential intelligence) T2K đã đưa 5/9

loại hình trí khôn của Gardner vào việc xây dựng chương trình gồm có những hoạt động phân hóa thúc đẩy việc học và tiếp nhận kỹ năng cho từng học sinh Điều này giúp cho giáo viên cá nhân hóa việc hỗ trợ học sinh để phát triển những kỹ năng khác biệt Đồng thời nó cũng giúp giáo viên gợi ý cho từng học sinh khi các em có nhu cầu Liên kết đánh giá cá nhân hóa tạo cho học sinh động lực để đạt đến kết quả cao hơn và thành công hơn

5 - Building Teacher: A Constructivist Introducation to Education, 2014, Cengate

Trang 22

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

Bảng 1: Thiết kế giảng dạy chương trình tiếng Anh của T2K

Learning Preference Time To Know Trí khôn nhiều thành phần

Visual-spatial animations, puzzles, charts,

manipu-lation of images Trí khôn không gianVerbal-linguistic listening, speaking, storytelling Trí khôn ngôn ngữ Logical-mathematical puzzles, problem-solving games,

categorizing activities Trí khôn logic – toánBodily-kinesthetic hands-on activities, computer

keyboard skills, clicking and dragging

of information, organizing word and picture cards

Trí khôn cơ thể vận động

Musical-rhythmic songs, chants, listening and speaking

activities Trí khôn âm nhạc

Thuyết trí khôn nhiều thành phần ban đầu không được giới nghiên cứu tâm lý học chấp nhận dễ dàng, nhưng lại nhận được nhiều phản ứng tích cực từ các nhà giáo dục Lý thuyết này cho phép các nhà giáo dục phát triển các phương pháp tiếp cận để đáp ứng nhu cầu của các học sinh trong lớp Bảng 1 cho thấy có 5 loại trí khôn ẩn chứa trong các hoạt động

và nội dung của T2K Mỗi một hoạt động, một nội dung giảng dạy đều được nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt ý nghĩa và đều có mục đích hướng đến

sự phát triển con người toàn diện ba nguyên lý trong phương pháp học tập của T2K: Xây dựng sự tự do ý chí cho người học, đưa học sinh qua chu trình học tập đa dạng cung cấp cho người học những kinh nghiệm học tập tích cực

Ngoài ra, các phương pháp học tập khác cũng được nghiên cứu để triển khai các dụng ý sư phạm một cách có hệ thống Phương pháp học tập qua tình huống (situated learning), phương pháp học tập qua khai phá (inquiry-based learning), phương pháp học tập lấy học sinh làm trung tâm (student-centered learning), được triển khai trong môi trường học tập hỗn hợp (blended learning environment) Để có được môi trường

học tập phát triển toàn diện tất cả các cấu thành của ngôn ngữ: nghe,

đọc, viết và hội thoại, lớp học được lưu ý đến các mức độ triển khai hoạt

động từ cá nhân, cặp, nhóm và cả lớp

Xã hội hiện đại, nhà trường không còn là nơi duy nhất cung cấp tri thức cho người học Câu hỏi đặt ra cho các nhà giáo dục hiện đại là: Người học cần trang bị những kĩ năng cần thiết nào để học tập đạt hiệu quả? Assessment & Teaching of 21st-Century Skills (ATC21S) là tổ chức do 4 quốc gia Úc, Phần Lan, Singapore, Hoa Kì sáng lập, với sự tài trợ từ Cisco, Intel và Microsoft, bắt đầu với một nhóm hơn 250 nhà nghiên cứu đến

từ hơn 60 tổ chức trên toàn thế giới đã phân loại các kĩ năng thế kỷ 21

Trang 23

giáo viên: sự chú ý của học sinh: Học sinh chỉ học được khi chú tâm vào việc học; động lực thúc đẩy: Giáo viên cần điều phối các luồng hoạt động

trong lớp một cách nhịp nhàng giữa các trò chơi với nhau – sự gián đoạn

sẽ làm sao lãng và ảnh hưởng đến sự tập trung của học sinh; không gian

và thời gian: Giáo viên cần tổ chức các không gian vật lý để quản lý tiến

trình và động lực Giáo viên cần xây dựng chuỗi hoạt động phù hợp với

cá nhân, nhóm và cả lớp; tiến trình – thói quen: Quản lý lớp học sẽ đạt

hiệu quả nếu xây dựng một quy trình thành thói quen và sử dụng chúng hiệu quả Học sinh cần nắm rõ tiến trình này và cách tham gia vào tiến

trình đó; quy định: Giáo viên luôn luôn hỗ trợ học sinh Các quy định

cần rõ ràng và cụ thể Kỳ vọng tích cực cần được nhắc đi nhắc lại Học sinh cần phải hiểu sự ảnh hưởng của môi trường học tập

Theo đó, với cách thức triển khai lớp học như vậy, không chỉ hỗ trợ học sinh trong quá trình học tập mà còn giúp học sinh phát triển trong môi trường học tập hiện đại Robert Sternberg (2008) mô tả sự cần thiết của

các kĩ năng thế kỉ 21: “Chúng tôi không chỉ dạy những kiến thức thực, mà còn dạy học sinh những điều sâu sắc hơn thế, chúng tôi chỉ cho học sinh cách thức để chinh phục kiến thức.” Và nhiệm vụ của những người thầy

trong lớp học của T2K không chỉ là chuẩn bị cho học sinh kiến thức để đáp ứng những yêu cầu của tương lai mà để tất cả họ tham gia quá trình học tập, với những sự lựa chọn theo cách thức của chính mình

4 Công nghệ

Trong các kĩ năng thế kỉ 21, kĩ năng thông tin đa phương tiện và công nghệ thông tin đặc biệt được T2K phát triển Thay vì cố gắng để mô tả những tác động của công nghệ đến quá trình học tập của học sinh, các nhà nghiên cứu cần phải suy nghĩ đến việc những loại công nghệ đang được sử dụng trong lớp học là gì, và với mục đích gì Người học có thể học hỏi được điều gì “từ” thiết bị máy tính – công cụ giáo viên sử dụng chủ yếu để tăng kĩ năng cơ bản và kiến thức cho học sinh và “với” – công

cụ áp dụng cho các mục tiêu học tập, được sử dụng như một nguồn tài nguyên phát triển tư duy bậc cao (Reeves, 1998; Ringstaff & Kelly, 2002) Chính vì vậy, phần mềm Content Generation Studio (CGS) được T2K sử

Trang 24

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

dụng để sáng tạo ra bài giảng trên DTP T2K ứng dụng các ưu điểm tối

đa của DTP - Digital Teaching Platform (Nền tảng giảng dạy số hóa (gắn với hoạt động trên lớp)) nhằm: Hướng dẫn trình tự học tập trên lớp; cá

nhân tham gia tích cực vào tiến trình học tập; học tập thích thú và vui vẻ; thúc đẩy tự đánh giá; phát triển kỹ năng học tập nhận thức, tư duy mức

độ cao và kỹ năng thế kỷ 21; phân hóa nội dung, giảng dạy và phản hồi

để hỗ trợ phong cách học và mức độ học khác nhau

Điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập, nhằm cải thiện ba vấn đề khó khăn mà Dovi đã đưa ra như chúng tôi đã dẫn từ đầu bài viết Từ những nghiên cứu giáo dục sâu sắc, DTP là sự kết hợp giữa thuyết kiến tạo, kiến tạo xã hội, thuyết tiến bộ và thuyết hành dụng, giúp người học phát triển một cách toàn vẹn khả năng tư duy của mình, đồng thời đây cũng là công cụ trợ giảng tích cực giúp các giáo viên triển khai hoạt động trên lớp một cách hiệu quả, học sinh tham gia bài giảng

và quá trình học tập của bản thân một cách chủ động nhất, theo sở thích, phong cách riêng, với mức độ nhận thức, kiến thức nền khác nhau DTP chính là một công cụ tích cực cho lớp học thế kỉ 21

5 Hệ thống đánh giá

Đánh giá là một khía cạnh quan trọng trong dạy học, nhằm cải thiện hiệu quả và chất lượng giảng dạy, nhu cầu học tập của người học Các kết quả đánh giá thường được sử dụng để nâng cao chất lượng giảng dạy

và thành tích của học sinh Các nhà giáo dục, giáo viên, phụ huynh đều muốn biết việc học của học sinh có đạt được hiệu quả hay không Xây dựng một chương trình, T2K không thể bỏ qua hệ thống đánh giá Hệ thống của T2K tự động theo dõi được toàn bộ công việc của học sinh và tiến trình học tập, hệ thống cung cấp nhiều cơ hội đánh giá quá trình và đánh giá kết quả trong mỗi bài học về thành quả và mức độ kiểm soát ngôn ngữ của học sinh T2K cung cấp cả các bài đánh giá cuối bài học:

Đánh giá quá trình (Formative assessment): Là quá trình thu thập và phân

tích thông tin của học sinh về khả năng nhận thức và kiến thức của học sinh trước và trong suốt quá trình học, để giảng dạy và hỗ trợ học sinh cải tiến quá trình học tập; là yếu tố chủ chốt để thúc đẩy thành tựu của học sinh mục tiêu là bộc lộ khả năng tư duy của học sinh thông qua tương tác trên lớp (trao đổi giữa học sinh với học sinh; học sinh với giáo viên) Next-step tool assessment-formative assessment vẫn chưa hoàn thiện nếu không có các quyết định và các hành động dựa trên phân tích

dữ liệu đánh giá phản hồi trực tiếp - phản hồi theo kiểu khuyến khích để thúc đẩy học sinh phản hồi, tư duy phê phán và phản tỉnh

Đánh giá để phán đoán (Diagnostic assessment): Đánh giá nhu cầu và

Trang 25

Yếu tố công nghệ:

1 Cơ sở hạ tầng

• Có máy tính cho mỗi giáo viên và học sinh

• Hạ tầng truyền thông toàn trường

năng lực của học sinh, cũng như sự sẵn sàng của học sinh đối với việc tiếp nhận kiến thức mới

Đánh giá kết quả (Summative assessment): đánh giá cuối mỗi bài hoặc

mỗi cấp độ

Quá trình đánh giá đảm bảo tính liên tục và tức thì Với hệ thống đánh giá như vậy, giáo viên có thể biết được khả năng nhận thức của học sinh còn đang thiếu ở đâu để có thể cải thiện nội dung, bổ sung các tài liệu để trợ giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập cao nhất Từ đó, đưa ra một giải pháp chỉnh thể (có thể gọi là Công nghệ giáo dục của T2K) bao gồm bốn yếu tố công nghệ và ba nguyên lý sư phạm, các yếu tố tham gia vào quá trình học tập của con người hòa vào nhau như một bản giao hưởng tuyệt vời mang lại ảnh hưởng thực sự đến việc tối ưu hóa hiệu quả học tập của học sinh (Dovi Weiss, 2012)(xem Hình 1)

Trang 26

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

2 Chương trình khung tương tác

• Thúc đẩy học tập hiệu quả

• Phát triển hiểu biết và tư duy

• Thích nghi với khả năng và nhu cầu của người học

• Cung cấp kế hoạch học tập liên tục

• Dễ dàng bổ sung, cập nhật và thích nghi bởi giáo viên

3 Đào tạo chuyên nghiệp cho giáo viên

• 30 giờ đào tạo cho mỗi giáo viên

• Hướng dẫn giáo viên hàng tuần trong năm đầu tiên về kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực

4 Hỗ trợ kỹ thuật

• Luôn sẵn sàng trong suốt thời gian hoạt động trong ngày của nhà trường

Ba nguyên lý sư phạm:

1 Học tập chủ động (Active learning): Tri thức được kiến tạo và vận

dụng cùng sự hướng dẫn của giáo viên T2K giúp làm tăng cường

sự tò mò và thắc mắc của học sinh, khuyến khích học sinh thể hiện khái niệm trừu tượng, và hướng dẫn học sinh các hoạt động giúp làm giàu hiểu biết và tăng tính thực hành

2 Học tập hợp tác (Collaborative learning): T2K thúc đẩy học tập và tư

duy phi tập trung hóa (decentralised) đối với giáo viên và học sinh.Chuyển giao kiến thức đối với các mục tiêu thuyết trình và biến kiến thức thành công cụ để học sinh tham gia vào việc học tập và khai phá

3 Học tập phân hóa (Differentiated learning): T2K chấp nhận phong

cách học tập của học sinh, hỗ trợ học sinh bằng cách đưa ra các phản hồi đối với lựa chọn của học sinh, và cho phép học sinh được theo đuổi sở thích của chúng theo kiểu mà chúng thích

Giải pháp mang tính hệ thống và chỉnh thể của T2K là bản giao hưởng Công nghệ kết hợp với Sư phạm Máy tính không thay thế giáo viên mà là

công cụ trang bị cho giáo viên sức mạnh mới và nâng cao chất lượng học tập Một cách tự nhiên, công nghệ của T2K giúp giáo viên phát triển thói quen suy nghĩ của trẻ, sắp xếp thói quen một cách gián tiếp chứ không phải trực tiếp Hệ thống chương trình xây dựng dần dần phát triển năng lực suy nghĩ của học sinh trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm thực hiện các mục tiêu Những nội dung kiến thức mà trẻ được học, không chỉ đơn thuần là gom

Trang 27

lại, mà được phân loại, đáp ứng các khía cạnh học ngoại ngữ Công thức:

một người + một máy tính = chất lượng cao hơn đã được áp dụng các môi

trường khác thành công, giờ là lúc được áp dụng trong trường học

Với những trình bày trên đây, chúng tôi mong muốn phần nào cung cấp một cái nhìn tổng thể về chương trình của T2K dưới góc nhìn sư phạm T2K cung cấp đầy đủ những công cụ cho giáo viên thực hiện quá trình giảng dạy một cách tối ưu nhất Theo đó, giáo viên, muốn đạt được hiệu quả giảng dạy cần tạo lập cho trẻ một thói quen tư duy, như Dewey đã

viết: “Công việc của giáo dục không phải là đi chứng minh cho mọi mệnh

đề đã đưa ra, cũng như không phải giảng dạy bất cứ một nội dung thông tin nào, mà nhiệm vụ của nó là ươm trồng những thói quen hiệu quả sâu rễ bền gốc trong việc phân biệt những niềm tin đã được thử thách với những khẳng định, những võ đoán và những ý tưởng; để phát triển một sự ham thích làm việc, chân thành và cởi mở đối với những kết luận có chứng lý xác đáng và ghi khắc vào trong những thói quen sống động của mỗi cá nhân…”

(John Dewey, 2010)6

6 - John Dewey (1909), Vũ Đức Anh dịch 2013, Cách ta nghĩ, NXB Tri thức)

Trang 28

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

SƠ LƯỢC VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA

Hoàng Giang Quỳnh Anh – Nguyễn Thị Vân

Một trong những vấn đề còn tồn tại của cách dạy học truyền thống hiện nay

là chưa giải quyết được tính đa dạng trong lớp học Chương trình và cách dạy vẫn chủ trương áp dụng cho số đông Điều này đặt ra một câu hỏi: Làm thế nào để phát huy được tối đa khả năng cá nhân của từng người học? Và một trong những giải pháp sư phạm được đưa ra là tổ chức dạy học phân hóa Tạp chí Công nghệ Giáo dục số 3 sẽ giới thiệu một số thông tin vắn tắt về giải pháp này và thực tế áp dụng tại Trung tâm FPT GEM English.

Dạy học phân hóa là gì?

Dạy học phân hóa là chiến lược giảng dạy dựa trên nhận thức của giáo viên về nhu cầu của từng cá nhân người học

Thực tế cho thấy học sinh trong lớp có nhiều điểm khác biệt, về quan điểm và khả năng Do đó, phương pháp giảng dạy của giáo viên cần phân hóa theo đối tượng người học Dưới sự dẫn dắt của Carol Ann Tomlin-son, khái niệm dạy học phân hóa (differentiated instruction) đã được nhiều người biết đến Chiến lược dạy học phân hóa đòi hỏi giáo viên phải

“làm rõ mục đích học tập bắt nguồn từ các tiêu chuẩn về nội dung, nhưng được thực hiện một cách khéo léo để đảm bảo mọi học sinh đều tham gia và hiểu bài” (Tomlinson, 2008, trang 26) Bản chất quá trình dạy học phân

hóa là điều chỉnh nội dung kiến thức để đáp ứng nhu cầu, khả năng, kinh nghiệm của người học Ứng dụng một cách khéo léo dạy học phân hóa, người dạy sẽ có nhiều cách thức khác nhau để giúp người học đạt được mục tiêu

Làm thế nào để dạy học phân hóa?

Trong cuốn sách Building Teachers: A Constructivist Approach to ducing Education1, tác giả David và Kimberly (2007) đã chỉ ra rằng, việc đưa các phong cách học tập và các loại trí khôn khác nhau2 vào trong bài học là một cách hiệu quả để phân hóa phương pháp giảng dạy Đối với mỗi đặc điểm sẽ có một số chiến lược giảng dạy giúp công nhận đặc điểm

Intro-đó và có một số mẫu thức chung giúp kết nối toàn bộ hoặc hầu hết các đặc điểm khác biệt

Với hình thức dạy học phân hóa, giáo viên lên kế hoạch và bài giảng sao cho tích hợp nhiều chiến lược giảng dạy nhất có thể, nhằm công nhận các điểm khác biệt của học sinh trong lớp Dạy học phân hóa bao gồm các công việc: Điều chỉnh nội dung để đáp ứng năng lực, kinh nghiệm,

1 - Tên tiếng Việt: “Xây dựng đội ngũ giáo viên: Một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục học” – giáo trình do Trường ĐH FPT mua bản quyền và dịch, ra mắt 8/2014

Trang 29

và mối quan tâm của học sinh; Đưa ra nhiều cách thức khác nhau để đạt được mục tiêu bài học; Cho phép học sinh được chứng minh hiểu biết của mình theo nhiều cách có ý nghĩa; Cho phép tồn tại sự đa dạng trong môi trường học tập dựa vào nhu cầu của từng học sinh; Không đòi hỏi giáo viên phải xây dựng kế hoạch giảng dạy riêng cho từng học sinh Thay vào đó, phương pháp này đòi hỏi giáo viên tìm kiếm các kiểu nhu cầu và sau đó phân nhóm học sinh có nhu cầu hoặc sở thích tương tự để giáo viên có thể đáp ứng nhu cầu của từng nhóm

Các yếu tố chính trong lớp học phân hóa

Các tác giả David và Kimberly (2007) đã tổng kết bốn yếu tố chính để nhận biết một lớp học được tổ chức theo cách phân hóa, đó là:

Bảng 1: Các yếu tố chính trong lớp học phân hóa và hàm ý của những yếu tố này

MỤC TIÊU HOẶC YẾU TỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN HÀM Ý ĐỐI VỚI HỌC SINH Học sinh cần… Giáo viên… Học sinh…

Làm bài tập theo nhóm nhỏ

với bạn cùng lớp. • Đảm bảo tất cả các nhóm có bài tập để tất cả học

sinh đều phải học những gì cần học.

• Đảm bảo mỗi nhóm đều có những định hướng rõ ràng

• Đảm bảo học sinh biết phương thức làm việc cùng nhau một cách hiệu quả.

• Hướng dẫn học sinh di chuyển bàn ghế để tạo nhiều nhóm khác nhau.

• Tập trung vào những gì nhóm cần làm, thay vì để ý những gì người khác đang làm.

• Đảm bảo học sinh hiểu

và tuân theo chỉ dẫn của giáo viên.

• Đóng góp vào hiệu quả của nhóm và đề nghị được giúp

đỡ khi xảy ra vấn đề mà nhóm không thể giải quyết.

• Kiểm soát các cuộc thảo luận để tiếng ồn không ảnh hưởng đến việc học.

• Di chuyển bàn ghế một cách nhịp nhàng để nhóm

có đủ không gian làm việc.

Làm việc cùng với giáo viên

theo từng cá nhân hoặc

nhóm nhỏ.

• Biết rõ mỗi học sinh cần học gì vào thời điểm nhất định để các nhóm có thể hỗ trợ việc học tập.

• Đảm bảo học sinh được chỉ dẫn một cách rõ ràng và có thể tìm kiếm sự giúp đỡ khi giáo viên bận rộn với nhóm nhỏ hoặc học sinh khác.

• Luôn theo dõi nhu cầu, bài tập và sự tiến bộ của học sinh, đồng thời giúp học sinh tự theo dõi quá trình học tập của bản thân.

• Có thể bắt đầu hoặc kết thúc công việc của cá nhân hoặc của nhóm nhỏ một cách hiệu quả để trao đổi với giáo viên khi cần thiết

• Không ngắt lời giáo viên khi giáo viên đang làm việc với học sinh hoặc nhóm khác.

• Biết cách tìm kiếm sự giúp

đỡ khi giáo viên bận rộn với nhóm hoặc học sinh khác.

• Tự theo dõi mục đích và thành tích học tập của bản thân.

Trang 30

• Đưa ra nhiều bài tập quan trọng để học sinh lựa chọn sau khi hoàn thành một nhiệm vụ nào đó.

• Tuân theo chỉ dẫn của giáo viên về việc nộp lại bài làm hoặc kiểm tra sau khi hoàn thành.

• Tham gia các hoạt động ngoài lề (anchor activities) một cách nhịp nhàng và hiệu quả sau khi hoàn thành một bài tập nào đó Làm việc với các tài liệu

khác nhau để giúp học tốt. • Cung cấp nhiều loại tài liệu khác nhau phù hợp với

điểm đầu vào khác nhau của học sinh, bao gồm nhu cầu, sở thích và hình thức đọc.

• Xây dựng cách thức để đảm bảo học sinh biết sử dụng tài liệu nào vào thời điểm cụ thể và nơi lưu trữ tài liệu.

• Đảm bảo tài liệu được giữ gìn cẩn thận và trả lại đúng nơi quy định sau khi hoạt động kết thúc.

• Gợi ý cho giáo viên tài liệu nào (hay loại tài liệu nào) tốt nhất đối với từng cá nhân học sinh.

(Nguồn: David và Kimberly (2007), Building Teachers: A Constructivist Approach to Introducing Education, Tên tiếng Việt: “Xây dựng đội ngũ giáo viên: Một cách tiếp cận kiến tạo để nhập môn Giáo dục học” – giáo trình do trường ĐH FPT mua bản quyền

và dịch, sẽ ra mắt 8/2014)

Dạy học phân hóa ở FPT GEM English

Khẩu hiệu của trung tâm tiếng Anh FPT GEM là “Cá nhân hóa học tập – thành công theo cách của riêng con” Đây có thể coi là một sự khác biệt rất

lớn của GEM so với các trung tâm tiếng Anh ở Hà Nội hiện nay

Ở GEM, việc dạy học phân hóa được thể hiện ở những vấn đề sau:

1 Trình độ: FPT phân hóa học sinh theo ba nhóm trình độ thấp, trung

bình và cao Theo đó, cùng một nội dung bài học, cùng một lớp học, học sinh ở các trình độ khác nhau sẽ nhận được các phiếu bài tập khác nhau, sự hỗ trợ từ giáo viên và nền tảng giảng dạy số hóa (Dig-ital Teaching Platform – DTP) là khác nhau

2 Sở thích: Tùy theo sở thích của bản thân, học sinh được làm bài tập

theo các cách khác nhau, sau đó gửi lên thư mục tài liệu học tập chung của cả lớp (gallery) để giáo viên và các bạn khác trong lớp cùng đóng góp ý kiến

3 Kiến thức nền: Mỗi một bài học chủ đề ở GEM được chia thành 9

– 11 lesson Trước khi học bài học chủ đề, học sinh sẽ làm một bài pre-test Hệ thống sẽ tự động phân tích kiến thức nền của học sinh,

Trang 31

Giáo viên phải làm những công việc gì trước khi bắt đầu giờ học phân hóa tại GEM?

Trước mỗi buổi học, giáo viên cần xem lại các báo cáo từ buổi trước trên

hệ thống để xác định: có cần chuyển học sinh nào từ nhóm trình độ thấp lên trình độ cao hơn không, nội dung nào các học sinh trong lớp mất nhiều thời gian học tập, những phần nào học sinh làm sai nhiều?… Tiếp theo đó, giáo viên kiểm tra nội dung bài mới trên DTP xem có cần giảm nội dung nào, thêm hoạt động nào hay không? Cuối cùng, giáo viên đọc bài học trong sách giáo khoa và lên kế hoạch các hoạt động bổ trợ trong tiết học (trò chơi, hoạt động vận động,…)

Nội dung trên đây chỉ mới đưa ra một cách khái quát về khái niệm, cách triển khai của dạy học phân hóa và một ví dụ áp dụng thực tiễn Để triển khai hiệu quả phương pháp này có lẽ sẽ còn cần thêm nhiều sự tìm tòi

và nghiên cứu

Trang 32

TẠP CHÍ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Từ Thực Địa

THĂNG TRẦM CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC HỒ NGỌC ĐẠI

Nguyễn Thị Vân (Thực hiện)

Ba chữ “Hồ-Ngọc-Đại” không chỉ là một cái tên ước lệ cho những người tâm huyết với sự nghiệp đổi mới giáo dục, mà còn nói lên cả một hành trình không mệt mỏi, một nỗ lực “muốn đập tan ngôi đền giáo dục cổ truyền” 1 của GS.TSKH Hồ Ngọc Đại Tạp chí Công nghệ Giáo dục số 3 giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện của Dự án công nghệ GD với ông về những thăng trầm của công nghệ giáo dục (CGD) từ khi được đưa về Việt Nam tới nay.

Thưa GS có thể hiểu CGD nói chung và CGD ở Việt Nam là gì?

Hiện nay chỉ có Việt Nam mới có CGD Bản chất của công nghệ là một quá trình được tổ chức và kiểm soát Bất cứ cái gì đều có quá trình để hình thành, chẳng hạn như thai nhi được hình thành, hay như hình thành cây, quả, hoa, lá Về mặt tự nhiên, các quá trình này là tối ưu, 9 tháng 10 ngày để sinh ra một con người là quá trình tối ưu, không ai can thiệp vào được, nếu can thiệp vào thì không còn giữ được bản chất tự nhiên Trẻ em vốn là một thực thể tự nhiên, nhưng rất khác cây, cỏ, hoa,

lá vì chúng bị “ép” nhiều thứ quá, tức là làm chệch cái tự nhiên của chúng

đi, thì bây giờ phải trả lại tự nhiên cho nó Bởi vì nhân tạo không bao giờ

là tối ưu, trừ khi nó phù hợp với tự nhiên, căn cứ vào quá trình tự nhiên Cách làm của CGD là căn cứ vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ

Nền tảng lý luận của CGD là gì, thưa GS.?

CGD có ba nền tảng: Nền tảng thứ nhất là Triết học; Nền tảng thứ hai là Tâm lý học; Nền tảng thứ ba là Các khoa học chuyên ngành

Lấy ví dụ như thế này, muốn dạy trẻ em nói tiếng Việt thì phải dạy những thành tựu cuối cùng của khoa học về tiếng Việt, hay dạy Toán thì dạy những thành tựu cuối cùng của Toán học Nhưng mà thành tựu cuối cùng

đã trở thành hàn lâm, chứ không phải những thành tựu cuối cùng nhưng còn trôi nổi Bởi vậy, tính hàn lâm của giáo dục là rất quan trọng Giáo dục

ở Việt Nam hiện nay lạc hậu là vì đang dạy những cái hàn lâm cũ

Về mặt Triết học, có thể hiểu đơn giản, những gì mà trẻ em có được là chuyển từ bên ngoài vào Ví dụ, muốn lớn thì phải ăn, muốn trưởng thành thì phải học, không có gì có sẵn cả Về mặt Tâm lý học, tức là trên thực tiễn triển khai nó như thế nào

1 - Hồ Ngọc Đại, 2010, Bài học là gì, trang 13

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thiết kế giảng dạy chương trình tiếng Anh của T2K - TP CHI CONG NGH GIAO DC s 3
Bảng 1 Thiết kế giảng dạy chương trình tiếng Anh của T2K (Trang 22)
Hình 10.1. Các luồng bài học chuyển từ việc học tập theo hướng dẫn  sang học tập độc lập - TP CHI CONG NGH GIAO DC s 3
Hình 10.1. Các luồng bài học chuyển từ việc học tập theo hướng dẫn sang học tập độc lập (Trang 49)
Hình 10.2. Việc giám sát lớp học theo thời gian thực tế được cung cấp  trên bảng điều khiển cho giáo viên để giám sát học sinh - TP CHI CONG NGH GIAO DC s 3
Hình 10.2. Việc giám sát lớp học theo thời gian thực tế được cung cấp trên bảng điều khiển cho giáo viên để giám sát học sinh (Trang 54)
Hình 10.3. Biểu đồ giá trị theo hàng là một trong những ứng dụng có  sẵn trong chương trình - TP CHI CONG NGH GIAO DC s 3
Hình 10.3. Biểu đồ giá trị theo hàng là một trong những ứng dụng có sẵn trong chương trình (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w