1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DINH TH THANH TRUC VAI NET v TRIT h

9 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 454,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀI NÉT VỀ TRIẾT HỌC PHÊ PHÁN - KANT [Đinh Thị Thanh Trúc 1 - 2018] 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta đang trong quá trình hội nhập với thế giới, điều này làm cho tiến trình quốc tế hóa diễn ra hế

Trang 1

VÀI NÉT VỀ TRIẾT HỌC PHÊ PHÁN - KANT

[Đinh Thị Thanh Trúc 1 - 2018] 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nước ta đang trong quá trình hội nhập với thế giới, điều này làm cho tiến trình quốc tế hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là sự giao lưu, xâm nhập của các nền văn hóa Bên cạnh những mặt tích cực còn có những mặt tiêu cực của nó là dẫn đến sự đồng hóa văn hóa, sự phai nhạt, biến mất của văn hóa dân tộc Chính vì vậy chúng ta cần có những nhận thức đúng đắn về mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa nghệ thuật, Trong đó Triết học phê phán đã chiếm một vai trò vô cùng quan trọng trên bước đường tiếp cận đến chân lý tối hậu Trong bài báo cáo này, tôi xin phép được trình bài vài nét về triết học phê phán - một trong những phong trào triết học lớn của thế kỷ XVIII

Immanuel Kant được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ Cận Đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn khác Học thuyết “triết học siêu nghiệm” của Kant đã đưa triết học của Đức bước vào một kỷ nguyên mới

1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Kant

Thời đại

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và phát triển ở hầu hết cac nước tư bản Tây Âu, và thành quả cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khẳng định tính ưu việt của nó Trong khi đó nước Đức vẫn tồn tại chế

độ phong kiến bảo thủ, trì trệ kìm hãm sự phát triển của xã hội Khắp nước Đức lúc này bao trùm một không khí bất bình của giai cấp tư sản Đức

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX cũng được đánh dấu bởi sự phát triển của các thành tựu khoa học kỹ thuật với các thành tựu như: việc phát hiện và chứng minh định luật bảo toàn năng lượng, học thuyết

tế bào, tìm ra oxi và bản chất của sự cháy,… những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật đã chứng minh rằng phương pháp tư duy siêu hình đã không còn phù hợp, hệ thống lí luận siêu hình của các triết gia thời cận đại như Descartes, Leibniz, Spinoza,… đã không thể lý giải được những vấn đề mới của thế giới hiện thực sinh động đang tồn tại, và đặt ra yêu cầu phải có một hệ thống lý luận mới có thể hệ thống và giải thích những hiện tượng của giới tự nhiên, xã hội một cách chính xác, toàn diện và biện chứng

Trang 2

Cùng với sự thiết lập và phát triển của chủ nghĩa tư bản thay thế cho chế độ phong kiến đã lỗi thời, thì trong triết học cũng diễn ra một quá trình biến đổi sâu sắc Thật vậy, triết học đã trút bỏ chiếc áo choàng mang màu sắc của tôn giáo, thần học để hướng đến một nền triết học duy vật, duy lý khám phá và luận giải cho khả năng khám phá, nhận thức thế giới Những nhu cầu trên đã thúc đẩy Kant đưa ra hệ thống triết học phê phán mở đầu cho triết học cổ điển Đức

Tiểu Sử

Immanuel Kant (22/4/1724 – 12/2/1804) tại Kanigsberg, gần bờ biển phía Đông Nam của biển Baltic Hôm nay Königsberg đã được đổi tên thành Kaliningrad và là một phần của Nga, là người con thứ

tư của Johann Georg Kant (1683–1746), người chuyên nghề chế biến đai da, và bà Anna Regina (1697–1737), thuộc họ Reuter Ông có tám anh chị em, nhưng chỉ bốn người đạt tuổi thành

niên Gia đình ông rất sùng đạo (Thiên chúa giáo), với bà mẹ có một cái nhìn rất phóng khoáng về

giáo dục Ông nhập học tại trường trung học Friedrichskollegium năm 1732, được đào tạo tại đây

và năm 1740 đã bắt đầu chương trình cao học tại Albertina, đại học tại Königsberg Mặc dù đăng

ký bộ môn Thần học nhưng Kant lại rất quan tâm đến Khoa học tự nhiên Giáo sư bộ môn Luận lý học và Siêu hình học Martin Knutzen giúp ông làm quen với học thuyết của Leibniz và Newton Kant được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong

những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh

vực nhân văn khác Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán"

Kant sống gần như suốt đời tại Königsberg, một thành phố rộng mở Ông qua đời năm 1804, thọ gần 80 tuổi Mộ của ông nằm tại Đại giáo đường Königsberg Bia tưởng niệm ông nằm phía ngoài của Đại giáo đường

3.2.2 Sự Nghiệp Triết Học

Triết học Kant là sự kế thừa thành tựu khắc phục những khuyết điểm của nền triết học siêu hình thời cận đại Chính vì vậy triết học của Kant chia thành hai giai đoạn: tiền phê phán và phê phán

Tiền Phê Phán (trước 1770)

Giai đoạn tiền phê phán (1746 – 1770), là giai đoạn Kant chịu những ảnh hưởng sâu sắc của những quan niệm duy vật siêu hình của Descartes, Newton Trong giai đoạn này Kant đặc biệt đề cao nhận thức

lý tính, lý tính được xem là một công cụ vạn năng trong việc nhận thức của con người Ông đã đưa

ra luận điểm nổi tiếng khẳng định tính chất duy vật và duy lý trong thế giới quan và phương pháp luận của mình là: “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy thế giới được sinh ra từ nó như thế nào” Một trong số những thành tựu nổi bật của triết học tiền phê phán của Kant chính là thuyết tinh vân giải thích sự hình thành của vũ trụ

Trang 3

Kant đã bàn đến vấn đề tôn giáo ngay thời kỳ tiền phê phán Triết học tôn giáo của ông ra đời trong bối cảnh: Một mặt, Kant chứng kiến những biến động của Kitô giáo trong xã hội Châu Âu trước và sau cách mạng Pháp 1789 – 1794 với những khuynh hướng không quy phục giáo điều Roma Mặt khác, bản thân Kant sinh ra và lớn lên tại Konigsberg, nơi mà đạo Tin Lành phát triển mạnh, xung đột giữa người Công giáo và người đạo Tin Lành ở Đức vẫn kéo dài Tuy chưa bao giờ tỏ ra là người nhạt đạo nhưng trên thực tế Kant vẫn chịu một phần nào đó ảnh hưởng của mẹ ông vốn theo đạo Tin Lành Thời kỳ tiền phê phán, khác với Hêghen, C Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sau này, I.Kant trực tiếp phát kiến về mối liên hệ giữa trường hấp dẫn Trái đất – Mặt trăng và các hiện tượng thủy triều ở đại dương cùng thuyết vân tinh, thể hiện là một nhà vật lý địa cầu, nhà thiên văn học hơn là một triết gia

Tuy nhiên, ngay thời kỳ đó người ta đã nhận ra mâu thuẫn trong quan niệm của Kant trong việc lý giải nguồn gốc của vũ trụ Một mặt, ông là tác giả của thuyết vân tinh lý giải về sự hình thành vũ trụ Về sau, thuyết này được nhà toán học và thiên văn học Pierre Simon Laplace (1749-1827) tiếp tục phát triển nên còn có tên là thuyết Kant-Laplace Theo thuyết này, vật chất là thực thể cấu thành mọi vật trong thế giới chúng ta Với câu nói nổi tiếng, “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy vũ trụ của chúng ta được hình thành như thế nào”, Kant thể hiện là nhà duy vật Mặt khác, ông lại thừa nhận vai trò sáng thế của Thượng đế, nhờ đó vũ trụ có được trạng thái như hiện nay Thực tế, I Kant chưa bao giờ phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, nhưng Thượng đế trong quan niệm của ông bị duy

lý hóa, khác so với quan niệm của các nhà thần học

Phê Phán

Giai đoạn phê phán (1770 – 1804) là giai đoạn Kant hướng triết học của mình vào việc giải quyết những vấn đề con người Ông đã đặt ra ba câu hỏi “Tôi có thể biết được gì?”, “Tôi cần làm gì?”, “Tôi có thể hi vọng vào cái gì?” Để trả lời ba câu hỏi này ông đã viêt ra bộ ba tác phẩm phê phán tức là

“Phê Phán Lý Tính Thuần Túy”, “Phê Phán Lý Tính Thực Hành”, “Phê Phán Năng Lực Phán Đoán” Sang thời kỳ phê phán, triết học tôn giáo của I Kant có liên quan tới triết học lý luận và triết học thực hành của ông Trong Phê phán lý tính thuần tuý (1781), I Kant khẳng định: “Tôi phải dẹp bỏ tri thức qua một bên để có chỗ cho niềm tin” Theo Volker Gehardt, “việc giới hạn tri thức thông qua

sự phê phán đồng thời cũng có nghĩa là dành cho đức tin một vị trí trang trọng Chúa Trời và thế giới, tự do và cá nhân giờ đây trở thành những khái niệm lý tính thuần túy”, hay nói cách khác nội dung nào còn nằm trong phạm vi hay vượt qua khỏi tầm kiểm soát của tri thức thì vẫn còn giới hạn còn những gì lien quan đến niềm tin thì tri thức không còn khả năng để giải thích được tức là những yếu tố liên quan đến tinh thần

3.2.3 Bốn Nghi Vấn Của Kant

“Tôi có thể biết được gì?”

Trang 4

"Tôi có thể biết được gì?" Là đại biểu của trường phái Duy lý của Leibniz, Kant được đánh thức khỏi

"giấc ngủ giáo điều" qua việc nghiên cứu Hume Ông thừa nhận lời chỉ trích chủ nghĩa duy lý của Hume về mặt phương pháp là đúng, có nghĩa là việc hướng dẫn nhận thức quay về giác tính thuần

tuý (reiner Verstand) không có trực quan (sinnliche Anschauung) là một điều không thể đối với

ông Mặt khác, chủ nghĩa kinh nghiệm của David Hume lại dẫn đến lời xác nhận là nhận thức xác tín hoàn toàn không thể có, tức là dẫn đến chủ nghĩa hoài nghi Kant lại không thừa nhận chủ nghĩa này, bởi vì tính hiển nhiên của một số phán đoán tiên nghiệm - đặc biệt là trong toán học (ví như

xác tín tiên nghiệm [apriorische Gewissheit] của đẳng thức 7 + 5 = 12)

Kant tin rằng các chân lý toán học là những hình thức tổng hợp một tri thức tiên tri, có nghĩa là chúng là cần thiết và phổ quát, nhưng được biết qua trực giác [129] Những nhận xét ngắn gọn của Kant về toán học ảnh hưởng đến trường phái toán học gọi là trực giác, một phong trào trong triết học toán học chống lại chủ nghĩa hình thức của Hilbert, và logic của Frege và Bertrand Russell

“Tôi nên làm gì?”

Mục đích của các khảo sát trong Phê Phán Lý Tính Thuần Túy là lập một cơ sở cho triết học thực tiễn Và như thế, với bước đầu trong tác phẩm Đặt cơ sở cho nhân luận siêu hình học (Grundlegung zur Metaphysik der Sitten) và sau đó là trình bày nhấn mạnh hơn trong Phê phán lý tính thực tiễn (Kritik der praktischen Vernunft), Kant nghiên cứu các điều kiện khả thi của các phát biểu về những điều

mà con người ta nên làm (Bedingungen der Möglichkeit von Sollensaussagen) Tôn giáo, nhận thức thông thường (common sense) hoặc kinh nghiệm không thể giải đáp được vấn đề này mà chỉ có lý tính thuần tuý mới có thể Luận thuyết của Kant về Luân lý (Sittlichkeit) bao gồm ba phần: Cái thiện

về mặt luân lý (das sittlich Gute), thừa nhận sự tự do của ý chí (Freiheit des Willens) và những phương châm khái quát của lệnh thức tuyệt đối (kategorischer Imperativ)

Luân lý là điểm trọng yếu của lý tính, nó hướng đến hành động thực tiễn Luân lý là một quan niệm có bản chất quy định vốn hiện hữu trong con người một cách tiên nghiệm (a priori) Con người là một động vật có khả năng lý giải (intelligibles Wesen) Có nghĩa là, với lý tính, con người có khả năng

tư duy và phán quyết không phụ thuộc vào cảm năng và cũng không bị ảnh hưởng bởi bản năng Tất cả những động vật được trang bị với lý tính – trong đó có loài người – không bị tha trị (heteronom), mà là tự chủ (autonom) "Ý chí là một khả năng chỉ chọn lựa cái được lý tính – không phụ thuộc vào khuynh hướng bản năng – xác nhận là thiện" Như vậy có nghĩa là sự phán quyết luân lý nằm ngay trong chủ thể Kant cũng biết rất rõ rằng đòi hỏi luân lý là một lý tưởng mà không một ai có thể lúc nào cũng đạt được Nhưng mặc dù vậy, Kant quan niệm là mỗi người đều mang một tiêu chuẩn luân lý trong mình và biết được rằng mình nên hành xử như thế nào để phù hợp luân

lý Ý chí độc lập (của lý tính) đòi hỏi hành động thiện về mặt luân lý Lý tính trao cho con người trách nhiệm tuân thủ luân lý

“Tôi có thể hi vọng được gì?”

Trang 5

Câu hỏi thứ ba của Immanuel Kant, "Ta được hi vọng những gì?", được ông giải đáp trong Phê Phán Lý Tính Thuần Túy một cách tiêu cực Sau khi lý tính không thể chứng minh được sự tồn tại hay không tồn tại của bộ ba Thượng đế, tính bất tử của linh hồn và tự do, thì bây giờ câu hỏi về cái tuyệt đối là

một câu hỏi về niềm tin "Tôi đã phải gác tri thức qua một bên để có chỗ cho niềm tin" ("Ich musste das Wissen aufheben, um zum Glauben Platz zu bekommen")

Cách nhìn sự vật như thế này cũng đã quyết định thái độ của Kant đối với Khai sáng, cái được ông xem là

đích đến của con người Thời đại Khai sáng ("Zeitalter der Aufklärung") gắn liền với tên của Kant

Kant phản đối triệt để việc tu tập tôn giáo với tất cả các nghi lễ của nó Ông cho rằng như vậy chính là chế

độ Giáo hoàng Sau khi Kant công bố luận văn tôn giáo năm 1794, chính quyền quả thật đã lệnh cấm Kant viết những bài như thế Kant khuất phục trong suốt Triều đại vua Friedrich Wilhelm II, nhưng sau khi nhà vua qua đời vào năm 1797, ông lại giữ lập trường này trong cuộc tranh cãi giữa các bộ môn

“Con người là gì?”

Kant là người đầu tiên đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thành một khoa học độc lập I Kant coi nhân học là một ngành có đối tượng riêng, có phương thức nghiên cứu riêng, phương thức vượt ra khỏi khuôn khổ của các phương thức nhận thức đã biết Cũng chính là

từ triết học phê phán, khi phân loại các vấn đề nhận thức cơ bản mà con người buộc phải giải đáp,

I Kant đã đi đến khẳng định vị trí của nhân học, ngành khoa học phải trả lời câu hỏi muôn thuở - con người là gì? Và, không biết lúc đó I Kant có hình dung nhân học lại phát triển một cách mạnh

mẽ và thu hút sự quan tâm của con người đến như hiện nay hay không

Hình 1 Những nghi vấn của Kant

3.2.4 Sự Ra Đời Của Triết Học Phê Phán

Thực ra, không phải chỉ vì các tác phẩm cơ bản của Kant ở giai đoạn thứ hai trong cuộc đời sáng tạo của ông có tựa đề là "phê phán" mà giai đoạn này được gọi là giai đoạn phê phán Vấn đề là ở chỗ, triết học Kant mang tinh thần phê phán hết sức rõ rệt Kant đã phê phán một cách trực diện và không thương tiếc toàn bộ "linh hồn" của triết học tiền bối, bao gồm cả triết học kinh nghiệm luận của J Loke, G Berkeley, D Hume và cả triết học duy lý của R Descartes, B Spinoza, G Leibniz Sự phê

Trang 6

phê phán đó cũng phải coi là thật sự có hiệu quả, nếu so với những phê phán đã từng tồn tại trong lịch sử triết học

3.2.5 Tác Động Của Triết Học Phê Phán

Ảnh hưởng của Kant đối với tư tưởng phương Tây đã trở nên sâu sắc Ngoài ảnh hưởng của ông đối với các nhà tư tưởng cụ thể, Kant đã thay đổi khuôn khổ trong đó cuộc điều tra triết học đã được thực hiện Ông đã hoàn thành một sự thay đổi mô hình: triết học rất ít được thực hiện theo phong cách triết học trước thời Kant Sự thay đổi này bao gồm một số đổi mới có liên quan chặt chẽ đã trở thành tiên đề, trong chính triết học và trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung:

"Cách mạng Copernic" của Kant, đặt vai trò của chủ thể hoặc người hiểu biết của con người vào trung tâm cuộc điều tra về kiến thức của chúng ta, như vậy không thể triết học về mọi thứ bởi vì chúng là độc lập với chúng ta hoặc về cách chúng là đối với chúng ta;

Phát minh ra triết học phê phán của ông, đó là khái niệm về việc có thể khám phá và khám phá một cách

có hệ thống các giới hạn tiềm tàng có thể có đối với khả năng hiểu biết của chúng ta thông qua lý luận triết học;

Sự sáng tạo của ông về khái niệm "điều kiện khả dĩ", như trong khái niệm "điều kiện kinh nghiệm có thể"

- nghĩa là mọi thứ, tri thức, và các hình thức ý thức dựa trên các điều kiện trước làm cho chúng khả thi, để hiểu được hoặc để biết họ, trước tiên chúng ta phải hiểu những điều kiện này;

Lý thuyết của ông rằng kinh nghiệm khách quan được tích cực thiết lập hoặc xây dựng bởi sự hoạt động của tâm trí con người;

Quan niệm của ông về quyền tự trị về đạo đức là trung tâm của nhân loại;

Sự khẳng định của ông về nguyên tắc rằng con người nên được coi là kết thúc chứ không phải là phương tiện Bao gồm chủ nghĩa duy lý Đức, chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa thực chứng, Hiện tượng học, thuyết hiện sinh, lý thuyết phê bình, triết học ngôn ngữ, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cơ cấu, và thuyết cấu trúc

1.2.6 Ứng Dụng Triết Phê Phán Trên Một Số Lĩnh Vực

Triết học phê phán và văn học

Văn học là một môn khoa học về ngôn ngữ và nghệ thuật, không ai có thể phủ nhận văn chương giúp hình thành nền tảng, tư tưởng và lối sống của một con người Văn chương là một trong những công cụ giúp chúng ta có được tư duy cảm xúc và tư duy ngôn ngữ Những tác phẩm mà chúng ta được học

ở trường liệu đã thật sự trọn vẹn? Và nhờ có được tư duy phê phán cho phép ta tiếp cận tác phẩm ở nhiều trường tư tưởng hơn, giúp ta nhìn rõ được bản chất của vấn đề

Hãy lấy ví dụ như tác phẩm “Vội Vàng” của Xuân Diệu, với tác phẩm này, nếu nhìn ở góc nhìn nghệ thuật thì quả là một tác phẩm đầy chất trữ tình Xuân Diệu đã mê hoặc lòng người bằng cử - chỉ - thi - sĩ

Trang 7

chứ không phải bằng thái độ ngông cuồng Nhà thi sĩ đã cảm nhận thời gian trôi đi bằng ánh sáng, màu sắc và hương thơm, khiến cho người đọc cảm nhận được niềm say mê yêu đời, lạc quan của nhà thi sĩ chứ không phải nỗi tuyệt vọng Cũng chính nội lực mạnh mẽ đó đã phá vỡ hết những khuôn sáo ước lệ của “thơ cũ”, không còn đâu là số chữ, số chữ, số câu, niêm luật nghiêm luật của câu thơ Đường ngự trị hàng ngàn năm trên thi đàn Việt Nam

Nhưng nếu tiếp cận trên góc nhìn phân tâm học của Simmund Freud thì Xuân Diệu là một người bị mặc cảm tính dục cao luôn muốn thỏa mãn những ham muốn bản năng và điều đó ta có thể nhìn thấy thông qua những từ ngữ mà tác giả sử dụng trong bài thơ như “cắn”, “ôm”, “say”, “riết”, “cái hôn nhiều”, “no nê”, Vậy nếu đặt tác phẩm này lên một trường tư tưởng khác thì sao? Nếu tiếp cận trên quan điểm của Phật Giáo thì bên trong bản thân Xuân Diệu tâm tham vô cùng lớn Xuân Diệu muốn ôm hết tất cả vào lòng, muốn níu giữ hết tất cả mọi thứ không muốn bỏ xót bất cứ điều gì, điều đó được thể hiện ở những động từ “tắt”, “buộc”, “ôm”, “riết”, Xuân Diệu đã từng nói: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm, không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết” chứng tỏ nhà văn Xuân Diệu rất bỏ công vào những tác phẩm văn học của mình Một con người ở nền tư tưởng này thì được cho là đáng ngưỡng mộ và tôn kính nhưng xét ở một trường tư tưởng khác thì chỉ là một kẻ tầm thường Vậy chỉ với lượng tri thức của những kẻ tầm thường mà chúng ta được học trên lớp chẳng

thể nào giúp ta thăng tiến và đi được vào bản chất của vấn đề Một góc nhìn đa diện vẫn tốt hơn

một góc nhìn phiến diện

Vậy cuối cùng chúng ta học văn để làm gì? Lấy điểm ư? Lên lớp ư? Hãy nhìn lại và tự cho mình một câu trả lời thỏa đáng Bản thân tôi học văn không chỉ tiếp cận những tác phẩm văn học ở phương diện phân tích hay thuyết minh mà mục đích tôi tìm đến văn chương là rèn luyện tư duy cảm xúc, rèn luyện tư duy ngôn ngữ Hãy dùng văn chương để viết lên cuộc đời của chính bạn

Triết học phê phán và tâm lý học

Tâm lý học là một trong những chuyên nghành mà mọi người hiện nay muốn hướng đến Người phương Tây đã sử dụng nó như là một công cụ để chữa những căn bệnh mang yếu tố tinh thần Thật ra mỗi người chúng ta điều có thể sử dụng được tâm lý học Ví dụ như trong mỗi gia đình phụ huynh luôn dùng những cách răn dạy như đánh để dạy con trẻ thì họ đã một phần nào đó sử dụng tâm lý học hành vi, hay khi những đứa trẻ lớn lên một chút, khi đã ý thức được những việc mình đang làm thì chúng ta không còn dùng tâm lý học hành vi với trẻ nữa mà chuyển sang dùng tâm lý học nhận thức tức là tương tác với ý thức của trẻ

Vậy nếu nhìn nhận ở góc nhìn của triết học phê phán thì cách giải quyết bằng phương pháp sử dụng tâm

lý học đã thật sự tối ưu? Thật ra nếu chỉ dùng tâm lý học hành vi hay tâm lý học nhận thức với trẻ thì không đủ để giúp cho trẻ sửa mình và thăng tiến Nếu bạn chọn sử dụng tâm lý học hành vi với trẻ thì chỉ làm cho những đứa trẻ sợ hãi và làm theo những gì bạn nói mà không giúp cho trẻ hiểu

ra tại sao mình phải làm như vậy Tâm lý học chỉ là những “phương thuốc” chữa ở ngọn không thể

Trang 8

tế vấn đề vẫn còn nằm đó Chính vì chúng ta cần phải nhìn vấn đề một cách sâu sắc hơn bằng góc nhìn của phân tâm học, duy thức học và siêu lý học để có thể giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn

và triệt để

3.3 KẾT LUẬN

Nói tóm lại, tất cả những gì được trình bày trên tôi muốn nói rằng triết học Kant hoàn toàn có thể được coi

là điển hình cho triết học của những nét đặc thù và độc đáo và nó đã dần đưa con người từng bước một tiệm cận đến chân lý Triết học phê phán đã giúp con người nhìn thấy được bản chất sâu sắc của vấn đề bằng cách tìm ra cái mâu thuẫn mà chính vấn đề đang gặp phải Tuy nhiên, nếu nói triết học Kant độc đáo thì phải bổ sung thêm là khi đã được xem một nhà triết học của nhân loại, hầu như nhà triết học nào cũng có nét đặc thù và độc đáo đáo trong hệ thống triết thuyết của riêng mình Tuy vậy trong lịch sử triết học khó có nhà triết học nào lại có nét đặc thù và độc đáo như Kant Nét độc đáo của ông nằm ở hệ thống tư tưởng của ông Tuy vậy, ngoài hệ thống tư tưởng và các học thuyết

về “vật tự nó”, về hệ thống các phạm trù logic, hệ thống các phạm trù về đạo đức học, về vai trò và

vị trí của nhân học, và về bản thân các phạm trù chính mà Kant đã xây dựng nên,… Triết học Kant còn độc đáo ngay cả cách đặt vấn đề, cách thức trình bày và thậm chí ngay cả tên gọi tác phẩm của ông Sự độc đáo của ông đã từng khiến cho việc đánh giá, xếp loại những tư tưởng của ông diễn ra khó khăn

Mặc khác, dù cho triết học phê phán là một loại hình triết học độc đáo nhưng cũng gặp phải nhiều khó khăn Với lối tư duy phê phán của mình, Kant đã thành công phê phán và lật ngược các vấn đề của các trường tư tưởng khác như David Hume, R Descartes,… Thế nhưng sau khi Kant phê phán những trường tư tưởng khác ông còn phê phán ngay trên cả trường tư tưởng của chính ông Tại sao

cứ phải phê phán, phê phán rồi lại tiếp tục phê phán? Tại sao chúng ta không thể làm nó tốt hơn thay vì phải “đạp đổ”? Phải chăng đây cũng là một điều mà triết học phê phán vẫn chưa thật sự đề cập đến? Và đây cũng chỉ là một góc nhìn khác cũng bản thân tôi mà thôi

Trong chương trình học của lớp tài năng, chúng tôi cũng nói về triết học phê phán, tuy nhiên, đó là một sự cải biên để làm trọn vẹn hơn những gì mà Kant đã đặt nền móng Trong thời gian không xa, chúng tôi sẽ cố gắng hệ thống và trình bày lại lý thuyết về triết học Phê phán một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/immanuelkant-triethocphephan-nccn-e.html , ntc: 2/20/2018

Trang 9

[5] Wikipedia (2018) Chủ Nghĩa Vô Thần, tct: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_v%C3%B4_th%E1%BA%A7n ,ntc: 2/20/2018 [6] Wikipedia (2018), Thuyết Tinh Vân, tct: https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3_thuy%E1%BA%BFt_tinh_v%C3%A2n , ntc: 2/20/2018

DANH MỤC HÌNH

[1] Hình 1 Những nghi vấn của Kant

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 Những nghi vấn của Kant - DINH TH THANH TRUC VAI NET v TRIT h
Hình 1 Những nghi vấn của Kant (Trang 5)
DANH MỤC HÌNH - DINH TH THANH TRUC VAI NET v TRIT h
DANH MỤC HÌNH (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w