1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương kinh tế chính trị

29 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 731,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nếu chỉ có phân công lao động thì vẫn chưa thể có kinh tế hàng hóa như “ Trong xã hội Ấn Độ thời cổ và trong cộng đồng gia tộc Nam Xlavơ, các sản phẩm không biến thành hàng hó

Trang 1

1 Sản xuất hàng hóa

Trước khi có kinh tế hàng hóa, con người tổ chức sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất (kinh tế tự nhiên) Kiểu tổ chức kinh tế này gắn liền với sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, phân công lao động kém phát triển Trong quá trình lịch

sử rất dài từ thời kỳ cuối công xã nguyên thủy đến xã hội chiếm hữu nô lệ và

xã hội phong kiến, kinh tế tự nhiên luôn giữ vai trò thống trị Kinh tế hàng hóa ra đời cùng với sự xuất hiện của hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa

Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường

Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội loài người Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:

Thứ nhất: Phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao

động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau

Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc trao đổi với nhau Mặt khác, đồng thời với đơn nhất hóa sản phẩm của người lao động, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng hóa, nên người sản xuất sản phẩm khác nhau càng cần trao đổi với nhau nhiều hơn Mặt khác, phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm

Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn Tuy nhiên, nếu chỉ có phân công lao động thì vẫn chưa thể có kinh tế hàng hóa như “ Trong xã hội Ấn Độ thời

cổ và trong cộng đồng gia tộc Nam Xlavơ, các sản phẩm không biến thành hàng hóa”

Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản

xuất

Khi những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa

Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là

Trang 2

một mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết thông qua việc trao đổi, mua bán sản phẩm dưới hình thái hàng hóa

Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa

*Mâu thuẫn của sản xuất hàng hóa

Trong nên sản xuất hàng hóa lao động tư nhân và lao động xã hội ko phải là hai lao động khác nhau, mà chỉ là hai mặt đối lập của một lao động thống nhất Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau

Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Điều này thể hiện ở chỗ:

Sản phẩm do người sản xuất hàng hóa tạo ra có thể không ăn khớp hoặc không phù hợp với nhu cầu xã hội

Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất có thể cao hơn hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận

*Đặc trưng của sản xuất hàng hóa (GT)

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sx để trao đổi, mua bán, không phải để

người sản xuất ra nó tiêu dùng

Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất tư

nhân, vừa mang tính xã hội Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong kinh tế hàng hóa

Thứ ba, mục đích của sản xuất HH là giá trị, là lợi nhận chứ ko phải là GTSD

*Ưu thế của sản xuất hàng hóa (GT)

* Liên hệ với quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa ở nước ta trước và sau thời kỳ Đổi mới

Trước Đổi mới, kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sản xuất hàng hóa không phát triển, về cơ bản không sử dụng quan

hệ hàng hóa - tiền tệ, thể hiện: các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước, hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch do nhà nước giao (phương hướng sản xuất, nguyên vật liệu, lao động, tiền lương, đều do nhà nước quyết định) và sản phẩm thuộc sở hữu của nhà nước

Đường lối Đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam 1986) đưa ra, và đến nay Đảng ta tiếp tục hoàn thiện và phát triển Quá trình Đổi mới về kinh tế đã phát triển 2 điều kiện dẫn đến sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hóa, tiến tới kinh tế thị trường như hiện nay

(12-Về phân công lao động: từ chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh

tế, thực hiện phân công lao động xã hội sâu rộng, đến nay, nền kinh tế đã có nhiều loại thị trường: thị trường lao động, thị trường công nghệ, thị trường tài chính, tiền tệ Hơn nữa, kinh tế Việt Nam dần hội nhập, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế nhằm khai thác lợi thế về địa lý, tài nguyên, dân số, lao động

Về sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: nền kinh tế nước ta đã phát triển nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, tạo nên một môi trường sản xuất có cạnh tranh, kích thích hoạt động trao đổi,

Trang 3

mua bán Quan trọng hơn, về cơ chế quản lý của nhà nước đã chuyển sang giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp (doanh nghiệp tự lập kế hoạch sản xuất,

tự hạch toán, tìm kiếm thị trường, thực hiện trao đổi mua bán hàng hóa trong khuôn khổ pháp luật)

Quá trình Đổi mới không chỉ làm ra đời kinh tế hàng hóa mà còn hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, từ đó đưa nước ta

từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, khủng hoảng (lạm phát trên 700% vào năm 1986) chuyển sang tăng trưởng cao và ổn định (tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 7.01%/năm giai đoạn 2006 - 2010, từ 5 - 7%/năm giai đoạn 2010 - 2015)

2 Hàng hóa

Khái niệm: Hàng hóa là sản phẩm của lao động , có thể thỏa mãn nhu cầu nào

đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Sản phẩm của lao động là hàng hóa khi nhằm đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể

ở dạng vật thể hoặc phi vật thể

Thuộc tính của hàng hóa

Hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị

+ Giá trị sử dụng là công dụng của các vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào

đó của con người Ví dụ giá trị sử dụng của quyển sách là để đọc, áo là để mặc, cơm là để ăn,

Giá trị sử dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, là thuộc tính tự nhiên của vật, luôn tồn tại cùng với xã hội loài người Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng phát hiện thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và phương pháp để lợi dụng chúng, do đó số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt

Giá trị sử dụng chỉ thể hiện trong lĩnh vực tiêu dùng, chỉ khi nào con người sử dụng hàng hóa cho tiêu dùng thì giá trị đó mới phát huy tác dụng Nếu hàng hóa chưa được tiêu dùng thì giá trị sử dụng của nó chỉ ở dạng tiềm năng Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng mang trên mình một giá trị trao đổi nhất định Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có một giá trị sử dụng nào đó, tuy nhiên không phải vật nào mang giá trị sử dụng cũng là hàng hóa Ví dụ: Không khí

+ Giá trị của hàng hóa là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá Giá trị của hàng hoá là giá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết

Thời gian lao động XH cần thiết là thời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi

(Giá trị HH biểu hiện thông quá giá trị trao đổi Tức là, giá trị là nội dung, là

cơ sở của giá trị trao đổi

Trang 4

Đặc điểm giá trị của HH: Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất HH vì trao đổi HH là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản xuất hàng hóa Quan hệ giữa người với người được thay thế bằng quan hệ giữa vật với vật ( hàng - hàng) Giá trị HH là một phạm trù lịch

sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế HH, có sản xuất HH thì mới có giá trị hàng hóa Giá trị hàng hóa có yếu tố tinh thần và lịch sử)

Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

Thứ nhất, đó là năng suất lao động

Thứ hai, đó là cường độ lao động

Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động

Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động đã hao phí ẩn dấu trong hàng hóa với nhau Trong thực hiện sản xuất hàng hóa, để thu được hao phí lao động đã kết tinh người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để được thị trường chấp nhận Hàng hóa phải được bán đi

Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kinh tế chính trị Lenin chỉ về một đại lượng được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất

Mac-ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động,

cụ thể là thời gian lao động xã hội cần thiết Lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa

Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:

Năng suất lao động:

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

- Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân

- Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ

- Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất

- Trình độ tổ chức quản lý

- Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất

- Các điều kiện tự nhiên

 Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất

Trang 5

Hai là tính chất phức tạp của lao động

Căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động mà chia thành lao động giản đơn

và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là hoạt động lao động không đòi hòi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể làm được

Lao động phức tạp là hoạt động lao động yêu cầu phải được đào tạo về kĩ năng, huấn luyện nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định mới có thể làm được

Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên Đây là cơ sở lý luận để cả nhà quản trị và người lao động xác định mức thù lao cho phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội

* Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hóa

GTSD và giá trị của HH vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau trong một

HH

Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này cùng tồn tại trong một HH Một vật muốn trở thành HH thì ko thể thiếu bất kì một thuộc tính nào trong 2 thuộc tính trên

Ta có thể thấy một vật có ích tức là có GTSD nhưng ko do lao động tạo ra tức

là không có lao động xã hội kết tinh trong đó thì không phải là HH VD: ánh sáng mặt trời, không khí,

Mặt mâu thuẫn: Thứ nhất, với tư cách là một giá trị sử dụng thì các HH không đồng nhất về chất vì mỗi HH có một công dụng khác nhau Ngược lại, với tư cách là giá trị thì các HH đồng nhất về chất, chúng đều là kết tinh của lao động, đều là lao động được vật hóa Thứ 2, tuy giá trị và GTSD cùng tồn tại trong một HH nhưng quá trình thực hiện GTSD và giá trị khác nhau về thời gian và không gian Cụ thể là giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng Nếu không thực hiện được giá trị HH ( HH ko bán được) thì ko thực hiện được GTSD có thể dẫn đến khủng hoảng sản xuất “thừa”

Liên hệ với sản xuất và trao đổi HH ở VN

Về sản xuất: HH đa dạng về GTSD và có giá trị cạnh tranh thì càng được ưa chuộng Vì vậy, trong sản xuất, cần tăng cường ứng dụng KH, công nghệ mới, nâng cao tay nghề để giảm chi phí sản xuất HH; thường xuyên thay đổi mẫu mã, nâng cao GTSD Mặt khác, cần tăng cường hoạt động thăm dò, dự báo nhu cầu thị trường, nhằm sản xuất được những hàng hóa phù hợp với nhu cầu của xã hội, quảng cáo, thông tin về hàng hóa đến người tiêu dùng một cách trung thực, hiệu quả

Trong trao đổi HH: Việc kết nối hiệu quả giữa nhà sx - nhà phân phối - người tiêu dùng sẽ quyết định đến quá trình tiêu thụ HH, tránh tình trạng “thừa”,

“thiếu” HH Việc tiêu thụ HH cần chú trọng đến cả nhu cầu thị trường trong

Trang 6

nước và quốc tế Vì vậy, cần gia tăng hoạt động của các hiệp hội ngành nghề, kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, thiết lập mạng lưới phân phối hiệu quả, tận dụng tiến bộ KH để nâng cao hiệu quả bán hàng, rút ngắn chi ph

3 Thị trường và nền kinh tế thị trường Vai trò của một số chủ thể tham gia thị trường

Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế trong đó nhu cầu của các chủ

thể được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và

số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội

Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo

yêu cầu của các quy luật kinh tế

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường

Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường

Có rất nhiều chủ thể khác nhau tham gia thị trường, mỗi chủ thể có những vai tròquan trọng riêng Có 4 chủ thể chính sau: người sản xuất, người tiêu dùng, chủ thể trung gian, Nhà nước

Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch

vụ ra thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội

Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất

Các chủ thể trung gian trong thị trường là những cá nhân, tổ chức đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ thể sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên linh hoạt hơn

Trong nền kinh tế thị trường, xét về vai trò kinh tế thì Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đồng thời thực hiện những biện pháp

để khắc phục những khuyết tật của thị trường vai trò chủ yếu của Nhà nước

là kiến tạo môi trường vĩ mô của nền kinh tế

4 Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư

Bản chất của “Tư bản”: Tư bản là một quan hệ sản xuất xã hội giữa

người với người mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt GTTD mà người

công nhân làm ra Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột không công của người công nhân làm thuê

+TB bất biến: (không biến đổi) (là c) tư liệu sản xuất, giá trị được bảo toàn

chuyển vào sản phẩm Không biến đổi về lượng

+TB khả biến: (có thể biến đổi) (là v) sức lao động, thông qua lđ trừu

tượng của người công nhân tăng lên Có biến đổi về lượng

Trang 7

*Tư bản bất biến tư bản hả biến

Để tiến hành sản xuất tư bản nào cũng phải ứng ra một só lượng tư bản nhất định để mua tư liệu sản xuất và sưc lao động, tức là biến thân tư bản tiền

tệ thành các yếu tố của quá trình sản xuất, thành các hình thức tồn tại khác nhau của tư bản sản xuất

- Tư bản bất biến là bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, mà giá trị của nó được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm, tức là không thay đổi về lượng giá trị của nó, được C.Mác gọi tư bản bất biến ( kí hiệu là c)

Đặc điểm : Giá trị của tư bản bất biến được lao động cụ thể của người công nhân bảo toàn trong sản phẩm mới

- Tư bản khả biến : ộ phận tư bản biết thành sưc lao động không tái hiện

ra nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng giá trị của nó, được C,Mác gọi là tư bản khả biến (kí hiệu là v)

Đặc điểm : giá trị của tư bản bất biến được lao động cụ thể của người công nhân bảo toàn trong sản phẩm mới, luôn tạo ra giá trị mứi lớn hơn giá trị bản thân, chính vì nó tạo ra giá trị thặng dư

Như vậy tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên sau quá trinh sản xuất

*Tư bản cố định tư bản ưu động

Tư bản cố định là bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng máy móc thiết

bị nhà xưởng vv về hiện vật, tư bản cố định luôn luôn bị cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trị của tư bản cố định mới tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất và lưu thông cùng sản phẩm, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra

Đặc điểm : tư bản cố định được sử dụng trong nhiều năm và luôn chịu tai họa hao mòn đó là hao mòm hữu hình và hao mòn vô hình

- Hao mòn hữu hình là hao mòn do sử dụng hoặc do bị phá hủy của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định hao mòn dần đi tới chỗ hỏng cần phải thay thế

- Hao mòn vô hình là hao mòn do ảnh hưởng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ Hao mòn vô hình xảy ra trước khi máy móic vẫn còn mới , còn tốt nhưng bị mất giá vì sự xuất

Đặc điểm : Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Nếu

tư bản cố định muốn chi chuyển hết giá trị của nó phảu mất nhiều năm , thì trái lại tư bản lưu động trong một năm giá trị của nó có thể nhiều lần hay nhiều vòng

*M c đích ngh a của việc phân chia tư bản thành c c cặp ph tr trên

Trang 8

Trong đời sống hiện thực người ta thấy xí nghiệp nào được sử dụng máy móc và công nghệ hiện đại thì năng suất lao động cao hơn và nhờ đó thu được lợi nhuận cao hơn Điều đó gây ra một cảm tưởng sai lầm là máy móc cao cũng tạo ra giá trị thặng dư Khi phân tích nguồn gốc giá trị thặng dư do đâu sinh ra C.Mác đã đưa ra pham trì tư bản bất biến và tưi bản khả biến nhằm mục đích vạch trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân làm thuê

Nghiên cứu phạm trù tư bản khả biến của C.Mác giúp ta hiểu rằng máy móc dù hiện đại thế nào cũng chỉ là lao động quá khứ, nó phải được lao động sống “ cải tử hoàn sinh “ để biến thành nhân tố quá trình lao động

Việc nhân chia tư bản thành cố định và tư bản lưu động được đưa dựa trên phương thức dịch chuyển giá trị của tư bản vào sản phẩm để xem xét tốc

độ chu chuyển của tư bản sử dụng vốn cố định và vốn lưu động có hiệu quả

ởi vậy việc phân chia tư bản thành cố định và tư bản lưu động tuy không vạch trần bản chất bóc lột cửa giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân làm thuê nhưng lại là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để các nhà tư bản , các nhà đầu tư hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận cao nhất

*Tu n hoàn và chu chu n của tư bản

a Tuần hoàn của TB

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang 3 hình thái khác nhau, thực hiện 3 chức năng khác nhau

để rồi lại qua trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư (hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất)

3 giai đoạn

+ Giai đoạn 1 - giai đoạn lưu thông: T - H (tư bản tiền tệ)

Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, biến tư bản tiền tệ thành tư bản SX

+Giai đoạn 2 - giai đoạn sản xuất: H - H’ (tư bản sx)

T SX có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa mà trong giá trị của nó có giá trị thặng

dư Giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa

+ Giai đoạn 3 - giai đoạn lưu thông: H' - T' (tư bản HH)

T HH có chức năng thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất

ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư Trong giai đoạn này, nhà

Trang 9

tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền

Kết thúc giai đoạn thứ 3, TB HH chuyển hóa thành T Tiền tệ Đến đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước

=> Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tinh tuần hoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản

KL chung: Tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư

b Chu chuyển của tư bản

Sự tuần hòan của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi là chu chuyển của tư bản

Thời gian chu chuyển của TB bao gồm thời gian và thời gian lưu thông:

- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất Bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy mô hoặc chất lượng ; sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và tình trạng

dự trữ các yếu tố sản xuất

- Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Trong thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư

Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các nhân tố sau đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của vận tải và giao thông

Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau:

n = CH/ch Trong đó: (n) lả số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản; (CH) là thời gian trong năm; (ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản

Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chu chuyển trong năm là:

Trang 10

n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng iên pháp thúc đẩy tuần hoàn, tăng tốc chu chuyển Tuần hoàn:

+ Thời gian sản xuất: ứng dụng CN mới, hợp lý hòa quy trình sản xuất, sử dụng lao động tay nghề cao

+ Thời gian lưu thông: xử lý tốt vấn đề thị trường yếu tố đầu vào, ra; phân phối HH hiệu quả; thông tin liên lạc, vân chuyển

c Tư bản cố định và tư bản ưu động

Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động

- Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, v.v về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra

Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Có hai lại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:

+ Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế

+ Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị Hao mòn vô hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn Để tránh hao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc, v.v nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt

- Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động, V.V., giá trị của nó lưu thông toàn

bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất

*Tư bản thương nghiệp và ợi nhuận thương nghiệp

Tư bản thương nghiệp là một bô phận của tư bản công nghiệp được tách ra

và phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của tư bản công nghiệp (không bao giờ mang hình thái T SX)

Công thức: T - H – T’

- Nguồn gốc: phái sinh từ T thương nghiệp

- Lợi nhuận thương nghiệp là một phần của giá trị thặng dư được sáng tạo

ra trong lĩnh vực sản xuất và do nhà tư bản công nghiệp nhượng lại cho nhà tư

Trang 11

bản thương nghiệp, để nhà tư bản thương nghiệp thực hiện chức năng lưu thông

Trên thực tế, các nhà tư bản thương nghiệp thu lợi nhuận thương nghiệp từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán T thương nghiệp mua hàng của TB CN với giá thấp hơn giá trị, sau đó, T thương nghiệp lại bán hàng cho người tiêu dung với giá đúng giá trị của nó

- Nguồn gốc:

Hai phương pháp sản xuất GTTD và GTTD siêu ngạch

* Tuyệt đối => Kéo dài TG ngày lđ, giữ nguyên TG lđ tất yếu (tăng cường

độ lđ) >< giới hạn sức khỏe của người lao động, giới hạn thời gian tự nhiên

=> đấu tranh CN(gđ tích lũy nguyên thủy TB)

* Tương đối => Rút ngắn TG lđ tất yếu, giữ nguyên độ dài ngày lđ (tăng

NS lđ) => áp dụng KHKT vào sản xuất => giai đoạn phát triển của CNTB

Hai phương ph p sản uất gi trị thặng dư và gi trị thặng dư siêu ng ch

Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối

Sản xuất GTTD tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra GTTD được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và GTTD được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là GTTD tuyệt đối

- Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

Phương pháp sản xuất GTTD tương đối

Tăng năng suất lđ xã hội Tăng năng suất lđ cá biệt

Biểu hiện mối quan hệ các nhà

TB

Biểu hiện mqh các nhà T , giữa T vs người

công ngân

Trang 12

Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối

- Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm

vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội

- Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng

dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản

GTTD siêu ngạch

Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị củ biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó

- Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi Nhưng xét toàn

bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tứơng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối dều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao dộng xã hội)

Liên hệ thực tiễn Việt Nam

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất Đối với quá trình phát triển nền kinh

tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng

Trang 13

trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng và công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay Giá trị thặng dư là do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kết quả hoạt động của tư bản,của giai cấp tư sản Trong xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của con người công nhân không còn nữa, nhưng không có nghĩa là giá trị thặng dư không còn tồn tại

mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là cơ sở, tiền đề để xây đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì mục đích phát triển xã hội chủ nghĩa Vì con người không tách ra khỏi xu hướng của xã hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào công cuộc dây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình sản xuất phát triển kinh tế mỗi quốc gia

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế

xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là sử dụng một cách phổ biến công nghệ,phương tiện tiêu biểu,hiện đại hóa là quá trình tạo ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội Nội dung cốt lõi của công nghiệp hóa – hiện đại hóa là cải tiến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo thành sự đổi mới trong tất cả các ngành nghề lĩnh vực

Là một nước tiến lên xã hội chủ nghĩa và không qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản Vì vậy, chúng ta không được thừa kế tất cả những tiền đề nảy sinh một cách tự phát như những sáng tạo của người đi trước cho dù chúng chỉ là nhân tố vô cớ Điểm xuất phát để nhận thức tầm quan trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận điểm sản phẩm của lao động thừa vượt qua những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích lũy quỹ sản xuất xã hội và dự trữ “ tất cả những cái đó đã đang và sẽ mãi mãi vẫn là cơ sở cho mọi sự tiến bộ về xã hội, về chính trị và về tinh thần Nó sẽ là điều kiện

và động cơ kích thích sự tiến bộ hơn nữa” Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước tiểu nông cũng có nghĩa từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hóa mặc dù có sản xuất hàng hóa Cái thiếu của đất nước ta là chưa chải qua sự ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa

Đất nước ta đang đứng trước một nhiệm vụ cháy bỏng và tạo ra tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, đó là sự phát triển của sức sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa sẽ tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư dù chúng biểu hiện những quan hệ xã hội khác nhau Chúng ta không thể đạt được những mục

Trang 14

tiêu kinh tế ấy ngay trong thời gian ngắn mà phải rút ngắn những quá trình tất yếu mà chủ nghĩa tư bản đã phải trải qua và đang thực hiện để có một nền kinh tế thị trường như ngày nay Đó là một quá trình phát triển trải qua nhiều giai đoạn phân công lao động, khi khoa học công nghệ phát triển sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản đã diễn ra một cách tự phát

và tuần tự

Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay cần có phương hướng khai thác

và vận dụng những tư tưởng và các nguyên lý của học thuyết giá trị thặng dư một cách hiệu quả để đạt được những thành tựu mới đưa nền kinh tế đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cần phải nhận thức lại hàng hóa sức lao động không phải là phạm trù riêng có của chủ nghĩa tư bản và phạm trù giá trị thặng dư xét về mặt định lượng cũng vậy Nó tồn tại như một bước tiến của các xã hội mà ở đó năng suất lao động vượt khỏi lao động tất yếu của

họ Nó là nguồn gốc của tích lũy để mở rộng và hiện đại hóa sản xuất kinh doanh, là nguồn gốc của sự giàu có văn minh Chính nó đòi hỏi xã hội cần phải:

• Tìm mọi cách để tăng thời gian lao động thặng dư và nhất là tăng năng suất của lao động thặng dư

- Tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản của vốn khi đầu tư, và sử dụng nó Đó

là nguyên tắc bảo tồn vốn và nguyên tắc sinh lợi, nhất là nguyên tắc sinh lợi,

để cho một đồng vốn đầu tư sử dụng được tăng thêm giá trị

- Xây dựng đồng bộ các loại thị trường, kể cả thị trường sức lao động

- Vấn đề thu hồi giá trị thặng dư và định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cho phép bóc lột giá trị thặng dư đã được Lê Nin trình bày lý luận

và kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn vấn đề đặt cho chúng ta là :

+ Điều tiết một cách đúng đắn, đầy đủ, không để thất phần giá trị thặng

dư vào ngân sách nhà nước

+ Nhà nước sử dụng giá trị thặng dư được điều tiết sao cho có lợi đối với việc thực hiện mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”

+ Nhà nước phải đủ mạnh về thực lực kinh tế, năng lực quản lý và uy tín đối với xã hội

+ Ngăn chặn được những ma lực hút sự vận động của nền kinh tế đi lệch khỏi quỹ đạo xã hội chủ nghĩa Kết quả phát triển khả quan của Việt Nam cho thấy trong những năm vừa qua nước ta đã xác định đúng mục tiêu

và nhiệm vụ của mình Chúng ta đã đi đúng hướng trong phát triển kinh tế, con đường phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là hoàn toàn phù hợp nhưng cũng phải khẳng định rằng Việt Nam cần phải cố gắng nhiều hơn nữa thì mới có thể đạt được mục tiêu

Ngày đăng: 31/12/2021, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w