Đặc biệt,trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm sắp tới, 2021 – 2025, Đảng ta đã đề ra: “Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5năm, 2016 – 2020, đến
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Lớp: Truyền thông đa phương tiện Khoá: 40
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Khuyên
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍCH LUỸ TƯ BẢN 5
1 Những vấn đề chung về tích luỹ tư bản 6
2 Một số hệ quả của tích luỹ tư bản 10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÍCH LUỸ VỐN TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM 12
1 Vai trò của tích luỹ vốn đối với Việt Nam 12
2 Thực trạng tích luỹ vốn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ QUẢN LÝ TÍCH LUỸ VỐN TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 – 2025 15
1 Vai trò của tích luỹ vốn đối với Việt Nam 16
2 Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn 16
3 Tăng cường tích luỹ vốn trong nước và thu hút vốn nước ngoài 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, vốn luôn là nhân tố không thể thiếu, là bước đầu quyếtđịnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh Dựa vào nguồn vốn, người ta mớixác định được quy mô làm ăn, mặt hàng sản xuất và trao đổi Cũng từ cơ sởvốn, những vấn đề liên quan như đầu tư vào tư liệu sản xuất, hay thuê nhâncông lao động mới được quyết định Xét rộng ra, cơ cấu kinh tế của một quốcgia phụ thuộc không ít vào vốn Nguồn vốn ít hay nhiều quyết định phần lớnquy mô và sự phát triển của nền kinh tế Nói cách khác, để kinh tế phát triểnkhông thể không kể đến vai trò của sự gia tăng vốn Luận điểm này lại càngđược củng cố trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thực tiễn cho thấy, việc tích luỹ vốn hay tích luỹ tư bản chính là giải pháphiệu quả làm gia tăng nguồn vốn và góp phần thực hiện thành công chiến lượccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây không phải là một khái niệm mớiđối với nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam Các lý thuyết kinh tế từ Máccho đến những học thuyết kinh tế hiện đại đều kết luận rằng tích luỹ tư bảngiúp gia tăng đầu tư trong nền kinh tế và sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế Trongkhi đó, ở Việt Nam, tích luỹ vốn đã được nghiên cứu thực hiện từ sau đổi mới
và có tác động mạnh mẽ trở lại nền kinh tế trong 10 năm gần đây Cụ thể,GDP trong giai đoạn 2011 – 2015 đạt trên 5.9%/năm Trong giai đoạn tiếptheo, 2016 - 2019, chỉ số này tiếp tục đạt khá cao, ở mức trung bình6,8%/năm Đến năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịchCovid-19, thiên tai, lũ lụt nghiêm trọng ở miền Trung, tốc độ tăng trưởng bìnhquân 5 năm 2016 – 2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm và thuộc các nhóm nướctăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới Khu vực công nghiệp, xây dựng và
Trang 4dịch vụ tăng từ mức 82,6% tỷ trọng theo giá sản xuất trong GDP năm 2015 lên84,8% năm 2020.
Có thể nói, tích luỹ vốn là chủ đề đáng bàn luận khi nói về quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của một quốc gia Đặc biệt,trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm sắp tới, 2021 – 2025, Đảng
ta đã đề ra: “Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5năm, 2016 – 2020, đến năm 2025 là nước đang phát triển công nghiệp theohướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp”; “Tốc độ tăng trưởngtổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm khoảng 6,5% - 7%.” Đểđạt được những mục tiêu đó đòi hỏi không chỉ số lượng vốn mà còn ở nhữngchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quản lý tích luỹ vốn vàphân bổ nguồn vốn tích luỹ một cách hiệu quả Đây là lý do em lựa chọnnghiên cứu đề tài: “Tăng cường và quản lý tích luỹ vốn trong công nghiệphoá, hiện đại hoá ở Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã đề cập ở trên, tích luỹ vốn là một chủ đề được bàn luận khá sốinổi, đặc biệt, bàn về tích luỹ vốn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở ViệtNam, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu chuyên sâu, được đăng tải trêncác diễn đàn, tạp chí Trong số đó, nổi bật nhất phải kể đến:
Thứ nhất, tác phẩm “Tích tụ và tập trung vốn trong nước để công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Xuân Kiên, Nhà xuất bảnThống Kê, Hà Nội, 1997 Tác phẩm đã chỉ rõ nhu cầu về vốn đối với nền kinh
tế quốc gia trong phát triển công nghiệp, đồng thời đưa ra một số giải phápkhả thi thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong nước
Thứ hai, luận văn thạc sĩ kinh tế “Tăng cường nguồn vốn tích luỹ để côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” của tác giả NhanThanh Trong tác phẩm này, tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu về cơ
Trang 5sở lý luận của tích luỹ vốn, kinh nghiệm tích luỹ vốn của các nước phát triển,
và thực trạng vốn tích luỹ ở Việt Nam giai đoạn từ sau đổi mới đến năm 2010,qua đó, đưa ra những kiến nghị thiết thực về giải pháp tăng cường vốn tích luỹtrong giai đoạn sau
Các công trình trên đã đóng góp không nhỏ trong cung cấp cơ sở lý luận
và thực tiễn về tích luỹ vốn trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.Tuy nhiên, vì được thực hiện rất lâu về trước, những nghiên cứu này, trước sựthay đổi trong hoàn cảnh và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đấtnước, chưa thể cung cấp cái nhìn sát thực và tổng quan về vấn đề này tronggiai đoạn 2021 – 2035, một giai đoạn được dự đoán là đầy biến động Vì vậy,trên cơ sở định hướng, kế thừa, vận dụng các công trình khoa học trước đây,bài tiểu luận sẽ tìm ra các giải pháp tăng cường và quản lý nguồn vốn tích lũytrong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các mục tiêu sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận về tích luỹ vốn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Phân tích thực trạng tích luỹ vốn ở Việt Nam trong các giai đoạn trước
- Ðề xuất phương hướng và giải pháp để tăng cường và quản lý tích lũy vốn giai đoạn 2021 - 2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề tích luỹ vốn trong nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Phạm vi nghiên cứu là trên lãnh thổ nước ViệtNam, từ thực trạng tích luỹ vốn ở Việt Nam các giai đoạn trước, phươnghướng và giải pháp tăng cường và quản lý tích luỹ vốn đến năm 2025
5 Ý tưởng thực hiện đề tài
Trang 6Đề tài được thực hiện bắt đầu từ những vấn đề lý luận về tích luỹ tư bảnhay tích luỹ vốn để áp dụng vào phân tích thực trạng tích luỹ vốn trong côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong những giai đoạn trước, từ đó, đúckết ra phương hướng cho giai đoạn tiếp theo, 2021 – 2025.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng, trừu tượng hoá khoa học là phương pháp chủ đạo
- Phương pháp tổng hợp, thống kê
- Phương pháp đối chiếu so sánh
- Phương pháp logic – lịch sử
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo; nội dung của luận văngồm có 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tích luỹ tư bản
- Chương 2: Thực trạng về tích luỹ vốn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở việt nam
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường và quản lý tích luỹvốn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở việt nam giai đoạn 2021 – 2025
NỘI DUNGCHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍCH LUỸ TƯ BẢN
Như đã đề cập, tích luỹ tư bản (vốn) là một chủ đề đáng bàn luận và đãđược nghiên cứu từ lâu, trong các học thuyết kinh tế chính trị Mác – Lênincũng như những học thuyết kinh tế hiện đại Điểm chung về lý luận của nhữnghọc thuyết này là đều đi đến khẳng định rằng tích luỹ vốn sẽ góp phần đạt tăngtrưởng trong nền kinh tế Tuy nhiên, xét về sự đầy đủ và logic trong lý luận,
Trang 7cũng như những đòi hỏi của đất nước hiện nay, vận dụng và phát triển sángtạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi mặt của đờisống, lý luận của Mác về tích luỹ tư bản sẽ được phân tích và áp dụng cho đềtài.
1 Những vấn đề chung về tích luỹ tư bản
1.1 Bản chất của tích luỹ tư bản
Từ xưa đến nay, để tồn tại, con người đều cần được đáp ứng những nhucầu vật chất và tinh thần Để có đầy đủ tư liệu đáp ứng những nhu cầu ấy,chúng ta đều phải sản xuất, và theo đó, vì xã hội loài người không thể ngừngnhu cầu, nên cũng không thể ngừng lại quá trình sản xuất Các quá trình sảnxuất xã hội, xét theo tiến trình đổi mới không ngừng của nó, đồng thời cũng làquá trình tái sản xuất Quá trình này là tất yếu khách quan theo hai hình thức:tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Tái sản xuất giản đơn là quá trình tái sản xuất được lặp lại với quy mô như
cũ, đặc trưng cho nền sản xuất nhỏ Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuấtlặp lại với quy mô lớn hơn trước, đặc trưng cho nền sản xuất lớn
Chủ nghĩa tư bản từ trước đến nay luôn hướng tới sự lớn mạnh về quy mô
và sự gia tăng về giá trị Ắt hẳn, tái sản xuất giản đơn không phải là hình thứctái sản xuất điển hình của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, mà phải là tái sản xuất
mở rộng
Mặt khác, trong tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể dùng hết giátri thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá trị thặng dư đểtăng quy mô đầu tư so với năm trước, gọi là tư bản phụ thêm “Việc sử dụnggiá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển hóa hay sự chuyển hóa giá trị thặng
dư trở lại thành tư bản gọi là tích lũy tư bản” Nói tựu chung, tích lũy tư bản
là sự chuyển hóa một phần giá trị thăng dư trở lại thành tư bản, hay là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư.
Trang 8Ta có thể minh hoạ tích luỹ tư bản và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng ví
dụ sau:
Một nhà tư bản năm thứ nhất có quy mô sản xuất là 50c+20v+10m Trong
đó, 10m không bị tiêu dùng tất cả cho cá nhân mà được phân thành 5m1+5m2,5m2 dùng để tích luỹ, tiếp tục chia thành 2c2+2v2 Khi đó, quy mô sản xuấtcủa năm sau sẽ là 52c+22v+12m Như vậy vào năm thứ hai, quy mô tư bản bấtbiến và tư bản khả biến tăng đều lên tương ứng
Qua đó, ta nhận thức được rằng nguồn gốc duy nhất của tích luỹ tư bảnchính là giá trị thặng dư Điều này đồng thời cũng vạch rỏ bản chất bóc lột củaquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi:
Trong quá tình tái sản xuất, một phần của lãi được chuyển vào vốn, vốncàng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động không được trả công của người côngnhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính người côngnhân
Quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóabiến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa Nhà tư bản không nhữngchiếm đoạt một phần lao động của công nhân, mà còn sở hữu hợp pháp laođộng không công đó
1.2 Động lực của tích luỹ tư bản
Có thể nói, động lực của tích luỹ tư bản bắt nguồn từ tham vọng của giaicấp tư bản, luôn hướng tới sự gia tăng không ngừng của giá trị, chủ yếu quahai quy luật kinh tế khách quan
Trước hết là quy luật giá trị thặng dư, một trong những quy luật kinh tế cơbản của chủ nghĩa tư bản, có nội dung là sản xuất nhiều và ngày càng nhiềuhơn giá trị thặng dư bằng cách tăng cường độ bóc lột công nhân làm thuê.Thật vậy, ham muốn về giá trị thặng dư và lợi nhuận là vô hạn Trong khi đó,giá trị thặng dư không phải do buôn rẻ bán đắt, mà sinh ra trong quá trình sản
Trang 9xuất, là lao động không công của người công nhân Muốn có càng nhiều giá trịthặng dư thì phải liên tục tái sản xuất và tái sản xuất với số vốn tăng, mở rộngquy mô bóc lột sức lao động.
Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, sư canh tranh giưanhưng nguơi san xuât hang hoa, giưa nguơi san xuât va nguơi tieu dung la mọttât yêu khach quan, la yeu câu thuơng xuyen đôi vơi nhà sản xuất Theo đó,quy luật cạnh tranh đòi hỏi bất cứ ai muốn thao túng, hưởng lợi từ thị trườngphải mở rộng quy mô sản xuất Để quy mô được mở rộng, vốn đóng vai tròquyết định Đặc biệt, trong thời kì khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay,các nhà tư bản chạy đua đổi mới thiết bị máy móc, khiến yêu cầu về vốn luônđược đặt lên hàng đầu
Ở cả hai quy luật trên, nhà tư bản đều cần đến nguồn vốn Ắt hẳn, phương
án vay vốn sẽ được cân nhắc Tuy nhiên, tái sản xuất là một quá trình liên tục, và
mở rộng quy mô sản xuất cần một lượng vốn không hề nhỏ, nếu đi vay, chủ sảnxuất, sau đó, sẽ phải trả lại không chỉ số tiền mình đã vay mà thậm chí còn phầnlãi Vậy nếu các nhà tư bản muốn có vốn của riêng mình, cách duy nhất chính làtích luỹ tư bản
1.3 Các nhân tố quyết định quy mô tích luỹ tư bản
Khối lượng giá trị thặng dư và tỉ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư bảnphụ thêm và thu nhập là hai yếu tố quyết định chủ yếu quy mô của tích luỹ tưbản
Cụ thể, đối với tỷ lệ phân chia, nếu khối lượng giá trị thặng dư vào tiêudùng cá nhân tăng thì khối lượng giá trị dành cho tích lũy sẽ ít đi, khi đó quy
mô tích lũy sẽ giảm đi, và ngược lại
Trong trường hợp tỉ lệ phân chia đã được xác định thì quy mô của tích lũy
tư bản phụ thuộc hết vào khối lượng giá trị thặng dư Lúc này, những nhân tố
Trang 10quyết định quy mô tích lũy chính là những nhân tố quyết định quy mô củakhối lượng gía trị thặng dư, bao gồm:
1.3.1 Trình độ khai thác sức lao động
Trình độ này được phản ảnh qua tỷ suất giá trị thặng dư Mặt khác, tỷ suấtgiá trị thặng dư sẽ tạo tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư, từ đó, tạo điềukiện để tăng quy mô tích luỹ Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, các phươngpháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tương đối được nhà bản sử dụng.Thực tế, công nhân bị nhà tư bản chiếm đoạt không chỉ thời gian lao độngthặng dư mà còn một phần lao động tất yếu bằng cách cắt xén tiền công, tăngcường độ lao động hơn gấp đôi, gấp ba sức lực của họ
Bên cạnh những lợ ích thu được từ sức lao động, hao mòn vô hình và chiphí bảo quản máy móc, thiết bị được giảm đáng kể bởi nhà tư bản chưa cầnứng thêm tư bản để tiếp tục mua máy móc mà chỉ cần mua nguyên nhiên liệu
là có thể tăng được khối lượng sản xuất
1.3.2 Năng suất lao động xã hội
Khi năng suất lao động xã hội tăng lên, thời gian lao động tất yếu sẽ giảmxuống, khiến lương của công nhân cũng giảm theo, kéo theo cả sự giảm giá trịcủa sức lao động Giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng vì vậy mà cũngđồng thời giảm Từ đó, nhà tư bản thu được nhiểu giá trị thặng dư hơn Phầndành cho tích luỹ có thể tăng lên trong khi tiêu dùng của các nhà tư bản khônggiảm, thậm chí còn cao hơn trước đây, góp phần làm tăng quy mô của tích luỹ
1.3.3 Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động tham gia toàn bộ vào quá trìnhsản xuất, song giá trị của chúng chỉ được tính dần vào gái trị của sản phẩmqua khấu hao Vì vậy, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêudùng
Trang 11Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt động,máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị Do đó, nếu không kể đếnphần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máymóc phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên Sự phục vụ khôngcông của máy móc càng lớn, tư bản lợi dụng được những thành tựu của laođộng quá khứ càng nhiều Sự phục vụ không công đó được lao động sống nắmlấy và làm cho chúng hoạt động Chúng được tích luỹ lại cùng với tăng quy
mô tích luỹ tư bản
Đồng thời, sự lớn lên không ngừng của quỹ khấu hao trong khi chưa cầnthiết phải đổi mới tư bản cố định cũng trở thành nguồn tài chính có thể sửdụng để mở rộng sản xuất
1.3.4 Quy mô của tư bản ứng trước
Trong một thị trường thuận lợi, hàng hoá luôn bán được, tư bản ứng trướccàng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy mô tích luỹ
Cụ thể, với trình độ khai thác sức lao động không thay đổi, khối lượng giátrị thặng dư được quyết định bởi lượng tư bản ứng trước, đặc biệt là tư bảnkhả biến Bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dưbóc lột được càng lớn, do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích luỹ tưbản
Từ bốn nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản, ta thấy để tăng quy
mô tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năngsuất lao động, sử dụng triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy môvốn đầu tư ban đầu
2 Một số hệ quả của tích luỹ tư bản
2.1 Tích luỹ tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản
Theo C.Mác, “Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị được quyết địnhbởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biến đối của cấu tạo kỹ thuật của tư bản