1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trade openness and inflation the role of

50 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trade Openness And Inflation: The Role Of Real And Nominal Price Rigidities
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: các tác động của mở cửa thương mại và thị trường cạnh tranhsản phẩm trên mức độ cứng nhắc giá thực tế, tác động của mở cửa thươn

Trang 1

BÀI LÀM NHÓM 4

A. Phần trả lời câu hỏi

I. Vấn đề nghiên cứu và lý do chọn bài “Trade openness and inflation: The role of real and nominal price rigidities”

1. Vấn đề nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến lạm phát trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2. Lý do chọn đề tài:

Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang phủ sóng trên toàn thế giới, bên cạnh cáclợi ích đạt được, những tranh luận xung quanh tác động đi kèm của mở cửa thươngmại đến lạm phát vẫn không ngừng diễn ra Đối với bất kỳ nền kinh tế nào, lạm phátluôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các chính sách và chiếnlược phát triển Khi hội nhập ngày càng gia tăng, các biến số kinh tế vĩ mô sẽ khôngngừng bị tác động và biến đổi Để việc xây dựng và kiểm soát chính sách tiền tệ tối ưunhất có thể, các nhà làm luật phải hiểu rõ những tác động quan trọng này, nhằm đưa ranhững quyết định lựa chọn và đánh đổi Bài nghiên cứu “Trade openness and inflation:The role of real and nominal price rigidities” (Tạm dịch: Mở cửa thương mại và lạmphát: Vai trò của giá cứng nhắc thật và danh nghĩa) đã thể hiện khá tốt vấn đề này.Bằng việc đi sâu vào nghiên cứu tác động của mở cửa thương mại lên hai mặt là chiếnlược giá và lạm phát, bài nghiên cứu đã đem lại những phân tích cặn kẽ, thuyết phục

và đầy khoa học, giúp chúng ta hiểu rõ và có cái nhìn chính xác hơn trước vấn đề đangđược quan tâm này

II. Cấu trúc một bài nghiên cứu

Tên đề tài

A. Phần mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

- Trả lời câu hỏi: Vì sao lại nghiên cứu vấn đề này?

Khách quan: Lý luận và thực tiễn

Chủ quan: Thực trạng nơi tác giả nghiên cứu, nhu cầu, hứng thú, trách nhiệm của tác giả khi nghiên cứu vấn đề đó

- Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

- Trả lời câu hỏi: Nghiên cứu để làm gì? Nhằm vào việc gì? Để phục vụ cho điều gì?

Trang 2

- Cái đích mà đề tài nghiên cứu hướng đến, là vấn đề trung tâm xuyên suốt đề tài.

- Là bản chất của sự vật, hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

a. Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu cái gì?

- Là những hiện tượng thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

b. Khách thể nghiên cứu

- Nghiên cứu ai?

- Những cá nhân, nhóm xã hội chứa đựng vấn đề cần nghiên cứu

4. Giả thuyết nghiên cứu

- Giả định về kết quả của vấn đề nghiên cứu

- Giả thuyết: những dự đoán có căn cứ khoa học về những đặc điểm, bản chất, mối liên

hệ của các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu hay dự đoán về kết quả nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng trên cơ sở mục đích đã xác định Hướng đến giải quyết những công việc cụthể và là thành phần của mục đích nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận

- Nghiên cứu thực tiễn: phù hợp với nội dung nghiên cứu thực tiễn của đề tài

- Kết luận, kiến nghị, giải pháp thực hiện

6. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra (phỏng vấn, trưng cầu ý kiến, phiếu điều tra )

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (nghiên cứu bài tập, bài kiểm tra của học sinh )

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp thống kê toán học

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.3 Các đặc điểm cơ bản của đối tượng và khách thể nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu

2.1 Khảo sát thực trạng

- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, cấu trúc bảng hỏi

- Triển khai điều tra như thế nào, xử lý thống kê như thế nào

- Mẫu nghiên cứu

2.2 Nguyên nhân của thực trạng

2.3 Giải pháp thực hiện

Trang 3

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

- Biện pháp triển khai áp dụng vào thực tiễn

- Khuyến nghị, đề xuất hướng phát triển đề tài

III. Phân tích bài nghiên cứu theo cấu trúc chung

Tên đề tài: “Trade openness and inflation: The role of real and nominal

- Chủ quan: nhận ra được nhược điểm của các nghiên cứu trước là bỏ qua độngthái điều chỉnh giá của các doanh nghiệp để đối phó với mở cửa thương mại; nhậnthức được tầm quan trọng của mối quan hệ này trong việc thiết kế, tối ưu và điều hànhchính sách tiền tệ

• Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cùa đề tài:

- Cung cấp hiểu biết mới về giá thực tiễn và danh nghĩa, giải thích mối quan hệtích cực của cạnh tranh và tần suất điều chỉnh giá của doanh nghiệp

- Bằng cách xác định các ảnh hưởng của cạnh tranh lên hành vi định giá củadoanh nghiệp, nó làm sáng tỏ về tác động của mở cửa thương mại lên đường congPhillips và sự đánh đổi giữa lạm phát và sản lượng

4.2 Mục đích nghiên cứu

Phát triển một mô hình Keynes mới được xây dựng dựa trên khuôn khổ nềnkinh tế mở Nắm bắt được những ảnh hưởng của sự cạnh tranh lên chính sách giá cả

Trang 4

của các công ty Giải thích cho sự tác động tiêu cực của sự mở cửa thương mại lêntrạng thái ổn định của doanh nghiệp Làm rõ xác suất của một sự thay đổi giá cảtrong một thời gian nhất định không phải là ngoại sinh, như thường được giả định,

mà phải tuân theo các quyết định tối ưu của doanh nghiệp

4.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các tác động của mở cửa thương mại và thị trường cạnh tranhsản phẩm trên mức độ cứng nhắc giá thực tế, tác động của mở cửa thương mại và cạnhtranh lên tần suất điều chỉnh giá, ảnh hưởng của cạnh tranh lên tần số thay đổi giátrong mô hình cân bằng năng động với cứng nhắc thực và nhiều giao dịch diễn ra

- Khách thể nghiên cứu: các doanh nghiệp, hộ gia đình, các kết hợp nhu cầu, chínhsách tiền tệ

4.4 Giả thuyết nghiên cứu:

- Giả định về kết quả nghiên cứu: mức độ bổ sung chiến lược trong các quyết địnhđịnh giá của một công ty tỉ lệ thuận với độ co giãn của cầu theo giá Lợi nhuận củamột công ty nhạy cảm hơn với những thay đổi trong mức giá tương đối so với dữ liệutiêu thụ Dixit–Stiglitz được thu thập với độ co giãn của cầu theo giá là hằng số Mốiquan hệ tiêu cực giữa cạnh tranh và mức tăng giá mong muốn của một công ty: khi sốlượng công ty nước ngoài trong thị trường nội địa tăng từ 0 lên 1, tương ứng với mứctăng 100% các hoạt động giao dịch trong nền kinh tế, mức tăng giá ổn định giảm từ 36xuống 3 phần trăm trong hiệu chuẩn cơ sở và 31 xuống 8 phần trăm trong hiệu chuẩnthay thế

- Giả thuyết được sử dụng: mô hình của Smets và Wouters (2007), quy tắc Taylor(1993), hệ số co giãn cung lao động Frisch (φ), nghiên cứu của Dossche et al (2010), 4.5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phát triển một mô hình Keynes mới được xây dựng dựa trên khuôn khổ nền kinh tế

mở với sự thiết lập giá so le được phát triển bởi Clarida et al (2002), Gali vàMonacelli (2005) Để nắm bắt được những ảnh hưởng của sự cạnh tranh lên chínhsách giá cả của các công ty, các mô hình đề xuất khởi hành từ hai giả định tiêu chuẩnđược sử dụng trong mô hình Keynes mới Đầu tiên, mô hình mở rộng của các tập hợp

dữ liệu tiêu thụ được đề xuất bởi Kimball (1995) đến một môi trường kinh tế mở vớicác giao dịch hàng hoá đa dạng Các tổ hợp tiêu thụ được đặc trưng bởi hệ số co giãn

Trang 5

của cầu theo giá không đổi, tạo ra sự bổ sung chiến lược trong các quyết định thiết lậpgiá của các công ty trong đó mức giá tối ưu của một công ty phụ thuộc tích cực về giátính bởi đối thủ cạnh tranh của nó Nó cũng giải thích cho sự tác động tiêu cực của sự

mở cửa thương mại lên trạng thái ổn định của doanh nghiệp của các công ty Tần suấtđiều chỉnh giá là nội sinh, các doanh nghiệp tự định giá của họ như trong Calvo(1983); Tuy nhiên, xác suất của một sự thay đổi giá cả trong một thời gian nhất địnhkhông phải là ngoại sinh, như thường được giả định, mà phải tuân theo các quyết địnhtối ưu của doanh nghiệp

4.6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp thống kê toán học

5.2 Tần suất điểu chỉnh giá nội sinh: nghiên cứu xem xét đến 3 khía cạnh: quyết địnhđịnh giá của công ty, những yếu tố quyết định đến tần suất điều chỉnh giá tối ưu, mốiquan hệ giữa cạnh tranh và cứng nhắc danh nghĩa, một số yếu tố khác tác động đếntuần suất điều chỉnh giá, cạnh tranh và tác động của nó lên đường cong Phillips

6 Kết luận và kiến nghị

6.1 Kết luận:

Bài viết đã xem lại câu hỏi lâu dài về tác động của mở cửa thương mại trên sự đánhđổi lạm phát đầu ra có tính đến những tác động củac tranh trên sự linh hoạt gía.Nghiên cứu phát triển một mô hình cân bằng động Keynesian mới với hệ số giãn củacầu theo giá không đổi và cơ chế điều chỉnh giá Calvo có tần suất điều chỉnh giá nội

Trang 6

sinh Nó chứng tỏ rằng mở cửa thương mại có hai tác dụng đối lập đến sự nhạy cảmcủa lạm phát với biến động sản lượng Một mặt, nó làm tăng tính bổ sung chiến lượctrong quyết định giá của các công ty và cứng nhắc giá thực tế, điều đó làm cho lạmphát ít nhạy cảm với những thay đổi trong chi phí biên thực Mặt khác, nó khích lệ cáccông ty điều chỉnh giá của họ, do đó làm giảm mức độ cứng nhắc giá danh nghĩa vàtăng sự nhạy cảm của lạm phát với những thay đổi trong chi phí biên Nghiên cứu giảithích mối quan hệ tích cực giữa cạnh tranh và tần suất điều chỉnh giá quan sát thấytrong các dữ liệu Nó cũng cung cấp những hiểu biết mới về tác động của hội nhậpkinh tế toàn cầu trên Phillips Curve.

6.2 Kiến nghị: Bài nghiên cứu đã đơn giản hoá mô hình nghiên cứu, không tính đếntác động của những yếu tố khác đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến mối quan

hệ này Trong tương lai, tác giả mong muốn mối quan hệ này được nghiên cứu mộtcách toàn diện trong khuôn khổ rộng hơn, có kể đến ảnh hưởng của các yếu tố tácđộng khác, và xác định được cụ thể tầm quan trong tương đối của các yếu tố đó lênmối quan hệ này

7 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 167-169

8 Phụ lục

Trang 159-169

IV. Ý chính nội dung mỗi phần

Bài viết gồm có 7 phần, tóm tắt ý chính của mỗi phần như sau:

 Phần 1&2: Giới thiệu và tài liệu liên quan

Bài nghiên cứu đã xem xét lại một câu hỏi tồn tại khá lâu về tác động của mở cửathương mại đến sự đánh đổi giữa lạm phát – đầu ra bằng việc giải thích ảnh hưởng củacạnh tranh trên thị trường đến độ biến động giá Nghiên cứu đã phát triển mô hình cânbằng động ngẫu nhiên tổng quát đối với nền kinh tế mở New-Keynesian, có độ co giãncầu theo giá thay đổi và định giá Calvo, trong đó tần số điều chỉnh giá là nội sinh Nócho thấy mở cửa thương mại có hai tác động trái ngược đến độ nhạy của lạm phát lênbiến động sản lượng Một mặt, nó làm tăng mức độ bổ sung chiến lược trong các quyết

Trang 7

định về giá của doanh nghiệp và mức độ cứng nhắc giá thực, điều làm giảm các phảnứng của lạm phát trước những thay đổi trong chi phí biên Mặt khác, nó khiến doanhnghiệp gia tăng việc điều chỉnh giá, từ đó làm giảm mức độ cứng nhắc của giá danhnghĩa và tăng độ nhạy của lạm phát trước những thay đổi trong chi phí biên Nghiêncứu đã giải thích được mối quan hệ giữa cạnh tranh và tần số điều chỉnh giá được quansát trong các dữ liệu Nó cũng cung cấp những hiểu biết mới về tác động của hội nhậpkinh tế toàn cầu trên đường cong Phillips.

 Phần 3 Mô hình

Để phát triển các mục đích nghiên cứu, phần 3 đưa ra các mô hình và công thức đolường liên quan, xoay quanh các yếu tố doanh nghiệp, hộ gia đình, tổng cầu và chínhsách tiền tệ Qua đó, cho thấy tính đúng đắn của các mô hình và học thuyết đề ra vànhững nhân tố tác động, ảnh hưởng đến việc hình thành giá cả

Với giả thiết xác suất điều chỉnh giá trong một thời kì xác định là một biến ngoạisinh, thông qua các mô hình và công thức, người ta đã chứng minh được rằng sự cogiãn của cầu theo giá và giá cả của đối thủ cạnh tranh sẽ tác động mạnh mẽ đến cácchiến lược giá của các công ty Mặt khác, thông qua các chính sách tiền tệ, mục tiêu tối

đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp và tối ưu hóa hữu dụng của những hộ gia đình,với nguồn tài nguyên hạn chế đã tạo nên sự cân bằng trong nền kinh tế thế giới

 Phần 4 Tham số hoá

Các thông số đươc qui định dựa trên mô hình của Smets và Wouters (2007),

nghiên cứu của Dossche et al (2010) và các lí thuyết kinh tế nền tảng

Kết luận: Trong trường hợp đường cầu lõm và có bổ sung chiến lược liên quantrong quyết định định giá của công ty, độ co giãn của cầu theo giá của một công ty làmột hàm tăng theo mức giá tương đối và phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh của nềnkinh tế

 Phần 5 Cạnh tranh và cứng nhắc thực tế

Nếu công ty thực hiện việc bổ sung chiến lược trong các quyết định định giá của

họ, lạm phát trong nước không chỉ phụ thuộc vào chi phí biên mà còn phụ thuộc vàomức giá tương đối của hàng hoá nhập khẩu

Trang 8

Nền kinh tế càng mở thì phản ứng của chỉ số giá trong nước với những cú sốc trongnước tương đối yếu hơn và phản ứng của nước ngoài đa dạng và mạnh mẽ hơn so vớinhững nền kinh tế ít mở cửa Tuy nhiên, ảnh hưởng của sự thay đổi mức độ cởi mở củanền kinh tế lên lạm phát rõ rệt hơn nếu sự thay đổi của hệ cầu theo giá không phải làhằng số và tồn tại động thái điều chỉnh chiến lược của công ty do sự gia tăng hiệu ứngcạnh tranh bởi quá trình hội nhập.

 Phần 6

Cú sốc nền kinh tế tác động đến nền kinh tế làm giảm chi phí cơ hội khi độ lệchchuẩn giảm Dẫn đến sự sụt giảm trong thị phần công ty giảm Sự điều chỉnh giá haybất cứ yếu tổ ảnh đều làm mức độ và biên độ của làm phát thay đổi Từ đó, làm thayđổi giá mong muốn

Sự gia tăng mở cửa thương mại và các áp lực cạnh trạnh mà các doanh nghiệp phảiđối mặt dẫn đến gia tăng tính đàn hồi của lạm phát đối với giá tương đối của hàng hóatrong nước và xuất khẩu Khi một nền kinh tế khép kín, các doanh nghiệp có sức mạnhthị trường cao hiệu quả là các doanh nghiệp nhỏ và tiêu cực

Để tăng hiệu quả thương mại khi mở cửa, cần tăng tần suất hiệu chỉnh giá kết hợpvới hội nhập hơn là gia tăng mức độ cứng nhắc thực tế Mức độ lạm phát phụ thuộcvào mức độ mở cửa ban đầu và sự canh tranh

 Phần 7

Áp lực cạnh tranh tác động mạnh đến sự mở cửa thương mại dẫn đến lạm phát,tăng độ nhạy của giá lợi nhuận tối đa của các công ty Mức độ cạnh tranh và mức độliên quan bổ sung chiến lược ảnh hưởng đến đến chi phí cơ hội của công ty nếu khôngđiều chỉnh giá

Có hai lực lượng khác nhau trong công việc:

- Cạnh tranh lớn hơn và mức độn cứng nhắc giá thực cao hơn dẫn đến độ lệch trungbình của công ty thấp hơn giá tối ưu so với giá thực tế của họ

- Độ đàn hồi giá ở trạng thái ổn định cao và tính đàn hồi các nhu cầu liên quan đếncạnh tranh lớn hơn làm tăng chi phí cơ hội của lợi nhuận thu được nhưng có mức giámong muốn

Loại lực lượng thứ hai hiệu quả hơn

Trang 9

Hạn chế nghiên cứu này là các mô hình phát triển trên các thông số của các quytắc chính sách tiền tệ được giả định là ngoại sinh và độc lập với các thông số củađường Philip.

Trong tương lai nghiên cứu này mong muốn được dùng để kiểm tra tác độngcủa mở cửa thương mại về linh hoạt giá cùng các kênh khác trong khuôn khổ chophép

B. Phần dịch

Trade openness and inflation: The role of real and

nominal price rigidities

Anna Watson *

Faculty of Economics and Fitzwilliam College, University of Cambridge,

Storey’s Way, Cambridge CB3 0DG, UK

1. Giới thiệu

Sự gia tăng đáng kể trong hội nhập kinh tế toàn cầu những thập kỷ gần đây đãkhởi xướng một cuộc tranh luận nóng về tác động của mở cửa thương mại đến lạmphát và sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và sản lượng Hiểu được tác động này làrất quan trọng trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ một cách tối ưu, đềtài này đã thu hút sự quan tâm lớn không chỉ giữa các học giả mà còn ở các nhà làmchính sách

Một trong những yếu tố quyết định đến độ nhạy của lạm phát với những thayđổi trong hoạt động kinh tế trong nước là mức độ cứng nhắc của giá danh nghĩa, phụthuộc vào tần số thay đổi giá của doanh nghiệp Các nghiên cứu trước đây phân tíchnhững tác động của hội nhập thương mại lên lạm phát bằng việc sử dụng các mô hìnhkinh tế vĩ mô đã giả định rằng tần số điều chỉnh giá là không đổi, do đó bỏ qua sự thật

về những thay đổi trong mở cửa kinh tế cũng như những thay đổi gây ra sự cạnh tranhảnh hưởng đến chính sách giá của các doanh nghiệp Đây là một thiếu sót lớn trongcác cuộc điều tra về hành vi điều chỉnh giá của các doanh nghiệp cũng như các nghiên

Trang 10

cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu phân tách giá, cho thấy bằng chứng về một mối quan

hệ khả quan giữa mức độ cạnh tranh và tần số thay đổi giá cả Thông qua mô hình kinh

tế mở New-Keynes, nghiên cứu này đã khắc phục thiếu sót đó bằng cách kiểm tra tácđộng của mở cửa thương mại và cạnh tranh của thị trường hàng hóa đến độ biến động

về giá và tác động của chúng đối với lạm phát động

Sự đóng góp của bài nghiên cứu này là gấp đôi Thứ nhất, nghiên cứu này cungcấp hiểu biết mới về yếu tố quyết định của giá cả cứng nhắc thực và danh nghĩa, vàđặc biệt, nó giải thích được mối quan hệ khả quan giữa cạnh tranh và tần số điều chỉnhgiá được quan sát trong các dữ liệu Thứ hai, bằng cách giải thích tác động của cạnhtranh đến hành vi điều chỉnh giá của các doanh nghiệp, nghiên cứu đã làm sáng tỏ tácđộng của mở cửa thương mại lên đường cong Phillips và sự đánh đổi giữa lạm phát –sản lượng

Về mục đích của việc phân tích, bài nghiên cứu đã phát triển mô hình Keynes DSGE được xây dựng dựa trên mô hình kinh tế mở với việc thiết lập mức giáchồng chéo, được phát triển bởi Clarida et al (2002) và Gali và Monacelli (2005) Đểnắm bắt được những ảnh hưởng của sự cạnh tranh lên chính sách giá của các doanhnghiệp, mô hình được đề xuất bắt đầu từ hai giả định tiêu chuẩn được sử dụng trong

New-mô hình cân bằng tổng quát nền kinh tế mở New-Keynes Đầu tiên, với phép tiêu thụgộp thông dụng Dixit-Stiglitz, chỉ ra hàm sản xuất với độ co giãn thay thế không đổigiữa các loại hàng hóa đặc biệt, mô hình đã giới thiệu một phần mở rộng của các tậphợp dữ liệu tiêu thụ được đề xuất bởi Kimball (1995) đến một môi trường kinh tế mởvới một số biến số của lượng hàng hóa ngoại thương Các phép tiêu thụ gộp được đặctrưng bởi độ co giãn theo giá không cố định của cầu, tạo ra sự bổ sung chiến lượctrong các quyết định thiết lập giá của các doanh nghiệp trong đó mức giá tối ưu củamột doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào giá đưa ra bởi các đối thủ cạnh tranh khác

Nó cũng giải thích tác động tiêu cực của mở cửa thương mại đến trạng thái tăng giá ổnđịnh của các doanh nghiệp Thứ hai, tần số điều chỉnh giá là nội sinh Các doanhnghiệp tự định giá của họ như trong Calvo (1983); Tuy nhiên, xác suất của sự thay đổigiá trong một khoảng thời gian nhất định không phải là ngoại sinh như thường đượcgiả định, nhưng phải tuân quyết định tối ưu của các doanh nghiệp

Trang 11

Trong mô hình đã phát triển, mức độ cạnh tranh được định nghĩa bởi tổng sốtiêu dùng trong nước Hội nhập thương mại, kết hợp với sự gia tăng về sự đa dạngtrong lượng hàng nhập khẩu, dẫn đến một mức độ cạnh tranh cao hơn mà các doanhnghiệp phải đối mặt Mức độ cạnh tranh ảnh hưởng đến trạng thái ổn định giá trong độ

co giãn về cầu và có xu hướng giá tăng, lần lượt xác định được mức độ bổ sung chiếnlược của các doanh nghiệp trong các quyết định về giá, thúc đẩy các doanh nghiệpđiều chỉnh giá của họ

Các phân tích cho thấy mở cửa thương mại có hai tác động trái ngược nhautrong việc tối ưu giá của các doanh nghiệp và lạm phát Một mặt, hội nhập thương mại

và cạnh tranh gia tăng sự bổ sung mang tính chiến lược trong quyết định giá của cácdoanh nghiệp và độ cứng nhắc giá thực, làm lạm phát bớt nhạy hơn trước những thayđổi trong điều kiện kinh tế trong nước Mặt khác, áp lực cạnh tranh lớn càng làm tăngchi phí cơ hội của việc không điều chỉnh giá, dẫn đến thay đổi giá thường xuyên hơn,giảm độ cứng nhắc của giá danh nghĩa và khiến lạm phát nhạy cảm hơn với các cú sốc.Tác động tổng thể của những thay đổi trong việc đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát- đầu

ra phụ thuộc vào mức độ ban đầu của cạnh tranh và sự mở cửa nền kinh tế Dựa vào

đó, bài viết này giải thích điều mà các nghiên cứu trước đây không thể tìm ra trongviệc nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa mở cửa thương mại và việc đánh đổi lạmphát - đầu ra

Dựa trên sự có mặt các bổ sung mang tính chiến lược trong quyết định về giácủa doanh nghiệp, lạm phát quốc gia phụ thuộc vào hai yếu tố: chi phí biên thực và giátương đối của hàng hóa trong nước và nhập khẩu Tỷ lệ giá trong nước và giá nhậpkhẩu ảnh hưởng đến giá cả được quyết định bởi doanh nghiệp cùng với tác động của

nó thông qua các kênh chi phí biên vì nó ảnh hưởng đến độ co giãn cầu về giá củadoanh nghiệp và giá tăng kỳ vọng của họ Mở cửa thương mại làm ảnh hưởng độ nhạycủa lạm phát đến cả chi phí cận biên và giá tương đối quốc tế Sự gia tăng hội nhậpthương mại và số lượng các mặt hàng đa dạng có sẵn trên thị trường trong nước làmtăng trạng thái ổn định của giá trong độ co giãn cầu và làm giảm giá tăng kỳ vọng của

họ Nó cũng làm tăng độ nhạy của giá tối đa hóa lợi nhuận đối với giá ấn định bởi cácđối thủ cạnh tranh Điều này mang hai ý nghĩa đối với các quyết định về giá của doanhnghiệp Đầu tiên, trong một nền kinh tế ngày càng mở, sẽ càng tốn kém cho các doanh

Trang 12

nghiệp trong việc điều chỉnh giá ở một thời gian nhất định khác với giá được quyếtđịnh bởi các doanh nghiệp không điều chỉnh giá Kết quả là, sau những thay đổi trongchi phí biên thực, họ điều chỉnh giá ít hơn.Việc gia tăng giá cứng nhắc thực làm lạmphát phản ứng ít hơn trước những thay đổi trong những điều kiện kinh tế trong nước và

sự thoải dốc của đường cong Phillips Thứ hai, trong một nền kinh tế càng mở, chi phí

cơ hội sẽ càng tăng trước bất kỳ độ lệch nhất định đối với giá tối đa hóa lợi nhuận củadoanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giá thường xuyên hơn Điều này sẽ làm tăngphản ứng của lạm phát trước những thay đổi trong chi phí cận biên và làm cho cácđường cong Phillips dốc hơn Tác động tổng thể của mở cửa thương mại trong mốiquan hệ giữa chi phí biên -lạm phát và độ dốc của đường cong Phillips là rất mơ hồ.Đồng thời, hội nhập thương mại có tác động tích cực vào độ nhạy của lạm phát với giátương đối của hàng hóa trong nước và nhập khẩu Khi số lượng nhập khẩu của nềnkinh tế trong nước gia tăng, giá ấn định bởi đối thủ cạnh tranh nước ngoài trở nên quantrọng hơn trong việc xác định mức giá tối ưu của doanh nghiệp trong nước, dẫn đếnlạm phát trong nước trở nên nhạy cảm hơn trước những thay đổi giá tương đối quốc tế

Phần còn lại của bài viết được bố trí như sau Phần 2 thảo luận về các tài liệuliên quan và bài nghiên cứu này đóng góp vào đó như thế nào Phần 3 đưa ra nhữngphiên bản cơ bản của mô hình đã được phát triển cho mục đích phân tích, trong đó tần

số điều chỉnh giá được giả định là ngoại sinh Phần 4 thảo luận về việc hiệu chỉnh cácthông số của mô hình Phần 5 phân tích tác động của cạnh tranh lên mức độ cứng nhắccủa giá thực tế và đường cong Phillips Trong phần 6, các mô hình cơ sở được mở rộngbởi tần số điều chỉnh giá nội sinh Tác động của cạnh tranh và đặc điểm cấu trúc kháccủa nền kinh tế lên việc tối ưu hóa tần số điều chỉnh giá sau đó được phân tích và tácđộng tổng thể của mở cửa thương mại đối với lạm phát sẽ được thảo luận Phần 7 đưa

ra kết luận và đề xuất cho các nghiên cứu sau này

2. Tài liệu liên quan

Kể từ chuyên đề nghiên cứu của Romer (1993), các câu hỏi về tác động của mởcửa thương mại đến lạm phát và sự đánh đổi giữa lạm phát – đầu ra đã nhận đượcnhiều chú ý trong các tài liệu kinh tế vĩ mô Các kết quả của nghiên cứu này là vẫn cònrất khó kết luận Các học thuyết thực nghiệm và lý thuyết đã chỉ ra một số yếu tố cóảnh hưởng đến mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và độ nhạy của lạm phát đến

Trang 13

biến động sản lượng Chúng bao gồm cấu trúc của thị trường hàng hóa và lao động(Bowdler và Nunziata, 2010; Daniels và VanHoose, 2006), chế độ chính trị (Caporale

và Caporale, 2008), cơ chế tỷ giá hối đoái (Bowdler, 2009), chi phí thương mại(Cavelaars, 2009), dịch chuyển vốn (Daniels và VanHoose, 2009), tầm quan trọng củahàng hóa nhập khẩu trong sản xuất (Pickering và Valle, 2012) và tỷ giá hối đoái qualại(Daniels và VanHoose, 2013) Bài viết này góp phần vào việc nghiên cứu bằng cáchgiải thích các tác động của mở cửa thương mại và hệ quả thay đổi trong thị trườnghàng hóa cạnh tranh lên sự biến động về giá trong mô hình kinh tế mở DSGE củaNew-Keynesian Nó chỉ ra rằng khi mở cửa thương mại đã tác động chống lại mức độcứng nhắc giá thực và danh nghĩa, ảnh hưởng của nó đến sự đánh đổi giữa lạm phát –đầu ra khá mơ hồ về mặt lý thuyết và phụ thuộc vào mức độ ban đầu của sự mở cửa vàcạnh tranh trong nền kinh tế

Trong mô hình New-Keynes, độ nhạy của lạm phát trong nước đối với những thayđổi hoạt động kinh tế trong nước phụ thuộc vào hai yếu tố: độ co giãn của lạm phátliên quan đến chi phí biên thực và độ nhạy của chi phí biên thực đến sự thay đổi chênhlệch sản lượng Độ co giãn của lạm phát liên quan đến chi phí biên thực lần lượt phụthuộc vào tần số điều chỉnh giá, yếu tố phản ảnh mức độ cứng giá danh nghĩa, sự phảnứng của chính sách giá tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp trước những thayđổi về chi phí biên thực, yếu tố được quyết định bởi độ cứng nhắc giá thực Các nghiêncứu trước đây đã kiểm tra các tác động của mở cửa thương mại đến sự đánh đổi giữalạm phát – đầu ra dựa trên các mô hình kinh tế vĩ mô với việc thiết lập giá chồng chéo,tập trung đến cả tác động của hội nhập thương mại lên độ nhạy của chi phí biên vớichênh lệch sản lượng (ví dụ như Binyamini và Razin năm 2008; Gali và Monacelli,2005; Pickering và Valle, 2012; Woodford, 2010) và tác động của nó đến các phản ứngcủa giá tối ưu của doanh nghiệp trướcsự thay đổi của chi phí biên và độ cứng nhắc giáthực liên quan (Benigno và Faia, 2010; Guerrieri et al.,năm 2010; Sbordone, 2010).Đây là nghiên cứu đầu tiên nhận thấy ảnh hướng hội nhập thương mại và những thayđổi hệ quả trong cạnh tranh với tần số điều chỉnh giá của các doanh nghiệp

Phần đầu tiên của bài viết xem xét tác động của mở cửa thương mại và cạnhtranh của thị trường hàng hóa về độ cứng nhắc của giá thực tế Mối quan hệ này trướcđây đã được nghiên cứu bởi Sbordone (2010), Guerrieri et al (2010) và Benigno và

Trang 14

Faia (2010) Tuy nhiên, bài viết này lần đầu tiên phân tích nó trong một mô hình cânbằng chung Ngoài ra sẽ có một số khác biệt quan trọng khác Trong độ cứng nhắcthực của Sbordone (2010) và Guerrieri et al (2010) đều là do sở thích của các hộ giađình chỉ ra độ co giãn của cầu về giá không cố định, như trường hợp trong bài viết này.Tuy nhiên, phân tích Sbordone được dựa trên một nền kinh tế đóng hơn là một môhình mở nền kinh tế Guerrieri, Gust và López-Salido không cho phép tác động của hộinhập thương mại đến trạng thái giá tăng ổn định của doanh nghiệp và thị phần, điều

mà bài viết này sẽ đưa vào giải thích Benigno và Faia (2010) thì cân nhắc một nguồnkhác của độ cứng nhắc thực Trong phân tích của họ, biến giá tăng mong muốn xuấthiện không phải trên mặt cầu của nền kinh tế mà từ chiến lược giá liên quan đến cạnhtranh độc quyền nhóm

Phần thứ hai của bài viết này phân tích những tác động của mở cửa thương mại

và cạnh tranh đến tần số điều chỉnh giá Mặc dù giá cứng nhắc danh nghĩa đóng vai tròtrung tâm trong lý thuyết kinh tế vĩ mô, yếu tố quyết định của nó vẫn chưa được hiểu

rõ Các nghiên cứu trước đây điều tra yếu tố quyết định của tần số điều chỉnh giá đãtập trung vào vai trò của xu hướng lạm phát, kích thước của chi phí điều chỉnh giá vàphương sai của các cú sốc (Devereux và Yetman, 2002; Dotsey et al, 1999; Kiley,

2000 ; Levin và Yun, 2007; Romer, 1990) và những ưu tiên của chính sách tiền tệ(Kimura và Kurozumi, 2010; Senay và Sutherland, 2014) Đồng thời, đã có nhữngbằng chứng thực nghiệm quan trọng tần số điều chỉnh giá của các doanh nghiệp phụthuộc vào mức độ cạnh tranh Khảo sát gần đây về chính sách giá cả được các doanhnghiệp tiến hành ở một số nước cho thấy các công ty đang hoạt động trên thị trườngvới áp lực cạnh tranh cao hơn điều chỉnh giá của họ thường xuyên hơn (Álvarez vàHernando,2005, 2007; Aucremanne và Druant, 2005; Druant et al., 2009; Fabiani etal., 2005; Hoeberichts và Stokman, 2010; Vermeulen et al., 2007) Trong một nghiêncứu được tiến hành bởi Ngân hàng Anh, các doanh nghiệp ở Anh gọi sự gia tăng trongcạnh tranh là yếu tố quan trọng nhất đằng sau sự gia tăng tần số điều chỉnh giá của họtrong thập kỷ vừa qua (Greenslade và Parker, 2012) Sự liên kết tích cực giữa mức độcạnh tranh và tần số điều chỉnh giá cũng đã được thừa nhận bởi các nghiên cứu thựcnghiệm dựa trên dữ liệu phân tách về giá (Álvarez et al, 2006;.Carlton, 1986; Cornille

và Dossche,năm 2006; Encaoua và Geroski, 1986; Geroski năm 1992; Lünnemann và

Trang 15

Matha, 2005) Álvarez et al (2010) chỉ ra rằng tần số thay đổi giá của nhà sản xuấttăng lên cùng với sự xâm nhập của nhập khẩu Mặc dù các bằng chứng thực nghiệmrất đáng được cân nhắc, các tài liệu lý thuyết điều tra mối quan hệ giữa cạnh tranh vàtốc độ điều chỉnh giá là rất ít và cơ chế cơ bản của nó vẫn chưa rõ ràng.

Nghiên cứu của các tổ chức công nghiệp, trong đó phân tích các tác động của cạnhtranh lên mức độ cứng nhắc giá danh nghĩa trong môi trường độc quyền nhóm, đãcung cấp các kết quả mâu thuẫn liên quan đến phương hướng của mối quan hệ này.Tác động của cạnh tranh lên tần số điều chỉnh giá dưới giả định của cạnh tranh độcquyền, yếu tố chiếm ưu thế trong các mô hình kinh tế vĩ mô, hầu như đã không đượckiểm tra Một số hiểu biết về tác động sự cạnh tranh lên sự cứng nhắc danh nghĩa trongmột môi trường cạnh tranh độc quyền có thể rút ra được từ việc phân tích mối liên hệgiữa độ co giãn của cầu theo giá và tần số điều chỉnh giá Martin (1993) đã tiến hànhmột phân tích như vậy trong một bối cảnh tĩnh giản đơn, trong khi Dotsey et al (1999)

đã sử dụng một mô hình cân bằng tổng quát động với giá phụ thuộc không gian Tuynhiên, khi sự thay đổi trong độ co giãn của cầu theo giá là kết quả quan trọng của việcdoanh nghiệp mới thâm nhập vào thị trường và sự gia tăng cạnh tranh, nó không phải

là hậu quả duy nhất Những thay đổi về số lượng thương mại cũng ảnh hưởng đến thịphần các doanh nghiệp, mức độ bổ sung mang tính chiến lược trong các quyết địnhthiết lập giá và biến số của giá mong muốn, tất cả đều ảnh hướng việc thúc đẩy điềuchỉnh của các doanh nghiệp Trái ngược với những nghiên cứu trước đó, bài viết nàyphân tích ảnh hưởng của cạnh tranh đến tần số thay đổi giá trong một mô hình cânbằng tổng quát động ngẫu nhiên với độ cứng nhắc thực và một số lượng thương mại sẽgiải thích tất cả các tác động này

3. Mô hình

Việc phân tích dựa trên mô hình cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát (DSGE).Theo đó, nền kinh tế thế giới bao gồm hai quốc gia, nội địa và nước ngoài có trình độngang nhau Trong mỗi quốc gia, các hộ gia đình tuân theo quy luật tối đa hóa hữudụng và các doanh nghiệp tuân theo quy luật tối đa hóa lợi nhuận Các hộ gia đình làchủ các doanh nghiệp và sản xuất các mặt hàng khác biệt để bán trong một thị trườngcạnh tranh độc quyền Có hai loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp xuất khẩu vàdoanh nghiệp không xuất khẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ bán sản phẩm của

Trang 16

mình cả trong thị trường nội địa và nước ngoài, còn các doanh nghiệp không xuấtkhẩu chỉ hoạt động chủ yếu ở thị trường trong nước Các doanh nghiệp sẽ thiết lập giá

cả theo giá thị trường, được đề cập trong Betts and Devereux (1996), và mô hìnhCalvo, Calvo (1983) Trong phiên bản gốc của mô hình này, lý thuyết trên được giảđịnh rằng xác suất điều chỉnh giá trong một thời gian xác định là một biến ngoại sinh(biến độc lập) Theo đó, các hộ gia đình tiêu dùng đa dạng tất cả các hàng hóa đượcbán trong thị trường nội địa Tổng cầu được đặc trưng bởi sự co giãn của cầu theo giá,kéo theo sự gia tăng các chiến lược bổ sung trong việc định giá của các doanh nghiệp.Gía cả tương đối tối ưu của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào chi phí biên

mà còn liên quan mật thiết đến giá cả của các đối thủ cạnh tranh Trong mỗi quốc gia,chính sách tiền tệ được tiến hành bởi Ngân hàng Trung ương nơi mà lãi suất danhnghĩa được thiết lập theo quy luật Taylor Chu kì kinh tế được thúc đầy bởi hiệu suất,

sự ưu đãi và cú sốc chính sách tiền tệ

3.1. Các doanh nghiệp

Ở mỗi quốc gia, các doanh nghiệp sẽ được biểu thị bởi một chỉ số liên tục Tất cảdoanh nghiệp đang hoạt động trong thị trường nội địa sản xuất đa dạng các sản phẩmtiêu dùng cuối cùng và bán chúng trọng thị trường cạnh tranh độc quyền Chúng ta sửdụng một công nghê sản xuất có hiệu suất không đổi theo quy mô, trong đó lao độngtrong nước là yếu tố sản xuất duy nhất

Trong đó, là sản lượng đầu ra của doanh nghiệp tại thời gian và là lượng laođộng đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phầm là hệ số kĩ thuậtđược xác định bởi một tiến trình ngoại sinh với và

.Trong nền kinh tế nội địa và nước ngoài, một phần nhỏ các công ty, bằng N vàN* tương ứng, bán hàng hóa của mình ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, trongkhi đó các doanh nghiệp còn lại chỉ tiêu thụ sản phẩm của mình ở thị trường nội địa.Tất cả các doanh nghiệp đều định giá theo đơn vị tiền tệ tại nước tiêu thụ sản phẩm

Trang 17

Các doanh nghiệp không xuất khẩu ở thị trường nội địa, nằm trong khoảng ,thiết lập giá sao cho tối đa hóa lợi nhuận sau chiết khấu tùy thuộc vào hàm cầu, côngnghệ sản xuất và mô hình Calvo Khi các doanh nghiệp nhận được tín hiệu để cập nhậtgiá cả tại thời điểm t, họ chọn giá các sản phẩm của họ tại thị trường trong nước, ,nhằm tối đa hóa:

Với biểu thị cầu của thị trường nước ngoài đối với sản phẩm được sản xuất bởidoanh nghiệp tại thời điểm ; biểu thị chi phí biên danh nghĩa của của công ty tạithời điểm , là hệ số chiết khấu ngẫu nhiên của lợi nhuận danh nghĩa và

đại diện cho phần của các doanh nghiệp mà không điều chỉnh giá của họ trong mộtkhoảng thời gian nhất định

Các doanh nghiệp xuất khẩu ở thị trường nội địa, nằm trong khoảng , cũngthiết lập giá sao cho tối đa hóa lợi nhuận sau chiết khấu tùy thuộc vào những ràngbuộc tương tự Tuy nhiên, họ thiết lập lại hai mức giá khác nhau, một cho thị trườngtrong nước, , và một cho thị trường nước ngoài, , để tối đa hóa:

Với , biểu thị cho cầu thị trường nước ngoài đối với sản phẩm được sản xuất bởi

doanh nghiệp tại thời điểm ; St là tỷ giá hối đoái danh nghĩa tại thời điểm , được xác

định bởi giá trong nước của một đơn vị ngoại tệ Mức giá biểu thị cho giá cả củađồng tiền trong nước, trong khi đó biểu thị cho giá cả của đồng tiền nước ngoài.Gỉa định rằng các nhà xuất khẩu đang tiến hành phân biệt giá quốc tế là phù hợpvới phát hiện từ nghiên cứu thực nghiệm quan trọng về giá cả thị trường, trong đó chothấy rằng các sản phẩm như nhau được định giá với mức độ gia tăng khác nhau trêncác thị trường nhập khẩu (xem thêm tại Goldberg and Knetter, 1997)

3.2. Các hộ gia đình

Trang 18

Các hộ gia đình có tính chất giống nhau, luôn tồn tại trong mỗi quốc gia được biểuthị bởi một chỉ số liên tục nằm trong khoảng Một hộ gia đình điển hình có một hàm

lợi ích có thể cộng tách được trong tiêu thụ, Ct, và lao động, Lt, được xác định bởi:

Với là một yếu tố giảm giá liên thời gian, là nghịch đảo của độ co giãnthay thế liên thời gian trong tiêu dùng, là nghịch đảo của độ co giãn cung lao độngFrisch, và đại diện cho một cú sốc tới lợi ích cận biên của tiêu thụ như là

3.3. Tổng cầu

Các hộ gia đình trong nền kinh tế nước nhà, tiêu thụ đa dạng tất cả các sản phẩmsản xuất trong nước và nước ngoài hiện có ở thị trường nội địa Tổng sản lượng tiêu

thụ, Ct, được xác định hoàn toàn bởi điều kiện:

Với là một sự gia tăng, hàm lõm ngặt và Tổng cầu được áp dụngtrong phân tích đã mở rộng nội dung đề xuất của KimBall (1995) và Sbordone (2010)tới một môi trường kinh tế mở với đa dạng các giao dịch

Trang 19

Các tham số là phần hàng hóa nước ngoài được nhập khẩu vào thịtrường nội địa và nó xác định mức độ mở cửa thương mại Tổng số sản phẩm hiện có

để bán trong thị trường nội địa bằng và nó là thước đo mức độ cạnh tranh trongnền kinh tế

Hàm sử dụng trong phân tích được xác định bởi:

Nơi mà các thông số và xác định hình dạng của hàm cầu

Tổng cầu được xác định dựa trên giả thiết chắc chắn rằng độ co giãn của cầutheo giá là không đổi và dựa vào đó các doanh nghiệp đưa ra các chiến lược định giá

bổ sung để tạo được sự gia tăng mong muốn Ở phụ lục A.1, hàm cầu và hàm tổng cầu

có thể biểu diễn kết hợp như sau:

Với là thị phần của doanh nghiệp và là chỉ số giá tổng hợp được định dựa trên

sự cạnh tranh, được cho bởi:

Đạo hàm của nó được trình bày trong phụ lục A.2

Nói chung, sự co giãn của cầu theo giá, , không phải là không đổi,nhưthường được giả định, mà là một hàm giá cả tương đối của doanh nghiệp và thị phầncủa nó:

Trang 20

Kết quả là, sự gia tăng mong muốn của doanh nghiệp , cũng là một hàmgiá cả tương đối của doanh nghiệp :

Trong một trạng thái cân bằng với giá cả cân đối, thị phần của doanh nghiệp làmột hàm đa dạng các biến số các giao dịch được diễn ra trong nền kinh tế, được xácđịnh:

Kết quả là, sự co giãn ổn định của cầu theo giá,, và sự gia tăng, cũng được xácđịnh bởi đa dạng các biến số giao dịch và mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế:

Đa dạng các giao dịch được thực hiện trong thị trường và sự co giãn ổn địnhcủa cầu theo giá là hai đại lượng đồng biến, được tích hợp vào mô hình thông qua cácđặc điểm thị hiếu của hộ gia đình, tương đồng với các học thuyết của Lancaster(1979), theo đó sự xâm nhập của các doanh nghiệp sẽ phủ đầy các khoảng trống thịtrường Càng nhiều công ty bán các sản phẩm khác nhau, càng nhiều các sản phẩmthay thế và độ co giãn của cầu theo giá đối với sản phẩm của họ cũng gia tăng Sựđồng biến của đa dạng các giao dịch và sự co giãn của cầu theo giá đã được tiến hànhthực nghiệm bởi Hummels and Lugovskyy (2008)

Sự đa dạng các giao dịch các giao dịch cũng làm ảnh hưởng đến độ cong củahàm cầu, kí hiệu là , biểu thị một sự co giãn ổn định của cầu theo giá cả tương đối,còn gọi là cầu không co giãn, được cho bởi:

Trang 21

Trong trường hợp đặc biệt , các hình dạng của đưởng tổng cầu được phân tíchtương đương với một hàm sản xuất với độ co giãn thay thế không đổi CES Dixit–Stiglitz.

Tính xác định của mô hình giải pháp được đảm bảo bằng cách chọn thông số

và theo nguyên tắc Taylor

Các quy tắc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế nội địa và nước ngoài cùng vớiđiều kiện tối ưu hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp, tối đa hóa hữu dụng của các hộgia đình và nguồn tài nguyên hạn chế xác định sự cân bằng của nền kinh tế thế giới

4. Tham số hoá

Mô hình mẫu giả định rằng một khoảng thời gian ứng với ¼ Các thông số trong

mô hình được chuẩn hoá theo thang chuẩn như sau: xác xuất các công ty không nhậnđược tín hiệu điều chỉnh giá trong một khoảng thời gian cho trước (kí hiệu là α) là0.75; các yếu tố giảm giá β được giả định là 0.995 Các số liệu được giả định trên hàm

ý lãi suất thực tế ổn định hằng năm là khoảng 2% Các thông số được đưa ra trongchính sách tiền tệ, tương ứng với “những quả cân” mà ngân hàng trung ương đặt vàolạm phát (Φx) và ổn định đầu ra (Φy) lần lượt là 1.5 và 0.5, giống như trong quy tắcTaylor (1993) Nghịch đảo hệ số co giãn thay thế theo thời gian trong tiêu dùng (σ) vànghịch đảo hệ số co giãn cung lao động Frisch (φ), được giả giả định lần lượt là 1.38

và 1.83, phù hợp với dự đoán của Smets và Wouters (2007) Các tham số về tiến trìnhcủa các cú sốc cũng dựa trên mô hình của Smets và Wouters (2007) Các thông số sửdụng trong phân tích này được liệt kê trong bảng A1 (phụ lục A.6)

Trang 22

Hai thông số quyết định hình dạng đường cầu γ và η được hiệu chuẩn dựa trênnghiên cứu của Dossche et al (2010) Tác giả sử dụng dữ liệu giá cả được lấy từ mộtnhà bán lẻ lớn trong khu vực sử dụng đồng Euro để ước tính hệ số co giãn và siêu cogiãn của cầu cho một loạt các sản phẩm Họ cung cấp các bằng chứng thực nghiệmcho rằng hệ số co giãn của cầu theo giá tăng cùng với mức giá tương đối, bước đầuđưa những hàm cầu lõm vào các mô hình kinh tế vĩ mô Nghiên cứu chỉ ra rằng mức

độ bổ sung chiến lược trong các quyết định định giá của một công ty được xác địnhbởi độ cong của đường cầu là khá nhỏ, trong khi mức độ đó tỉ lệ thuận rõ ràng với độ

co giãn của cầu theo giá Dựa vào phát hiện của Dossche at al (2010), hai tham sốkhác của hàm cầu được cân nhắc Giá trị của hai thông số sử dụng trong phân tích này

là η1=-0.30 và γ1 = 0.62 trong hiệu chuẩn cơ sở; η1=-0.28 và γ1 = 0.67 trong hiệuchuẩn thay thế

Figs.1 và 2 minh hoạ các thuộc tính của đường cầu trong 2 thang đo sử dụng trongbài phân tích Figs 1 cho thấy hệ số co giãn của cầu theo giá và lợi nhuận của công tythay đổi như thế nào theo mức giá tương đối và cách mà họ so sánh nó với mức độthay đổi đó rút ra từ đường cầu CES Con số này cho thấy rằng trong trường hợpđường cầu lõm và có bổ sung chiến lược liên quan trong quyết định định giá của công

ty, độ co giãn của cầu theo giá của một công ty là một hàm tăng theo mức giá tươngđối Kết quả là, lợi nhuận của một công ty nhạy cảm hơn với những thay đổi trongmức giá tương đối so với dữ liệu tiêu thụ Dixit–Stiglitz được thu thập với độ co giãncủa cầu theo giá là hằng số

Trong khoảng chấp nhận được, sự thay đồi của độ co giãn cùa cầu theo giá khôngchỉ phụ thuộc vào mức giá tương đối của một công ty mà còn tuỳ thuộc vào mức độcạnh tranh của nền kinh tế Mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh (đo bằng 1+N*), sựtăng giá ổn định, tương ứng với hệ số co giãn ổn định của cầu theo giá (θ), và hệ sốsiêu co giãn của cầu (ε) được thể hiện trong Figs.2 Số liệu chỉ ra mối quan hệ tiêucực giữa cạnh tranh và mức tăng giá mong muốn của một công ty Khi số lượng công

ty nước ngoài trong thị trường nội địa tăng từ 0 lên 1, tương ứng với mức tăng 100%các hoạt động giao dịch trong nền kinh tế, mức tăng giá ổn định giảm từ 36 xuống 3phần trăm trong hiệu chuẩn cơ sở và 31 xuống 8 phần trăm trong hiệu chuẩn thay thế

5. Cạnh tranh và cứng nhắc thực tế

Trang 23

Trong trường hợp co giãn của cầu theo giá không đổi và mức độ đa dạng của cácgiao dịch tăng lên, lạm phát trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá trong nước được xácđịnh theo đường Phillips Curve như sau:

Trang 24

Trong khi là một tham số cấu trúc phản ánh mức độ bổ dung chiến

lược của công ty trong các quyết định định giá; là thị phần của hàng hoá

nhập khẩu trong sổ hàng hoá tiêu dùng và ; là độ lệch log củachi phí biên trong nước so với trạng thái ổn định tại thời điểm t; pH t và p F t biểu thị độlệch log của chỉ số giá cả trong nước và xuất khẩu so với trạng thái ổn định tương ứngtại thời điểm t (xem Apendix A.3)

Công thức (17) chỉ ra rằng nếu công ty thực hiện việc bổ sung chiến lược trongcác quyết định định giá của họ, lạm phát trong nước không chỉ phụ thuộc vào chi phíbiên mà còn phụ thuộc vào mức giá tương đối của hàng hoá nhập khẩu Nguyên nhân

là do sự thay đổi của mức giá trong nước theo ức giá nhập khẩu ảnh hưởng đến độ cogiãn của cầu theo giá và mức tăng giá kì vọng của công ty Ví dụ, sự giảm giá củahàng hoá nhập khẩu dẫn đến sự tăng giá tương đối của hàng hoá trong nước, nhữngnhà sản xuất trong nước phải đối mặt với độ co giãn của cầu theo giá lớn hơn, và điều

đó làm họ hạ thấp mức tăng giá kì vọng Kết quả là mức giá trong nước giảm mặc dùchi phí biên không đổi

Hơn nữa, các hệ số của đường cong Phillips phụ thuộc vào số lượng các giaodịch và mức độ cạnh tranh của nền kinh tế Mức độ cạnh tranh xác định độ co giãncủa cầu theo giá, sự nhạy cảm trong mức giá tối ưu của họ tính bằng mức giá của cácđối thủ cạnh tranh, và ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của sự thay đổi tỉ lệ lạm phát trongnước theo chi phí biên và mức giá tương đối toàn cầu Thứ nhất, một sự tăng áp lựccạnh tranh trong nền kinh tế trong nước, tương ứng với một sự tăng của +N*, dẫn đếnmột sự tăng trong λ, và do đó cũng làm giảm độ co giãn của lạm phát theo chi phí

Trang 25

biên trong nước và tăng độ cứng nhắc thực trong mức giá chung Thứ hai, một sự tănglên trong số lượng hàng hoá ở thị trường trong nước dẫn đến ϖ cao hơn, và do đó làmtăng mức độ nhảy cảm của lạm phát trong nước theo tỷ lệ thay đổi của mức giá trongnước theo mức giá nhập khẩu.

Fig.3 chỉ ra mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh và các hệ số của đườngPhillips Đối với hai hiệu chuẩn áp dụng trong mô hình phân tích, một sự tăng 100%

số lượng các hoạt động trao đổi dẫn đến sự giảm tỷ lệ lạm phát theo chi phí biên 27% Khi đó, các hệ số mức giá tương đối toàn cầu tăng từ 0 lên 0.02

26-Sư gia tăng đáng kế của lạm phát trong nước theo tỉ lệ thay đổi mức giá trongnước theo giá nhập khẩu có thể ngụ ý rằng một sự gia tăng mức độ mở cửa của nềnkinh tế và sự cạnh tranh dẫn đến sự gia tăng tầm quan trọng của mức độ phát triểnkinh tế nước ngoài trong việc xác định tỉ lệ lạm phát trong nước Tuy nhiên, nên chú ýrằng tác động này một phần được san bằng bởi thực tế là một sự gia tăng tính cạnhtranh và hệ quả là sự gia tăng mức độ thay đổi chiến lược của các công ty gia tăngmức độ ảnh hưởng của hàng hoá trong nước lên hàng hoá nhập khẩu Điều này là hiểnnhiên theo công thức lạm phát hàng hoá nhập khẩu, π F t được suy ra từ công thức(16):

Trong đó và là thị phần của hàng hoá sản

xuất trong nước trong rổ hàng hoá tiêu dùng; là độ lệch log của chi phí biên

thực của các công ty nước ngoài so với giai đoạn ổn định ở thời điểm t; được

cho bởi công thức biểu thị độ lệch khỏi luật một giá tại thời điểm t

Ngày đăng: 31/12/2021, 09:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 7. tần số tối ưu của điều chỉnh giá như là một hàm của mức tăng giá và số lượng giống được   giao   dịch   cho  sự   tham   số   hoá  khác   nhau   của   quá   trình   sốc - Trade openness and inflation the role of
Hình 7. tần số tối ưu của điều chỉnh giá như là một hàm của mức tăng giá và số lượng giống được giao dịch cho sự tham số hoá khác nhau của quá trình sốc (Trang 35)
Hình 8 tần số tối ưu của điều chỉnh giá như là một hàm của mức tăng giá và số lượng giống được giao dịch cho sự tham số hoá khác nhau của các quy tắc chính sách tiền tệ - Trade openness and inflation the role of
Hình 8 tần số tối ưu của điều chỉnh giá như là một hàm của mức tăng giá và số lượng giống được giao dịch cho sự tham số hoá khác nhau của các quy tắc chính sách tiền tệ (Trang 36)
Hình 9 Hệ số của đường cong Phillips như các chức năng của số lượng giống được giao dịch trong trường hợp tần số nội sinh điều chỉnh giá - Trade openness and inflation the role of
Hình 9 Hệ số của đường cong Phillips như các chức năng của số lượng giống được giao dịch trong trường hợp tần số nội sinh điều chỉnh giá (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w