C1: Triết học? hình thức ra đời của triết học 3 C2: Thế giới quan? Có những loại hình thế giới quan nào? 3 C3: Vấn đề cơ bản của triết học? Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, khả tri luận và bất khả tri luận trong triết học 3 C4: CNDV, CNDT? hình thức cơ bản của CNDV, CNDT 4 C5: sự khác nhau giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới 4 C6: các hình thức của CNDV và phép biện chứng trong lịch sử. ví dụ 5 C7: điều kiện kinh tế xã hội; nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên của sự ra đời triết học Mác? 5 C8: khái niệm và chức năng của triết học Mác Lêni 6 C9: định nghĩa vật chất của Lênin? Rút ra ý nghĩa phương pháp luận 7 C10: Vận động là gì? các hình thức của vận động 7 C11: vận động và đứng im 8 C12,13: nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức 8 C14: bản chất và kết cấu theo chiều ngang của ý thức 9 C15: mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ỹ nghĩa phương pháp luận 10 C16: cơ sở lý luận, yêu cầu và ý nghĩa của nguyên tắc khách quan 11 C17: khái niệm và tính chất của mối liên hệ phổ biến 12 C18: nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối quan hệ phổ biến 13 C19: cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể 14 C20: khái niệm và tính chất của sự phát triển 15 C21: nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển 16 C22: cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử cụ thể 17 C23: cái chung và cái riêng? Ý nghĩa phương pháp luận 18 C24: nguyên nhân và kết quả. Ý nghĩa phương pháp luận 19 C25: tất nhiên và ngẫu nhiên? Ý nghĩa phương pháp luận 20 C26: nội dung và hình thức? Ý nghĩa phương pháp luận 21 C27: bản chất và hiện tượng? Ý nghĩa phương pháp luận 22 C28: khái niệm chất, lượng. Có phải trong bất cứ trường hợp nào, nếu có sự thay đổi về lượng thì tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất hay không? 22 C29: nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại 24 C30: chất và lượng theo quan điểm DVBC 25
Trang 1Câu 1: Triết học là gì? Trình bày hình thức ra đời của triết học?
Khái niệm:
Phương Đông: Trung Quốc xem triết học là sự truy tìm bản chất của đối tượng nhận thức,
thường là con người, xã hội, vũ trụ Triết học là biểu hiện cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắccủa con người về thế giới thiên - địa - nhân, định hướng nhân sinh quan cho con người
Ấn độ xem triết học là tri thức dựa trên lí trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắtcon người đến với lẽ phải
Phương Tây: Triết học Phương Tây là giải thích vũ trụ, định hướng nhận thức và hành vi,
nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Khái niệm Max xít: Triết học là hệ thống các quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và
vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhấtcủa tự nhiên, xã hội và tư duy
Nguồn gốc:
Triết học ra đời ở cả phương Đông và Phương Tây vào khoảng những năm thế kỷ 8-9tcn
Có 2 nguồn gốc cơ bản đó là Nhận thức và Xã hội
+ Tư duy triết học bắt đầu từ các triết lý, từ tình yêu sự thông thái, dần hình thành các hệthống những tri thức chung nhất về thế giới
Nguồn gốc xã hội:
+ Triết học không ra đời trong xã hội mông muội dã man
+ Triết học chỉ ra đời khi xã hội có phân công lao động xã hội
Câu 2: Thế giới quan là gì? Có những loại hình thế giới quan nào? Thế giới quan là quan điểm của con người về thế giới
Theo giáo trình Triết học Mác- Lenin đưa ra định nghĩa như sau: Thế giới quan là toàn bộnhững quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của conngười trong thế giới đó Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin
1 Thế giới quan là gì?
Thế giới quan là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềmtin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con người (bao hàm cả cá nhân, xã hội và nhânloại) trong 2 thế giới đó Nó đóng vai trò định hướng đối với toàn bộ cuộc sống của con người, từthực tiễn cho đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân, xác định lý tưởng,
hệ giá lối sống cũng như nếp sống của mình
2 Quan hệ thế giới quan và nhân sinh quan
Nhân sinh quan là một bộ phận của thế giới quan, gồm những quan niệm về cuộc sống củacon người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao
và sống như thế nào cho xứng đáng?
3 Các loại hình thế giới quan
4.1 Thế giới quan huyền thoại
Thế giới quan huyền thoại xuất có nguồn gốc xã hội nguyên thủy trong giai đoạn sơ khailịch sử bằng cách xây dựng nên các huyền thoại nhằm phản ánh các kết quả cảm nhận ban đầu củangười nguyên thủy về nhận thức khách quan tự nhiên, đời sống xã hội Ví dụ như dân tộc ViệtNam có truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ để giải thích về nguồn gốc của dân tộc hay truyềnthuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh,…
Đặc điểm của thế giới quan huyền thoại là yếu tố thực và ảo, cái thần và cái người, lý trí
và tín ngưỡng hòa quyện với nhau Do con người không giải thích được các hiện tượng đặc trưngtrong xã hội nên thường đưa ra các yếu tố tưởng tượng có tính huyền bí để giải thích Thế giớiquan huyền thoại không phản ánh hiện thực một cách khách quan
Trang 24.2 Thế giới quan tôn giáo
Thế giới quan tôn giáo phản ánh hiện thực khách quan một cách hư ảo, ra đời trong bốicảnh trình độ nhận thức của con người còn hạn chế Thế giới quan tôn giáo giải thích dựa trên cơ
sở thừa nhận sự sáng tạo của một loại năng lực thần bí, siêu nhiên
Đặc trưng cơ bản của thế giới quan này đó chính là niềm tin dựa vào sự tồn tại và sứcmạnh của lực lượng siêu nhiên, thần thánh và con người hoàn toàn bất lực và hoàn toàn phụ thuộcvào thế giới siêu nhiên đó
Trong thế giới quan tôn giáo, con người là kẻ cầu xin và phục tùng Ở một khía cạnh nào
đó, thế giới quan tôn giáo thể hiện khát vọng được giải thoát khỏi đau khổ, hướng đến một cuộcsống hạnh phúc Bởi vậy, đã giúp cho thế giới quan tôn giáo tồn tại trong đời sống tinh thần ngàynay
4.3 Thế giới quan kinh nghiệm
Thế giới quan kinh nghiệm là định hướng nhận thức cơ bản của một cá nhân hay xã hộidựa trên kinh nghiệm, trải nghiệm của họ Trải nghiệm có thể được hiểu là bao gồm tất cả nộidung của ý thức hoặc nó có thể được giới hạn trong kinh nghiệm của các giác quan mà thôi
4.4 Thế giới quan triết học
Thế giới quan triết học được ra đời trong điều kiện trình độ tư duy và thực tiễn của conngười và có bước phát triển cao hơn so với thế giới quan khoa học của tôn giáo và huyền thoại.Điều đó làm cho tính tích cực trong tư duy của con người có bước thay đổi về chất
4 Các vấn đề về thế giới quan triết học
- Thế giới quan triết học bao giờ cũng là thành phần quan trọng, đóng vai trò là nhân tố cốtlõi: Thế giới quan triết học được xây dựng dựa trên hệ thống lý luận, phạm trù, quy luật Khôngđơn giản chỉ là khái niệm, phạm trù, quy luật; thế giới quan triết học còn nỗ lực tìm cách giảithích, chứng minh tính đúng đắn của các quan điểm bằng lý luận, logic
- Triết học bao giờ cũng có ảnh hưởng và chi phối các thế giới quan khác: Triết học là hạtnhân lý luận của thế giới quan, là bộ phận quan trọng nhất của triết học bởi vì nó chi phối cácquan điểm, quan niệm còn lại của thế giới quan như quan điểm, quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ,kinh tế, chính trị, văn hoá…
- Thế giới quan triết học quy định các thế giới quan và quan niệm khác thế giới quan duyvật biện chứng là đỉnh cao của thế giới quan do đó phải dựa trên nguyên lý về mối liện hệ phổbiến và phát triển Có thể khẳng định rằng, thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống nhữngquan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và con người
5 Ví dụ minh hoạ
- Người nguyên thủy tin vào thần mưa, thần gió,
- Khoa học: những điều đúng đắn đã được chứng minh, thừa nhận
6 Liên hệ thực tiễn
Từ suy nghĩ, định hướng mang ý nghĩa tinh thần sẽ dẫn đến các hoạt động đúng đắn.Người hiểu đúng ý nghĩa trong cuộc sống của thế giới quan là người luôn có ý chí, nghị lực vàquyết tâm để giúp bản thân và xã hội không ngừng tiến bộ
Câu 3: Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, khả tri luận và bất khả tri luận trong triết học
* Vấn đề cơ bản của triết học là những vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa tư duy và tồntại, giữa vật chất và ý thức Lý do nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định được cơ
sở, tiền đề để giải quyết những vấn đề của triết học khác Điều này đã được chứng minh rất rõràng trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học
- Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học
+ Mặt thứ nhất – Bản thể luận: Trả lời cho câu hỏi giữa ý thức và vật chất, cái nào cótrước, cái nào có sau? Và cái nào quyết định cái nào?
Ta có thể giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học dựa trên 3 cách sau:Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thứcÝ thức có trước, vật chất
có sau, ý thức quyết định đến vật chấtÝ thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, không quyếtđịnh lẫn nhau
Trang 3Hai cách giải quyết đầu tiên tuy có đối lập nhau về nội dung, tuy nhiên điểm chung của haicách giải quyết này đều thừa nhận một trong hai nguyên thể (ý thức hoặc vật chất) là nguồn gốccủa thế giới Cách giải quyết một và hai thuộc về triết học nhất nguyên.
Triết học nhất nguyên bao gồm hai trường phái: trường phái triết học nhất nguyên duy vật
và trường phái triết học nhất nguyên duy tâm
Cách thứ ba thừa nhận ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, cả hai nguyên thể (ýthức và vật chất) đều là nguồn gốc của thế giới Cách giải thích này thuộc về triết học nhị nguyên
+ Mặt thứ hai – Nhận thức luận: Con người có khả năng nhận thức được thế giớihay không?
Đại đa số các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm cũng như duy vật đều cho rằng conngười có khả năng nhận thức được thế giới Tuy nhiên:
Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song do vậtchất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức nên sự nhận thức đó là sự phản ánhthế giới vật chất vào óc con người Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khảnăng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy Một sốnhà triết học duy tâm khác theo “Bất khả tri luận” lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới củacon người
* Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, khả tri luận và bất khả triluận trong triết học
- Cơ sở để phân biệt chủ nhĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đó giải quyết mặt thứ nhất củavấn đề cơ bản của triết học
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã hình thành trong lịch sử triếthọc hai trường phái triết học lớn – chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
+ Chủ nghĩa duy vật là quan điểm của các triết gia, học thuyết coi vật chất, tự nhiên cótrước và quyết định ý thức, tinh thần của con người Nói cách khác, chủ nghĩa duy vật khẳng địnhrằng thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người; ý thức xét chocùng chỉ là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào trong đầu óc con người.Trong quá trìnhhình thành, phát triển của lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật có ba hình thức biểu hiện cơ bảnsau:
Chủ nghĩa duy vật chất phác (thời cổ đại): Hình thức này xuất hiện, tồn tại ở nhiều dântộc trên thế giới, nhất là ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp Mặt tích cực của chủ nghĩa duyvật cổ đại là khẳng định về sự tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người của thế giới tựnhiên, lấy giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên Tuy nhiên, hạn chế của chủ nghĩa duy vật
cổ đại là tính trực quan Những quan điểm duy vật thời kỳ này chủ yếu dựa vào các quan sát trựctiếp chứ chưa dựa vào các thành tựu của các khoa học cụ thể, bởi lẽ vào thời này, các môn khoahọc cụ thể chưa phát triển Điều đó thể hiện ở quan niệm duy vật thời kỳ này đồng nhất vật chấtvới vật thể cụ thể nào đó Có thể khẳng định, quan điểm của chủ nghĩa duy vật cổ đại về thế giớinhìn chung là đúng đắn song còn nặng tính ngây thơ, chất phác
Chủ nghĩa duy vật siêu hình máy móc (thế kỷ XVII-XVIII): Hình thức này của chủ nghĩaduy vật tồn tại trong giai đoạn khoa học cụ thể, đặc biệt là cơ học có sự phát triển mạnh mẽ Sựphát triển rực rỡ của cơ học và của các khoa học cụ thể khác một mặt tạo cơ sở khoa học cho cácquan điểm duy vật trong việc giải thích thế giới, song mặt khác lại khiến cho các quan điểm nàymang nặng tính máy móc, siêu hình Tính máy móc của quan điểm này biểu hiện ở chỗ các nhàduy vật máy móc xem xét giới tự nhiên cũng như con người như là một hệ thống máy móc phứctạp mà thôi Tính chất siêu hình của quan điểm này biểu hiện ở chỗ các đại biểu của nó xem xét
sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời, không quan hệ với nhau, cũng như trong trạng thái tĩnh tại,không vận động, không phát triển
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Hình thức này ra đời vào giữa thế kỷ XIX trong quá trìnhkhắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cổ đại và của chủ nghĩa duy vật máy móc, siêuhình thế kỷ XVII-XVIII Đại biểu của chủ nghĩa duy vật biện chứng là C.Mác (1818-1883),Ph.Angghen (1820–1895), V.I.Lênin (1870–1924) Dựa trên cơ sở những thành tựu khoa học cụthể vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đưa ra quan niệm
Trang 4đúng đắn về sự tồn tại của thế giới trong sự vận động, phát triển khách quan của nó Chủ nghĩaduy vật biện chứng, một mặt, khẳng định thế giới vật chật tồn tại khách quan, độc lập với ý thứccon người; mặt khác, nó cũng khẳng định ý thức không phải là nhân tố lệ thuộc hoàn toàn vào vậtchất, mà trái lại, nó còn có khả năng tác động làm biến đổi vật chất bên ngoài thông qua hoạt độngcủa con người Nói cách khác, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa vật chất với ýthức không phải là mối quan hệ một chiều mà là mối quan hệ biện chứng, mối quan hệ hữu cơ tácđộng hai chiều.
+ Chủ nghĩa duy tâm là quan điểm của các triết gia, học thuyết coi ý thức, tinh thần cótrước giới tự nhiên, có trước thế giới vật chất Trong quá trình hình thành, phát triển của lịch sửtriết học, chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản sau:
Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng yếu tố tinh thầnquyết định vật chất không phải là tinh thần, ý thức con người mà là tinh thần của một thực thểsiêu nhiên nào đó tồn tại trước, ở bên ngoài con người và thế giới vật chất Thực thể tinh thần nàysinh ra vật chất và quyết định toàn bộ các quá trình vật chất
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng cảm giác, ý thức conngười có trước các sự vật, hiện tượng bên ngoài Sự tồn tại của các sự vật bên ngoài chỉ là phứchợp của các cảm giác ấy mà thôi Trong cuộc sống, quan niệm cho rằng ý thức hay ý chí conngười đóng vai trò quyết định, bất chấp mọi hoàn cảnh, điều kiện vật chất khách quan là biểu hiệncủa quan điểm duy tâm chủ quan
- Cơ sở để phân biệt thuyết bất khả tri và khả tri luận đó là giải quyết mặt thứ hai của vấn
đề cơ bản của triết học
Việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, biểu hiện ở việc trả lời câu hỏi:Con người có thể nhận thức được thế giới hay không? làm xuất hiện trong lịch sử triết học haiquan điểm trái ngược nhau – thuyết khả tri luận (có thể biết) và thuyết bất khả tri (không thể biết)
+ Thuyết khả tri: thuyết có thể biết khẳng định con người hoàn toàn có khả năng nhận thứcthế giới Đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) theo thuyết có thể biết Trái lại, một sốtriết gia đi theo thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức đó của con người
+ Thuyết bất khả tri: thuyết không thể biết cho rằng con người không thể nhận thức đượcthế giới, hay chí ít cũng không thể nhận thức được bản chất của thế giới Bởi vì bản chất của một
sự vật nói riêng, của thế giới nói chung là cái nằm ở phía sau, ẩn giấu qua vô vàn hiện tượng, bềngoài Con người, dù cố gắng lắm, cũng chỉ nhận thức được cái hiện tượng, bề ngoài đó chứkhông thể biết được cái bản chất tận cùng đó của chúng Như vậy, thuyết không thể biết thể hiệnthái độ hoài nghi, bi quan về khả năng nhận thức thế giới của con người
* VÍ DỤ:
- Nước, lửa, khống khí
- Con người không thể biết sự vật, hiện tượng nào đó có tồn tại không nếu không dùnggiác quan cảm nhận hoặc đo đạc thông tin về vật, hiện tượng đó
Câu 4: Thế nào là chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm? Các hình thức cơ bản của
chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm? ()
4.1 Khái niệm chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật là một trường phái triết học, một thế giới quan, một hình thức của chủnghĩa triết học nhất nguyên cho rằng vật chất là chất cơ bản trong tự nhiên, và tất cả mọi thứ, baogồm cả trạng thái tinh thần và ý thức, là kết quả của sự tương tác vật chất Theo chủ nghĩa duy vậttriết học, tâm trí và ý thức là sản phẩm phụ của các quá trình vật chất (như sinh hóa của não người
và hệ thần kinh), mà không có chúng thì tâm trí và ý thức không tồn tại Khái niệm này tươngphản trực tiếp với chủ nghĩa duy tâm, trong đó tâm trí và ý thức là những thực tại bậc nhất mà vấn
Trang 5với một hay một số chất cụ thể của vật chất và đưa ra những kết luận mà về sau người ta thaymang năng tính trực quan , ngày thơ , chất phác Tuy hạn chế do trình độ nhận thức thời đại vềvật chất và cấu tra vật chất , những chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì
nó đã lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích thế giới , không viên đến Thần linh , Thượng để haycác lực lượng siêu nhiên
4.2.2 Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai trong lịch sử của chủ nghĩa duyvật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thể kỷ XVIII và điển hình là ở thể kỳ thứXVII, XVIII Đây là thời kỳ mà cơ học cô điển đạt được những thành tưu nực rỡ nên trong khitiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời Cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chiu
sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hinh, cơ giới - phương pháp nhìn thế giới nhưmột cô máy không lồ mà mỗi bộ phận tạo nên thế giới đó về cơ bản là ở trong trang thái biệt lập
và tình tại Tuy không phản ánh đúng hiện thực trong toan cục nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình
đã góp phần không nhỏ vào việc đẩy lùi thế giới quan duy tấm và tôn giao, đặc biệt là thời kỳchuyển tiếp từ đêm trường Trung cổ sang thời Phục hưng
4.2.3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biên chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác
và Ph.Angghen xây dựng vào những năm 40 của the ky XIX sau đó được VILenin phát triển, Với
sự kế thừa tinh hoa của các học thuyet triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu củakhoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục đượchạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời Cô đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và la đỉnh caotrong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiệnthực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượngtiên bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy
4.3 Hai hình thức của chủ nghĩa duy tâm
4.3.1 Chủ nghĩa duy tâm khách quan
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng coi đó là
là thi tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người Thực thể tinh thân kháchquan này thường được gọi bằng những cái tên khác nhau như ý niệm , tinh thần tuyệt đối , lý tínhthế giới , v.v
4.3.1 Chủ nghĩa duy tâm chủ quan
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người Trong khiphủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực , chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác
4.4 Cho ví dụ minh họa
4.4.1 Ví dụ chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Theo quy luật “phủ định của phủ định”:
- Một con gà mái được được coi là cái khẳng định, nhưng khi con gà mái đó đẻ trứng thìquả trứng đó sẽ đươc coi là cái phủ định của con gà Sau đó quả trứng gà trải qua thời gian vậnđộng và phát triển thì quả trứng lại nở ra con gà con Vậy con gà con lúc này sẽ được coi là cáiphủ định của phủ định, mà phủ định của phủ định sẽ trở thành cái khẳng định Sự vận động vàphát triển này luôn diễn ra liên tục vận động và phát triển và có tính chu kỳ
Câu 5: So sánh sự khác nhau giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới
1.1 Khái niệm siêu hình
Nghĩ xuất phát của từ siêu hình là dùng để chi triết học, với tính cách là khoa học siêu cảmtính, phi thực nghiệm
1.2 Khái niệm biện chứng
Nghĩa xuất phát của từ biện chứng là nghệ thuật tranh luận để tìm chân lý bằng cách pháthiện mẫu thuẫn trong cách lập luận
1.3 Nội dung phép siêu hình
Trang 61.3.1 Chỉ nhìn thấy sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sựvật ấy
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác vàgiữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
1.3.2 Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thểkhác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về
số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng
1.3.3 Chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên đi sự vận động của những
sự vật ấy
- Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt màkhông nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sựvật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạngthái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây màkhông thấy rừng”
1.3.4 Chỉ nhìn thấy bộ phận mà không thấy toàn thể
- Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hếtcon người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng tháikhông biến đổi trong một không gian và thời gian xác định
- Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thựckhông rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm
1.4 Nội dung của phép biện chứng
1.4.1 Xem xét thế giới trong mối liên hệ, ràng buộc giữa các yếu tố của nó với cái khác
- Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.1.4.2 Xem xét thế giới trong trạng thái vận động, chuyển hóa không ngừng
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung làphát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thayđổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
1.4.3 Không những nhìn thấy bộ phận mà nhìn cả thấy toàn thể
- Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhậntrong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là…vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhậncái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau
- Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp
tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức, đó là:
Trang 7Chủ nghĩa duy vật chất phác với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duyvật thời cổ ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp
Chủ nghĩa duy vật siêu hình với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duyvật thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là chủ nghĩa duy vật cận đạinước Anh và Pháp)
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập từ giữa thế kỷ XIX.Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là hình thức - trình độ pháttriển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học, vì những lý do sau:
- Dó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việc lý giải các tồn tại trong giới tựnhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật trong việcgiải thích các hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người - đó chính là nhữngquan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Do nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức vàcải tạo thế giới mà còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy Từ đó tạo nên sựđúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới
- Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở kế thừa những tinhhoa của lịch sử triết học và trên cơ sở tổng kết những thành tựu lớn của khoa học, của thực tiễntrong thời đại mới; nó trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp cáchmạng và của các lực lượng tiến bộ trong thời đại ngày nay
Vd: Khi học các môn vật lý, hóa học, học sinh thường được tham gia các buổi thí nghiệmsong song với các buổi học lý thuyết, các buổi thí nghiệm này chính là thực tiễn để kiểm tra lạiđúng đắn của lý thuyết mình vừa học Đồng thời, trước khi đưa ra các chân lý thì các nhà khoahọc đã có quá trình nghiên cứu thực tiễn để đưa ra quy luật
Phép biện chứng
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ăngghen cho rằng: Phép biện chứng làmôn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hộiloài người và của tư duy
Trong chũ nghĩa Mác — Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ,tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trìnhtrong tự nhiên, xã hội và tư duy Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủquan
Phép biện chứng cổ đại
Là phép biện chứng xuất hiện trong triết học thời cổ đại Các nhà triết học ở phương Đônglẫn phương Tây thời cổ đại đã xem thế giới khách quan thay đổi trong những sợi dây liên hệ vôcùng tận Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải làkết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học
Phép biện chứng duy tâm
Được bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là biểu hiện củacác ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm
Phép biện chứng duy vật
Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biếncủa sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Ví dụ phép biện chứng
Mùa thu đến, lá cây bắt đầu rụng xuống
Câu 7: Trình này điều kiện kinh tế - xã hội; nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự
nhiên của sự ra đời triết học Mác?)
* Khái niệm: Với sự ra đời của Triết học Mác-Lenin, Triết học là hệ thống quan điểm líluận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luậtvâm động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, trang bị cho con người thế giớiquan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thếgiới
Trang 8* Điều kiện kinh tế - xã hội:
1 Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX Sự phát triển rất mạnh mẽ của lựclượng sản xuất do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa được củng cố vững chắc là đặc điểm nổi bật trong đời sống kinh tế – xã hội ởnhững nước chủ yếu của châu Âu
Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành cường quốc côngnghiệp lớn nhất Ở Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp đang đi vào giai đoạn hoàn thành Cuộccách mạng công nghiệp cũng làm cho nền sản xuất xã hội ở Đức được phát triển mạnh ngay tronglòng xã hội phong kiến
Nhận định về sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ranhững lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trướckia gộp lại”
Sự phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩađược củng cố Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ trên cơ sở vật chất – kỹthuật của chính mình, do đó đã thể hiện rõ tính hơn hẳn của nó so với phương thức sản xuất phongkiến
Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội càng thêmgay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt
Của cải xã hội tăng lên nhưng chẳng những lý tưởng về bình đẳng xã hội mà cuộc cáchmạng tư tưởng nêu ra đã không thực hiện được mà bất công xã hội lại tăng thêm, đối kháng xã hộithêm sâu sắc, những xung đột giữa vô sản và tư sản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp
2 Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị – xã hội độc lập
Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành và phát triểncủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến Giai cấp vô sản cũng đã
đi theo giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến
Khi chế độ tư bản chủ nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xãhội và giai cấp vô sản là giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang tính chấtđối kháng càng phát triển, trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp
Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831, bị đàn áp và sau đó lại nổ ra vàonăm 1834, “đã vạch ra một điều bí mật quan trọng…[ ]…đó là cuộc đấu tranh bên trong, diễn ratrong xã hội, giữa giai cấp những người có của và giai cấp những kẻ không có gì hết…”
Ở Anh, có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 30 thế kỷ XIX, là “phong tràocách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”
Nước Đức còn đang ở vào đêm trước của cuộc cách mạng tư sản, song sự phát triển côngnghiệp trong điều kiện cách mạng công nghiệp đã làm cho giai cấp vô sản lớn nhanh, nên cuộcđấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi cũng đã mang tính chất giai cấp tự phát và đã đưa đến sự ra đời một
tổ chức vô sản cách mạng là “Đồng minh những người chính nghĩa”
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng
Ở Anh và Pháp, giai cấp tư sản đang là giai cấp thống trị, lại hoảng sợ trước cuộc đấutranh của giai cấp vô sản nên không còn là lực lượng cách mạng trong quá trình cải tạo dân chủnhư trước
Còn giai cấp tư sản Đức đang lớn lên trong lòng chế độ phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạolực cách mạng khi nhìn vào tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789, nay lại thêm sợ hãi trước sựphát triển của phong trào công nhân Đức Nó mơ tưởng biến đổi nền quân chủ phong kiến Đứcthành nền dân chủ tư sản một cách hoà bình
Vì vậy, giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ có sứ mệnh là “kẻ phá hoại”chủ nghĩa tư bản mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ
xã hội
Trang 93 Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác
Triết học, theo cách nói của Hêghen, là sự nắm bắt thời đại bằng tư tưởng Vì vậy, thựctiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng vô sản, đòi hỏi phải được soi sáng bởi lý luậnnói chung và triết học nói riêng
Những vấn đề của thời đại do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đặt ra đã được phản ánhbởi tư duy lý luận từ những lập trường giai cấp khác nhau, làm hình thành những học thuyết vớitính cách là một hệ thống những quan điểm lý luận về triết học, kinh tế và chính trị xã hội khácnhau
Điều đó được thể hiện rất rõ qua các trào lưu khác nhau của chủ nghĩa xã hội thời đó
Sự lý giải về những khuyết tật của xã hội tư bản đương thời, về sự cần thiết phải thay thế
nó bằng xã hội tốt đẹp, thực hiện được sự bình đẳng xã hội theo những lập trường giai cấp khácnhau đã sản sinh ra nhiều biến chủng của chủ nghĩa xã hội như: “chủ nghĩa xã hội phong kiến”,
“chủ nghĩa xã hội tư sản”, “chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản”…
Sự xuất hiện giai cấp vô sản cách mạng đã tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tiến
bộ và cách mạng mới
Đó là lý luận thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt để nhất tronglịch sử, do đó, kết hợp một cách hữu cơ tính cách mạng và tính khoa học trong bản chất của mình.Nhờ đó, nó có khả năng giải đáp bằng lý luận những vấn đề của thời đại đặt ra
Lý luận như vậy đã được sáng tạo nên bởi C.Mác và Ph.Ăngghen, trong đó triết học đóngvai trò là cơ sở lý luận chung: cơ sở thế giới quan và phương pháp luận “Giống như triết học thấygiai cấp vô sản là vũ khi vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thầncủa mình”
* Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác
Người còn chỉ rõ, học thuyết của Mác “ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những họcthuyết của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủnghĩa xã hội”
– Triết học cổ điển Đức, đặc biệt với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc, lànguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác
C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học Hêghen Sau này, cả khi
đã từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của triết học Hêghen, các ông vẫn đánh giá cao tư tưởng biện chứngcủa nó Chính cái “hạt nhân hợp lý” đó đã được Mác kế thừa bằng cách cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần
bí để xây dựng nên lý luận mới của phép biện chứng – phép biện chứng duy vật
Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, C.Mác đã dựa vào truyền thống củachủ nghĩa duy vật triết học mà trực tiếp là chủ nghĩa duy vật triết học của Phoiơbắc Đồng thời đãcải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính chất siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó
Từ đó Mác và Ăngghen xây dựng nên triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phépbiện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ
Với tính cách là những bộ phận hợp thành hệ thống lý luận của triết học Mác, chủ nghĩaduy vật và phép biện chứng đều có sự biến đổi về chất so với nguồn gốc của chúng Không thấyđiều đó, mà hiểu chủ nghĩa duy vật biện chứng như sự lắp ghép cơ học chủ nghĩa duy vật của triếthọc Phoiơbắc với phép biện chứng Hêghen, sẽ không hiểu được triết học Mác
Để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ, cả phépbiện chứng của Hêghen
Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hêghen
về cơ bản mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa”
Trang 10Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi phép siêu hình, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trởnên “hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hộiloài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”.
– Sự hình thành tư tưởng triết học ở Mác và Ăngghen diễn ra trong sự tác động lẫn nhau
và thâm nhập vào nhau với những tư tưởng, lý luận về kinh tế và chính trị – xã hội
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc là A Xmit và Đ.Ricacđô không những làm nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế mà còn là nhân tố không thểthiếu được trong sự hình thành và phát triển triết học Mác
Chính Mác đã nói rằng, việc nghiên cứu những vấn đề triết học về xã hội đã khiến ôngphải đi vào nghiên cứu kinh tế học và nhờ đó mới có thể đi tới hoàn thành quan niệm duy vật lịch
sử, đồng thời xây dựng nên học thuyết về kinh tế của mình
Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Xanh Ximông vàSáclơ Phuriê là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác
Đương nhiên, đó là nguồn gốc lý luận trực tiếp của học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội –chủ nghĩa xã hội khoa học
Song, nếu như triết học Mác nói chung, chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng là tiền đề lýluận trực tiếp làm cho chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng thành khoa học, thì điều đócũng có nghĩa là sự hình thành và phát triển triết học Mác không tách rời với sự phát triển nhữngquan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội của Mác
Vì vậy, cần tìm hiểu nguồn gốc lý luận của triết học Mác không chỉ ở nguồn gốc lý luận
về triết học mà cả trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác
• Tiền đề khoa học tự nhiên
Cùng với những nguồn gốc lý luận trên, những thành tựu khoa học tự nhiên là những tiền
đề cho sự ra đời triết học Mác Điều đó được cắt nghĩa bởi mối liên hệ khăng khít giữa triết học vàkhoa học nói chung, khoa học tự nhiên nói riêng
Sự phát triển tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức do các khoa học cụ thể đem lại
Vì thế, như Ăngghen đã chỉ rõ, mỗi khi khoa học tự nhiên có những phát minh mang tính chấtvạch thời đại thì chủ nghĩa duy vật không thể không thay đổi hình thức của nó
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phátminh quan trọng
Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính hạn chế và sự bất lực củaphương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới Phương pháp tư duy siêu hình nổi bật
ở thế kỷ XVII và XVIII đã trở thành một trở ngại lớn cho sự phát triển khoa học Khoa học tựnhiên không thể tiếp tục nếu không “từ bỏ tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng,bằng cách này hay cách khác”
Mặt khác, với những phát minh của mình, khoa học đã cung cấp cơ sở tri thức khoa học
để phát triển tư duy biện chứng vượt khỏi tính tự phát của phép biện chứng cổ đại, đồng thời thoátkhỏi vỏ thần bí của phép biện chứng duy tâm
Tư duy biện chứng ở triết học cổ đại, như nhận định của Ăngghen, tuy mới chỉ là “mộttrực kiến thiên tài”; nay đã là kết quả của một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ dựa trêntri thức khoa học tự nhiên hồi đó
Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vậtbiện chứng: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Thuyết tế bào và Thuyết tiến hóa củaĐácuyn
Với những phát minh đó, khoa học đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những dạng tồntại khác nhau, các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch
ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển của nó
Đánh giá về ý nghĩa của những thành tựu khoa học tự nhiên thời ấy, Ăngghen viết: “Quanniệm mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: tất cả cái gì cứng nhắc đều
bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người tacho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tựnhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu”
Trang 11Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sửkhông những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, đòi hỏiphải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền đề cho sự ra đời lý luận mới đã được nhânloại tạo ra
Câu 8: Trình bày khái niệm và chức năng của triết học Mác Lênin
* Khái niệm triết học Mác – Lênin:
Triết học Mác Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và các lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới
-* Chức năng của triết học Mác – Lênin:
- Thế giới quan:
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của con người trong thếgiới đó Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học Mác - Lênin đem lại thế giớiquan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản
+ Khái niệm thế giới quan:
Thế giới quan là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềmtin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí con người (bao hàm cả cá nhân, xã hội và nhân loại)trong thế giới đó Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhậnthức và hoạt động thực tiễn của con người
+ Các hình thức của thế giới quan:
Xét theo quá trình phát triển thì ta có thể chia thế giới quan ra thành 03 loại hình cơ bản:
∙Thế giới quan huyền thoại
∙Thế giới quan tôn giáo và
∙Thế giới quan triết học
+ Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng:
Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng cho conngười nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực Đây chính là “cặp kính” triết học để con người xemxét, nhận thức thế giới xét đoán mọi sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình Nó giúp cho conngười cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích
ý nghĩa của cuộc sống
Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp con người hình thành quan điểm khoa học địnhhướng mọi hoạt động Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình.Trên một ý nghĩa nhất định, thế giới quan cũng đóng một vai trò của phương pháp luận Giữa thếgiới quan và phương pháp luận trong triết học Mác - Lênin có sự thống nhất hữu cơ
Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người Thếgiới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Trình độ phát triển về thếgiới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhấtđịnh
Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thếgiới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học
- Phương pháp luận:
Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm những nguyên tắc xuất phát có vai trò chỉđạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt kếtquả tối ưu
Phương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp Triết học Mác –Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất cho nhận thức và thựctiễn
+ Khái niệm phương pháp luận:
Là hệ thống các nguyên lý, quan điểm (trước hết là những nguyên lý, quan điểm liên quanđến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi,
Trang 12khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như việc lựachọn, vận dụng phương pháp.
+ Vai trò của phương pháp luận duy vật biện chứng:
Được thể hiện trước hết là phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học Phươngpháp luận duy vật biện chứng trang bị cho con người hệ thống nhữung nguyên tắc phương phápluận chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
* Liên hệ chức năng của triết học Mác Lênin trong thực tiễn:
- Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học con ngườicần phải có tri thức khoa học cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn xã hội
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không được xem thường hoặc tuyệt đối hoáphương pháp luận triết học Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ sa vào tình trạng mòmẫm, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động, sáng tạo trong công tác
- Ngược lại, nếu tuyệt đối hoá vai trò của phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩagiáo điều và dễ bị vấp váp, thất bại Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp mọingười tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra
Câu 9: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? Rút ra ý nghĩa phương pháp luận.)
- Định nghĩa vật chất của Lênin : “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikhách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
- Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin :
+ Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức vàkhông lệ thuộc vào ý thức
+ Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho conngười cảm giác
+ Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng
+ Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chốngchủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúngtrong triết học tư sản hiện đại về phạm trù này
+ Trong nhận thức và thực tiễn, đòi hỏi con người phải quán triệt nguyên tắc khách quan + Là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội
+ Tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Câu 10: Vận động là gì? Nêu các hình thức của vận động
Định nghĩa vận động:
Định nghĩa vận động:
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Anghen viết:
“Vân động hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quátrình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
- Vận động là phương thức tồn tại vật chất:
+ Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều vận động:
Vận động là vận động của vật chất, không thể có vật chất không vận động và cũng không
Vất chất là vô cùng, vô tận, không sinh ra, không mất đi và vận động là một thuộc tínhkhông thể tách rời vật chất nên vận động không thể bị mất đi hoặc sáng tạo ra
Trang 13Những hình thức vận động cơ bản:
Định nghĩa vận động:
- Có 5 hình thức vận động:
+ Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian
+ Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quátrình nhiệt điện
+ Vận động hoá học: Vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải cácchất
+ Vận động sinh học: Sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường
+ Vận động xã hội: Sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế xãhội
- Các hình thức vận động được sắp xếp thứ tự từ trình độ thấp đến trình độ cao , tương ứngvới trình độ kết cấu vật chất
- Các hình thức vận động khác nhau về chất song chúng tồn tại biệt lập mà mối quan hệmật thiết với nhau
Quan điểm vận động:
Định nghĩa vận động:
- Khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động
- Khi tiến hành cải tạo sự vật, hiện tượng phải thông qua những những hình thức vốn có,đặc trưng của chúng
Câu 11: Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về vận động và đứng im.
Định nghĩa vận động trong Triết học Mác Lênin
Vận động là một phạm trù của triết học Marx-Lenin dùng để chỉ về một phươngthức tồn tại của vật chất (cùng với cặp phạm trù không gian và thời gian), đó là sự thay đổi của tất
cả mọi sự vật hiện tượng, mọi quá trình diễn ra trong không gian, vũ trụ từ đơn giản đến phức tạp
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì vận động không chỉ là sự thay đổi vịtrí trong không gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo nghĩa chung nhất,vận động là mọi sự biến đổi Thông qua vận động, vật chất mới biểu hiện và bộc lộ bản chất củamình
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất
- Vận động không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi mà nó tồn tại vĩnh viễn
- Nguồn gốc của vận động là do bản thân sự vật hiện tượng quy định (tự thân vậnđộng), do mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật tạo ra
Năm hình thức cơ bản của vận động:
- Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian
- Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, cácquá trình nhiệt, điện
- Vận động hóa học: Vận động của các nguyên tử, các quá trình hòa hợp và phângiải các chất
- Vận động sinh học: trao đổi chất của cơ thể sống với môi trường
- Vận động xã hội: Sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của hình thái kinh tế
Trang 14 Đứng im là tương đối, vì trước hết hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mốiquan hệ nhất định chứ không phải trong mọi quan hệ cùng một lúc.
Đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ khôngphải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc
- Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, đó là vận động trong thăngbằng, trong sự ổn định tương đối, biểu hiện thành một sự vật nhất định khi nó còn là nó chưa bịphân hóa thành cái khác Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật thực hiện được sự chuyển hóatiếp theo
- Đứng im còn được biểu hiện như một quá trình vận động trong phạm vi chất của
sự vật còn ổn định, chưa thay đổi Theo Engels thì "vận động riêng biệt có xu hướng chuyểnthành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt"
Quan điểm của vận động:
- Quan điểm vận động là nội dung chủ yếu của phép biện chứng Nội dung ba quyluật của phép biện chứng là phần cơ bản trong quan điểm biện chứng về vận động Quan điểmbiện chứng về vận động có nội dung sâu sắc và là cơ sở lý luận đúng đắn đối với việc nhận thứccác vấn đề khoa học cụ thể
- Kết luận vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của nó, do đó trong sự tồn tạicủa vật chất tất yếu phải có sự đứng im Tuy nhiên, đứng im chỉ là tương đối bởi; Đứng im chỉxảy ra trong mối quan hệ với một hệ thống này, nhưng trên thực tế lại nằm trong trạng thái vậnđộng của mối quan hệ với hệ thống khác Đứng im chỉ là một trạng thái đặc thù của vận độngtrong cân bằng, trong sự ổn định tương đối, tức sự vận động vẫn còn trong giới hạn, trong sự bảotoàn cấu trúc và chất của sự vật Trạng thái ấy cũng chỉ là tạm thời, nó chỉ xuất hiện trong mộtthời gian và không gian nhất định, sự vận động tuyệt đối sẽ làm cho sự vật biến đổi chuyển thànhcái khác Qua việc chứng minh vật chất vận động hay đứng im đã cho thấy rõ việc vận động luônluôn xảy ra đối với vật chất và có thể khẳng định một điều rằng : “Vận động là phương thức tồntại của vật chất” theo đúng quan điểm của Ăngghen và Mác Lê-Nin, điều này hoàn toàn có thểxảy ra
Câu 12: Phân tích quan điểm của triết học MácLênin về nguồn gốc tự nhiên của
ý thức
Khái Niệm: Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lenin là một phạm trù song songvới phạm trù vật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc conngười và có sự cái biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất”
Nguồn gốc của ý thức:
- Quan niệm của CNDT: Ý thức là một lực lượng siêu nhiên như chúa trời, thần linh thổivào con người từ đó con người có ý thức
- Quan điểm CNDVBC: Ý thức ra đời từ 2 nguồn gốc tự nhiên và xã hội:
* Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ ócngười, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc
+ Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất, phản ánh là sự tái tạonhững đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quá trình tácđộng qua lại của chúng
+ Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì sự phản ánh càng phức tạp bấynhiêu:
Ví dụ: một vật vô cơ cũng có đặc tính phản ánh như mặt nước, mặt gương… đây là sựphản ánh đơn giản, thụ động, không có phân biệt lựa chọn
Phản ánh ở sinh vật sống là bước phát triển mới về chất trong sự tiến hoá Đầu tiên là ởtính kích thích→ tính cảm ứng→ phản xạ
Có thể chia ra thành:
- Phản ánh vật lý, hóa học: đây là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vôsinh, thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa (thay đổi vị trị, kết cấu…) Sự phản ánh này mangtính thụ động, chưa có sự định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
Trang 15- Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn,m đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh,phản ánh sinh học được thể hiện qua các kích thích, tính cảm ứng, phản xạ… ( thay đổi chiềuhướng phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc ).
- Phản ánh tâm lý: là ảnh ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên
cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện
- Phản ánh năng đông sáng tạo, là hình thức phản ánh cao nhất Nó chỉ được thực hiện ởdạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất đó là bộ nào người
Não người có thuộc tính chung là phản ánh, sự phản ánh ở bộ não người rất phứctạp Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới Ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn pháttriển cao của thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người
Sự phản ánh này được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộnão người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh
có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới
Như vậy bộ não người và sự tác động của thế giới vật chất xung quanh nên bộ nãongười là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
VD: Quan sát hiện tượng nhật thực, hình ảnh nhật thực trong não chính là kết quả của sựphản ánh hiện tượng nhật thực ở bên ngoài vào trong não Do đó hình ảnh nhật thực bên ngoàichính là chất liệu để xây dựng nên hình ảnh bên trong não của chúng ta Như vậy não người vàthế giới khách quan chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Câu 13: Phân tích quan điểm của triết học Mác- Lênin về nguồn gốc xã hội của ý thức
1 Ý Thức là gì?
- Theo định nghĩa của triết học Mác – Lenin là một phạm trù được quyết định với phạmtrù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có
sự cải biến và sáng tạo
2 Theo quan điểm của Chủ nghĩa duy tâm
- Khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tinh thần và thuộc về ý thức
- Tức ý thức có trước sự vật có sau
- Chủ Nghĩa Duy Tâm thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng địnhmọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, chủ thể
Như quan điểm của Béccơly cho rằng ‘‘Tồn tại nghĩa là được cảm nhận.’’
- Chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó không phải là ýthức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sựtồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy
3 Theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc tự nhiên:
- Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của
nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, trong đó, thế giới khách quan tácđộng đến bộ óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giớikhách quan Như vậy, ý thức là sự phản ánh của con người về thế giới khác quan
+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu hình.Tương ứng quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua
Trang 16tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậcthấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc,… Khinhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinhtạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điểu khiển của quá trình thần kinh qua cơ chếphản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống
+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có hệthần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tácđộng của môi trường sống
+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động, sáng tạo chỉ có ở con người Đây là
sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới,phát triển ý nghĩa của thông tin
Nguồn gốc xã hội:
- Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động
và ngôn ngữ
- Lao động:
+ Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể
+ Là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới
tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người
+ Là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vậtchất giữa mình
+ Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giớikhách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiệnthành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được
- Ngôn ngữ:
+ Là ‘‘cái vỏ vật chất’’ của ý thức, tức hình thức vật chất nhân tạo đóng vai trò thể hiện vàlưu giữ các nội dung ý thức
+ Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động
+ Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu cần phải cóphương tiện để giao tiếp, trao đổi tri thức, tình cảm, ý chí,… giữa các thành viên trong cộng đồngcon người Nhu cầu này làm cho ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao độngsản xuất cũng như trong sinh hoạt xã hội
Câu 14: Trình bày quan điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất và kết cấu theo chiều ngang của ý thức
- Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác-Lênin là một phạm trù song song với phạm trùvật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có
sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh khách quanvào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung của ý thức
do thế giới khách quan quy định Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằmtrong bộ não con người
+ Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quanvào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải
cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức
+ Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang tính chất xã hội: Ý thức không phải là mộthiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-
xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan
- Kết cấu theo chiều ngang của ý thức:
a) Tri thức:
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự táitạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ Tri thức là phương
Trang 17thức tồn tại của ý thức, là điểu kiện để ý thức phát triển tri thức gồm tri thức thông thường, trithức khoa học, tri thức lý luận, tri thức kinh nghiệm
b) Tình cảm:
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ trong các quan hệ Tình cảm là một hìnhthái đặt biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể củacon người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh Tình cảm là biểu hiện và sự phát triển trong mọilĩnh vực đời sống của con người, là một yếu tố phát huy sức mạnh động lực thúc đẩy hoạt độngnhận thức
Câu 15: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức Ỹ nghĩa phương pháp luận
Khái niệm vật chất:
Vật chất là phạm trù để chỉ thực tại khách quan được cảm giác của con người ghi lại, chụplại Vật chất là cái phản ánh, là hiện thực khách quan, không phụ thuộc vào cảm giác, không vìcảm giác của con người mà bị biến đổi hay mất đi
Khái niệm về ý thức:
Ý thức trong triết học Mác – Lênin là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan trong bộ óccủa con người một cách có cải biến và sáng tạo Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan củathế giới khách quan trong bộ não con người, là phản ánh tích cực, tự giác, chủ động thế giới kháchquan
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Mối quan hệ của vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau Mốiquan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong triết học gồm:
Nếu không có vật chất tự nhiên, vật chất trong xã hội thì không thể có ý thức Mặc dù ýthức có tính sáng tạo nhưng đều phải lấy cơ sở từ vật chất và tuân theo những quy luật của vậtchất Vì vậy nó quyết địnhn sự vận động và phát triển của ý thức
Ví dụ: Ở nước ta, trình độ tin học và ngoại ngữ của học sinh nông thôn sẽ thấp hơn trẻ emthành phố do điều kiện học tập, cơ sở vật chất không đầy đủ Nếu được đáp ứng đầy đủ cơ sở vậtchất thì kết quả, trình độ tin học, ngoại ngữ của trẻ em nông thôn cũng sẽ được tăng lên đáng kể
Ý thức tác động trở lại vật chất – vật chất và ý thức cái nào có trước
Mặc dù là thứ có sau nhưng ý thức không hề thụ động mà nó có thể tác động ngược trở lạivật chất bằng các hoạt động thực tiễn của con người Mọi hoạt động của con người đều do ý thứcchỉ đạo nên ý thức sẽ trang bị cho con người những hiểu biết về thế giới khách quan Trên cơ sởnhững hiểu biết đó, con người xây dựng được các kế hoạch, phương pháp, phương tiện… để thựchiện mục tiêu của mình
Trang 18Ý thức tác động ngược trở lại thế giới vật chất thể hiện ở vai trò của con người đối với thếgiới khách quan Qua hoạt động của con người, ý thức có thể thay đổi và cải tạo hiện thực theonhu cầu phát triển Mức độ tác động sẽ phụ thuộc vào nhu cầu, ý chí, điều kiện môi trường,…
Tuy nhiên, ý thức không thể thoát ly hiện thực khách quan mà sức mạnh của ý thức đượcchứng tỏ bằng việc nhận thức khách quan, xây dựng các kế hoạch, mục tiêu để tác động ngược trởlại khách quan Nếu sự tác động này là tích cực thì sẽ thúc đẩy xã hội phát triển Hoặc kìm hãmlịch sử, phá vỡ sự phát triển nếu như ý thức tác động tiêu cự lên vật chất, phản ánh sai lệch cácquy luật khách quan
Xã hội phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng cao, nhất là trong thời đại ngày nay
Ví dụ: Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức đúng về kinh tế đất nước, xu hướng phát triển
để kịp thời chuyển nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Nhờ đó mà kinh tếnước nhà đã có nhiều khởi sắc và có thể phát triển như hiện nay
Ý nghĩa phương pháp luận – vật chất và ý thức cái nào có trước
Tôn trọng sự thật khách quan, xuất phát từ sự thật khách quan trong mọi hoạt động
Ý thức mà con người tiếp thu được từ các hoạt động quan sát, phân tích sẽ tác động ngượctrở lại vật chất Để cải tạo thế giới khách quan, con người phải căn cứ vào những thuộc tính, quyluật của khách quan để đánh giá, xác định các phương pháp, kế hoạch để không làm ảnh hưởngđến sự phát triển của thực tế khách quan, của xã hội
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế làm căn cứ cho các hoạt động Tuyệt đốikhông được lấy ý thức chủ quan của mình khi đưa ra các chính sách, chiến lược
Phát huy tính năng động và sáng tạo tích cực của ý thức
Sau khi biết được vật chất và ý thức cái nào có trước, chúng ta cần biết cách phát huy tínhsáng tạo của ý thức và sức mạnh to lớn của yếu tố con người Theo đó, con người cần phải nhậnthức đúng quy luật khách quan, tích cực và chủ động phát huy khả năng của mình, tìm tòi, sángtạo cái mới
Mỗi người cần thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và nâng cao năng lực của mình.Không được thụ động, ỷ lại, lười suy nghĩ, lười lao động Phải khắc phục bệnh chủ quan duy ýchí, bệnh bảo thủ trì trệ hoặc ác thái độ tiêu cực, thụ động,…
Mỗi quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này,vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thứckhông hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn củacon người
Ví dụ: Trước 1 trận đánh làm quyết tâm thư, tự phê bình và phê bình, rút ra những nhượcđiểm để tiến bộ, ưu điểm để phát huy và tự khắc phục những mặt tiêu cực
Câu 16: Trình bày cơ sở lý luận, yêu cầu và ý nghĩa của nguyên tắc khách quan + Cơ sở lý luận :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý vềtính thống nhất vật chất của thế giới Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhậnthức khách thể ( đối tượng ), sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắmbắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện
- Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triểnnhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quátrình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta vềđối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt”đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng Không ép đối tượng thỏamãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạotrong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó
- Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sựtìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào
“thế giới” bên trong của sự vật “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiệntượng một cái gì đó xa lạ với chính nó Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn Làmnhư thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp
Trang 19với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tínhnăng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng
- Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình ra thànhcác hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì bộc lộ ra trước chủthể Do đó để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sungnhững yếu tố chủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đóan khoa học ….Thiếu nhữngđiều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trítưởng tượng của chính mình Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể đòi hỏi chủthể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm ra bản chất của nó Những biến đổi, cảitạo đó là chủ quan nhưng không phải tùy tiện, mà là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợpquy luật của hiện thực thuộc lĩnh vực nghiên cứu
- Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức các hiệntượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cái vật chất và cái tinh thần chứa đầynhững cái chủ quan, những cái lý tưởng và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tựnhiên lẫn lực lượng tự giác ( ý chí,lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau ) của con người
Ơû đây đối tượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thống những mối liên
hệ chằng chịt Do đó cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xãhội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể vànguyên tắc tính đảng Điều này có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ baohàm yêu cầu xuất phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, khôngđược thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với nhữngquan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan, thừa nhận các quan hệ vậtchất khách quan tồn tại xã hội là nhân tố quyết định.còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởngđược quy định bởi đời sống vật chất của con người và các quan hệ kinh tế của họ nhưng chúng cóảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội Phải coi xã hội là một là một cơ thể sống tồn tại và phát triểnkhông ngừng chứ không phải là cái gì đó kết thành một cách máy móc Phân tích một cách kháchquan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiêncứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó
- Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm vànăng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối vớikhuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội
….những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá,những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiêntiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy tính khách quan trong xem xét cáchiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫnđến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa kháchquan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp
+ Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc kháccủa lôgíc biện chứng Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau :
• Trong hoạt động thực tiễn :
Chủ thể phải :
Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó.Hai là : Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìmkiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động
Trang 20của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức
có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trò nhân tố conngười trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lênlàm chủ thế giới
Câu 17: Phân tích khái niệm và tính chất của mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm mối liên hệ
Là 1 Phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động, ràng buộc, quy định, chuyển hóa lẫn nhaugiữa các yếu tố, các mặt trong 1 sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau
* Khái niệm mối liện hệ phổ biến
Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính phổ biến của mối liên hệ, của các sự vật hiện tượngtrong thế giới và các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật hiện tượng trong thế giới Mối liên hệ phổbiến nhất là liên hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất, mối liên hệ giữa bản chất
và hiện tượng
* Nội dung
- Tính khách quan
+ Các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thếgiới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhaucủa các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập khôngphụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ
đó trong hoạt động thực tiễn của mình
+ Sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng là cái vốn
có của nó,tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người?
- Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thếgiới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làmchuyên hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó,tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vậndụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
- Tính phổ biến
+ Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kỳkhông gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượngkhác Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật,hiện tượng
+ Không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sựvật, hiện tượng hay quá trình khác
- Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồntại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất
cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thànhvới những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơnnữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫnnhau
Trang 21-thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng nhất định, trong những điều kiệnxác định
+ Phân loại liên hệ: mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu,mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
- Liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài
• Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa các yếu tố, các
bộ phận, các thuộc tính, các mặt khác nhau… trong cùng một sự vật Nó giữ vai trò quyết định đốivới sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật
• Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau Nhìnchung, nó không có ý nghĩa quyết định Mối quan hệ này thường phải thông qua mối liên hệ bêntrong để phát huy tác dụng
- Liên hệ chủ yếu và thứ yếu; liên hệ trực tiếp và gián tiếp
Cách phân loại này nói đến vai trò quyết định đối với sự vận động, phát triển của sự vật.+ Vận dụng tính chất của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong nhận thức và hoạt độngthực tiễn
* Mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Trong đó:+ Quan điểm toàn diện: Khi xem xét bất cứ 1 sự vật hiện tượng nào, chúng ta phải đặt nótrong quan hệ với sự vật hiện tượng khac, phải nghiên cứu các mặt cấu thành của nó, các quá trìnhphát triển của nó, từ trong tổng số mối liên hệ, tìm ra mối liên hệ bản chất chủ yếu …
* Về Mặt thực tiễn:
+ Ý nghĩa 1: Để cải tạo sự vật thì phải có giải pháp đồng bộ, toàn diện Chọn lĩnh vực nào
là chủ yếu
Trong Công tác quản lý thì phải phân cấp quản lý
+ Ý nghĩa 2: Chống quan niệm siêu hình:
Không thấy được trọng tâm, trọng điểm, đánh giá tràn lan các mối liên hệ , không thấy đâu
là chủ yếu đó là siêu hình Chống chủ nghĩa chết chung và thuận nghị biện Trong đó, chủ nghĩachết chung là Kết hợp 1 cách vô nguyên tắc giữa các sự vật hiện tượng
+ Ý nghĩa 3: Khi giải quyết 1 vấn đề cần xem xét các yếu tố cấu thành liên hệ mật thiết,phải xem xét yếu tố lịch sử hình thành trong mối tương quan với hiện tại
Câu 18: Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối quan
hệ phổ biến
1 Khái niệm mối liên hệ
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ: sự quy định, sự tác động vàchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,hiện tượng trong thế giới
Mối quan hệ được hiểu là sự tác động qua lại giữa hai (hoặc nhiều hơn hai) đối tượng hoặchai (hoặc nhiều hơn hai) nhóm đối tượng có liên quan với nhau Trong biện chứng, khái niệm mốiliên hệ dùng để chỉ: sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng,hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
2 Mối liên hệ phổ biến
Khái niệm mối liên hệ phổ biến được sử dụng với hai hàm nghĩa cụ thể như sau:
Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ (ví dụ: khi khẳng định rằng mối liên hệ làcái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào,lĩnh vực nào)
Đồng thời, khái niệm này cũng dùng để chỉ: những liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều
sự vật, hiện tượng của thế giới (tức là dùng để phân biệt với khái niệm các mối liên hệ đặc thù chỉbiểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng, hay lĩnh vững nhất định)
Liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóalẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt trog 1 sự vật hiện tượng
3 Nội dung mối quan hệ phổ biến
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản củacác mối liên hệ - Tính khách quan của các mối liên hệ
Trang 22Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thếgiới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhaucủa các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập khôngphụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ
đó trong hoạt động thực tiễn của mình
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồntại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất
cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thànhvới những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơnnữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫnnhau
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Quan điểm biện chứng của chù nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan,tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượnghay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhauđối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiệntượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quátrình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau
Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khácnhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là các mối liên
hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu,mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, v.v của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sựthể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sựvật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
4 Ý nghĩa mối quan hệ phổ biến
- Nguyên tắc toàn diện
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, đa dạng, do
đó muốn nhận thức đúng và từ đó có phương pháp tác động có hiệu quả vào mỗi sự vật phải cóquan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét đầy đủ các mối liên hệ của sự vật
đó với các sự vật khác; liên hệ trực tiếp và cả mối liên hệ gián tiếp; đồng thời xem xét các mốiliên hệ giữa các yếu tố, thuộc tính bên trong của sự vật V.I Lênin viết: “ Muốn thực sự hiểuđược sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan
hệ gián tiếp” của sự vật đó
- Nguyên tắc lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạtđộng thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huốngphải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mốiliên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và cóhiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn khôngnhững cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắcphục quan điểm chiết trung, ngụy biện
Trang 23Khi bạn muốn trồng một cái cây Bạn phải có hạt giống và đất Bạn phải tưới nước cho nómỗi ngày Đồng thời phải cho nó quang hợp, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Chỉ có như vậy thì hạt mới nảy mầm Nếu như không có những điều kiện kết, hạt giống sẽkhông bao giờ nảy mầm Có thể thấy rằng giữa hạt giống và môi trường xung quanh có mối liên
hệ nhất định
6 Vận dụng
Vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước
Đảng ta đưa ra những đổi mới trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị,
xã hội, văn hóa, tư tưởng…) chứ không ở một lĩnh vực nào
Như Đại hội VII của Đảng nêu kinh nghiệm bước đầu đổi mới “Một là phải giữ vững địnhhướng XHCN trong quá trình đổi mới, hai là đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải cóbước đi hình thức và cách làm phù hợp”
Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.Trên từng lĩnh vực nội dung đổi mới bao gồm nhiều mặt đổi mới cơ chế, chính sách tổ chức, cán
bộ, phong cách và lề lối làm việc
Đổi mới toàn diện trên tất cả lĩnh vực, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm như xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường để tạo ra động lực nhằm phát huy, kiến trúc nền kinh tế trongnhân dân, khai thác vốn đầu tư và trình độ cũng như vốn của nước ngoài, nâng cao tay nghề, tiếpthu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đã gia nhậpWTO, tạo ra rất nhiều thuận lợi cho kinh tế VN ngày càng đi lên hội nhập toàn cầu hóa kinh tếthế giới
Đó là sự vận dụng hết sức sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào sự nghiệp cách mạng VNđặc biệt là vận dụng nguyên lý của mối liên hệ phổ biến
Câu 19: Làm rõ cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch
sử - cụ thể
* Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử, cụ thể :
-Nguyên lý về mối liên phổ biến của phép biện chứng duy vật:
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động vàchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của cácmối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệtồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là nhữngmối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phépbiện chứng Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cáichung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, v.v Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giớivừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vinhất định Đồng thời, cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệđặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộnhững mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại,tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự hiên, xã hội và tư duy
- Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể:
Quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương phápluận của phép biện chứng duy vật Chúng được xây dựng trên cơ sở lý giải theo quan điểm duyvật biện chứng về tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú của các mối liên hệcủa tất thảy các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nội dung chính của quan điểm toàn diện
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt, nhiều mốiquan hệ của nó Thực hiện điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh được hoặc hạn chế được sự phiếndiện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tìnhhuống thực tiễn, nhờ đó tạo ra khả năng nhận thức đúng được sự vật như nó vốn có trong thực tế
và xử lý chính xác, có hiệu quả đối với các vấn đề thực tiễn
- Nội dung chính của quan điểm lịch sử cụ thể
Trang 24Trong nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong các mối quan hệ và tình huốngxác định, các giai đoạn vận động, phát triển xác định; cũng tức là: khi nhận thức và xử lý các tìnhhuống thực tiễn cần phải tránh quan niệm chung chung trừu tượng, thiếu tính xác định lịch sử cụthể; tránh chiết trung, nguỵ biện.
Như vậy, khi thực hiện quan điểm toàn diện cần phải luôn luôn gắn với quan điểm lịch sử
cụ thể thì mới có thể thực sự nhận thức chính xác được sự vật và giải quyết đúng đắn, có hiệu quảđối với các vấn đề thực tiễn
Ví dụ 1:
Khi phân tích bất cứ một đối tượng nào, chúng ta cũng cần vận dụng lý thuyết hệ thống,tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, bộ phận nào với những mối quan hệ ràngbuộc và tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ởmỗi yếu tố (thuộc tính “trời”); mặt khác, cũng cần phải xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó,tức là xem xét nó trong mối quan hệ với các hệ thống khác, với các yếu tố tạo thành môi trườngvận động, phát triển của nó…
-Tình hình dịch bệnh COVID-19 hiện nay
Cho đến hết quý I năm 2021, tình hình dịch bệnh ở nước ta vẫn trong tầm kiểm soát Các
ca nhiễm mới trong nước hầu hết đều được phát hiện khi đã ở trong khu vực cách ly Các canhiễm trong cộng đồng chỉ là cá biệt và được phát hiện, khoanh vùng và đưa đi cách ly ngay saukhi nghi mắc hay có kết quả xét nghiệm dương tính
Tuy vậy, với việc các biến chủng mới liên tục xuất hiện với tính chất lây lan nhanh hơn sovới chủng loại ban đầu và sự lơ là chủ quan của một số địa phương cũng như người dân nên tìnhhình dịch bệnh từ quý II/2021 trở nên cực kỳ phức tạp và nghiêm trọng Đặc biệt là sau kỳ nghỉ lễ30/4 – 01/05 Tính đến ngày 13/9/2021, Việt Nam có tổng số khoảng 613.000 ca mắc, số tử vong
là 15,279 người Mỗi ngày trong nước ghi nhận khoảng 10.000 ca dù vẫn có hàng nghìn các cabệnh khỏi và đủ điều kiện về cách ly tại nhà Tình hình dịch bệnh nghiêm trọng nhất là ở các tỉnhphía Nam bao gồm: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Long An
- Đánh giá sự vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể trong công tác phòng chống dịch COVID 19 ở Việt Nam
Công tác chống dịch của nước ta luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm, chỉđạo rất mạnh mẽ Do đó Nhà nước cũng đã đưa ra những chính sách phù hợp, linh hoạt, mạnh mẽtheo hướng đổi mới, sáng tạo vận dụng theo quan điểm lịch sử - cụ thể như kim chỉ nam để phùhợp với từng thời điểm diễn ra trên thực tế Công tác phòng chống dịch COVID 19 ở nước ta đạtđược những kết quả, cũng có những hạn chế trong công tác này, cụ thể như sau:
Những kết quả đạt được
Thứ nhất, Việt Nam đã huy động mọi nguồn lực và cả hệ thống chính trị vào cuộc Ngay
từ những ngày đầu khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát, Việt Nam đã chủ động huy động sứcmạnh của cả hệ thống chính trị trên toàn quốc cùng phòng chống dịch Hàng loạt văn bản chỉ đạocủa Đảng, Chính phủ được ban hành, nhiều phương án, biện pháp phòng chống được triển khainhằm nhắc nhở người dân mức độ nguy hại của dịch bệnh, đồng thời nâng cao nhận thức và sựđồng thuận, thống nhất giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương Cáchoạt động phòng chống dịch không chỉ được thực hiện bởi ngành y tế, mà còn có sự tham gia củalực lượng vũ trang, ngoại giao, các cơ quan thông tấn, báo chí Các chủ trương, chính sách củaĐảng và Chính phủ được nhân dân ủng hộ, chung tay thực hiện
Thứ hai, tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý và thể chế tương đối đầy đủ, rõ ràng, minh
bạch và hiệu quả đối phó với dịch bệnh và nhấn mạnh bảo vệ quyền con người Để đối phó với
Trang 25dịch bệnh, Việt Nam đã có khung pháp lý và thể chế tương đối đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và hiệuquả Về pháp lý, có thể khẳng định, các chỉ đạo, bước đi trong công tác lãnh đạo của Đảng vàChính phủ đều dựa trên cơ sở đánh giá thực tiễn và luật pháp (đơn cử là Luật phòng, chống bệnhtruyền nhiễm có hiệu lực từ 1/7/2008.) Trong thời gian đối phó với đại dịch COVID-19, Nhànước đã đưa ra nhiều văn bản cấp thiết đối với tình hình, trong đó có Quyết định số 447/QĐ-TTgcông bố dịch bệnh trên cả nước, đồng thời bắt buộc thực hiện các quy định trong các văn bản, chỉthị của Thủ tướng như Chỉ thị 16/CT-TTg.
Thứ ba, Việt Nam có những quyết sách nhanh chóng, kịp thời và quyết liệt Căn cứ tình
hình thực tế, Chính phủ Việt Nam đưa ra những chỉ thị, nghị định, mang tính hành động nghiêmkhắc, quyết liệt Ngày 28/1/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Chỉthị số 05/CT-TTg về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus SARS-CoV-2 gây
ra Đồng thời, để đẩy lùi những khó khăn về mặt kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã banhành những chính sách, nghị định về hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đời sống nhân dân vàphát triển doanh nghiệp; Chính phủ ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợngười dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Đến đợt dịch thứ 4 kể từ tháng 05/2021, do tìnhhình dịch bệnh tại Việt Nam chuyển biến có nhiều ca lây nhiễm cộng đồng không kiểm soát được
do đó các Chỉ thị 15, Chỉ thị 16 và Chỉ thị 19 đều là những chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ vềcác biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 được ban hành để phù hợp từng địa phương trongnhững thời điểm khác nhau Không chỉ có những quyết sách kịp thời, Việt Nam còn thường xuyêncập nhật và tuyên truyền cho người dân qua nhiều kênh thông tin
Thứ tư, Chính phủ Việt Nam đưa ra những quyết sách tạo sự công bằng Trong ứng phó
với dịch bệnh, Việt Nam đã có cách tiếp cận công bằng với mọi đối tượng khác nhau trong xã hội,không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo Các chỉ thị của Đảng và Chính phủ đều bảo đảm đểmọi người dân đều được tiếp cận với các cơ sở, dịch vụ y tế và vật tư y tế
Thứ năm, trong ứng phó với dịch COVID-19, trách nhiệm giải trình được thể hiện qua
trách nhiệm trong nội bộ và trách nhiệm đối với xã hội Trách nhiệm trong nội bộ được nêu rõtrong các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư và Chính phủ Chẳng hạn, chỉ thị 19/CT-TTg của Thủ
tướng nêu rõ: “Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục ( ) đề cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch” Theo đó, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện
nghiêm túc các chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, giải trình với Chính phủ, Thủ tướngcác vấn đề trong quá trình phòng chống dịch bệnh
5.2 Những vấn đề còn hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, công tác phòng chống dịch COVID 19 cũng còn những bất cập
do dịch bệnh phức tạp với biến thể mới xảy ra trên diện rộng, nguồn lực trong nước chưa kịp thờiđáp ứng đầy đủ, cụ thể:
Thứ nhất, hành lang pháp lý và thể chế đối phó với dịch bệnh còn cứng nhắc chưa phù hợp
với thực tế Đặc biệt kể từ đợt dịch thứ 4 bùng phát, tại một số địa phương có những khung pháp
lý khi áp dụng vào thực tế còn cứng nhắc, chưa phù hợp Điển hình là vấn đề “Giấy đi đường” tạikhu vực TP Hà Nội, theo đó từ những ngày triển khai loại giấy tờ này để kiểm soát người đi lại đã
gặp không ít khó khăn Tại Công văn số 2562/UBND-KT của UBND TP Hà Nội thì kể từ “0h ngày 23/8/2021, người lao động tại các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ được phép hoạt động phải xuất trình Giấy đi đường hoặc danh sách kèm theo
có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi đơn vị hoạt động” Và thời điểm TP Hà Nội đưa
ra thông báo muộn, dẫn đến sáng hôm sau khi ban hành công văn thì ghi nhận tại UBND một sốphường, số lượng người đến “xin xác nhận” khá đông Gần đây nhất tại TP Hà Nội đề nghị xétcấp giấy đi đường mẫu mới từ 6/9/2021 Muốn có mẫu giấy đi đường mới cấp cho nhân viên sửdụng từ ngày 6-9, ngay trong ngày chủ nhật hôm nay, các doanh nghiệp sẽ phải "vắt chân lên cổ"triển khai các bước đề nghị xét duyệt và cấp giấy, mà mỗi bước đều phải qua các cơ quan côngquyền
Thứ hai, các quyết sách của chính phủ Việt Nam phát huy hiệu lực và đạt hiệu quả chưa
cao Việc giãn cách xã hội quá nhiều ngày từ khi dịch bùng phát mạnh khiến nhiều người gặp khó
Trang 26khăn do dịch đã chạy xe máy về quê vì nếu còn tiếp tục ở lại không có thu nhập mưu sinh Trênthực tế vẫn còn nhiều trường hợp không chứng minh được dẫn đến “không đủ điều kiện” để đượchưởng trợ cấp do dịch, dẫn đến việc người dân không chấp hành Chỉ thị, chống đối
Thư ba, nguy cơ vỡ chuỗi cung ứng Kể từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam
đến nay, cộng đồng doanh nghiệp vẫn nỗ lực duy trì sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, riêng vềmặt kinh tế, tác động nguy hiểm khác với những lần bùng phát dịch trước là ứng xử của các địaphương với dịch lần này đã gây ra đổ vỡ chuỗi cung ứng Làn sóng bùng phát Covid-19 diễn ra tạiBắc Ninh, Bắc Giang đã khiến nhiều nhà máy hoạt động dưới công suất ở các tỉnh miền Bắc vớirất nhiều nhà cung cấp cho Apple, Samsung và các công ty công nghệ toàn cầu khác Bốn doanhnghiệp cho Reuters biết rằng hoạt động của họ đã bị ảnh hưởng do một số khu vực đã bị đóngcửa, làm dấy lên lo ngại về sự gián đoạn chuỗi cung ứng Ngoài ra, còn là khó khăn của toàn thểcác doanh nghiệp lớn, nhỏ nếu tiếp tục diễn biến phức tạp sẽ nhiều doanh nghiệp phá sản, mất khảnăng thanh toán,
5.3 Phương hướng khắc phục
Một là, trong các hành lang pháp lý như chỉ thị, quyết định và hướng về phòng, chống dịch
COVID-19 của Đảng, Nhà nước ngoài nhanh chóng, kịp thời, quyết liệt còn cần phải đặt các quyđịnh này trong quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa trong các hình thức biểu hiện với khônggian và thời gian nhất định
Hai là, mọi thông tin liên quan đến dịch COVID-19 và hoạt động phòng, chống dịch của
chính phủ phải được công bố đầy đủ, cập nhật, rõ ràng, dễ truy cập và dễ hiểu đối với mọi ngườidân Mọi người dân đều phải được tiếp cận để có thể nhận thức được vấn đề nghiêm trọng trongviệc phòng chống dịch COVID 19 để có thể tạo được sự đồng thuận trong xã hội
Ba là, các quyết sách của Nhà nước cần đi vào thực tế triển khai Bổ sung thêm nguồn
ngân sách hỗ trợ các Doanh nghiệp, người dân thất nghiệp do đại dịch COVID 19, cũng như kêugọi các tỉnh thành chung tay quyên góp hỗ trợ những khu vực còn khó khăn, và thực tế đến tận taycác hoàn cảnh, không để xảy ra các vấn đề trung gian Triển khai các chính sách hỗ trợ tới từngngười dân bị ảnh hưởng Covid để người dân sớm ổn định đời sống trong và sau dịch bệnh Đồngthời, các tổ chức doanh nghiệp cần có chính sách hỗ trợ trong thời gian dịch sớm ổn định sản xuất
và phát triển kinh tế
Bốn là, Nhà nước cần đẩy mạnh việc tiếp cận nguồn vắc xin ngoài nước và đẩy nhanh quá
trình nghiên cứu vắc xin trong nước để chủ động hơn nữa trong công tác đẩy lùi dịch bệnh
Năm là, hài hòa giữ việc chống dịch COVID 19 và tạo một nền kinh tế có sức chịu đựng
và ứng biến linh hoạt, một nền văn hóa nhân văn, một đất nước tươi đẹp, an toàn, một dân tộc tử
tế Đại dịch COVID-19 có thể làm đứt gãy các chuỗi giá trị toàn cầu, định hình lại toàn cầu hóa vàliên kết kinh tế song những giá trị nói trên là bất biến và bất cứ đối tác nào cũng mong muốn làmbạn, nhà đầu tư nào cũng cần đến để làm ăn lâu dài
Câu 20: Phân tích khái niệm và tính chất của sự phát triển.)
- Theo quan điểm siêu hình phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không
có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi
ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chấtmới Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liêntục, không có bước quanh có, phức tạp
Trang 27- Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sựvật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng caonhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
b, Nội dung
- Tính khách quan của sự phát triển được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động vàphát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng là quá trình giải quyết mâuthuẫn của sự vật, hiên tượng đó Tính chất này là thuộc tính tất yếu không phụ thuộc vào ý thứccon người
Ví dụ: Hạt lúa, hạt đầu khi có nước, đất, chất dinh dưỡng, ánh sáng dù không có con
người nhưng nó vẫn phát triển
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mộtlĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật và hiện tượng trong quá trình, mọi giaiđoạn của sự vật hiện tượng đó Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến
sự ra đời phù hợp với quy luật khách quan
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môitrường
Ví dụ: Người ở Miền Nam ra công tác làm việc ở Bắc thời gian đầu với khí hậu thay đổi
họ sẽ khó chịu nhưng dần họ quen và thích nghi
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức độngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người
Ví dụ: Mức sống của dân cư xã hội sau lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước.
+ Trong tư duy : Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tựnhiên và xã hội
Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây.
- Tính kế thừa: sự vật, hiện tượng mới ra đời không phải là phủ định sạch trơn vật cũ mà là
sự kế thừa những yếu tố tích cực, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự phát triển Sựphát triển tạo ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ phận,đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu cực,lạc hậu, không tích hợp của cái cũ Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác trên
cơ sở kế thừa như vậy Đó là quá trình phủ định biện chứng Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất Quá trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc
- Tính đa dạng, phong phú cuả sự phát triển được thể hiện ở điểm : phát triển là khuynhhướng phát triển của sự vật hiện tượng song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triểnkhông giống nhau, tồn tại ở những thời gian, không gian khác nhau, chịu những ảnh hưởng khácnhau và sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng quá trình phát triển của sự vật, đôi khi cóthể làm - sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời
Ví dụ 1: Quá trình vận động của tư bản từ hình thái tư bản tiền tệ sang hình thái tư bản
hàng hoá (tư liệu sản xuất và sức lao động) là một sự phủ định trong quá trình vận động, phát triểncủa tư bản Quá trình này có sự thay đổi hình thái tồn tại của tư bản nhưng nội dung giá trị của tưbản được bảo tồn dưới hình thái mới – hình thái có khả năng khi tiêu dùng trong sản xuất thìchẳng những có khả năng tái tạo giá trị cũ mà còn có khả năng làm tăng giá trị mới của tư bản
Ví dụ 2: Quá trình vận động, phát triển của xã hội loài người: xã hội chiếm hữu nô lệ ra
đời là sự phủ định đối với xã hội nguyên thuỷ, đến lượt nó lại bị xã hội phong kiến phủ định,…(Phủ định của phủ định)
Câu 21: Trình bày nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự
phát triển.)
* Khái niệm sự phát triển:
- Quan điểm siêu hình về sự phát triển:
Theo quan điểm siêu hình phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không có
sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấycũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất
Trang 28mới Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liêntục, không có bước quanh co, phức tạp.
- Quan điểm biện chứng về sự phát triển:
Theo quan niệm biện chứng sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Quátrình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc nào
sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bướclùi tạm thời Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần
về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sựvật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn Quan điểm biện chứng cũng khẳngđịnh nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật
- Tính kế thừa: sự vật, hiện tượng mới ra đời không phải là phủ định sạch trơn sự vật cũ
mà là sự kế thừa những yếu tố tích cực, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự pháttriển
- Tính đa dạng, phong phú: sự vật khác nhau có sự phát triển khác nhau; trong không gian,thời gian khác nhau có quá trình phát triển không giống nhau
* Ý nghĩa phương pháp luận
+ Biết phát hiện và ủng hộ cái mới; chống bảo thủ, trì trệ định kiến
Phải tích cực, chủ động nghiên cứu để từ đó tìm ra được những mâu thuẫn có trong mỗi sựvật, hiện tượng để từ đó có thể xác định được những biện pháp phù hợp để giải quyết được nhữngmâu thuẫn đó nhằm thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển
+ Biết kế thừa các yếu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điềukiện mới
Kế thừa những thuộc tính, những bộ phận còn hợp lý của cái cũ nhưng đồng thời cũngphải kiên quyết loại quả những cái đã quá lạc hậu cản tở và gây ảnh hưởng đến sự phát triển
Vì trong phát triển có sự kế thừa do đó cần phải chủ động phát hiện, cổ vũ những cái mới,cái phù hợp từ đó có thể tìm cách thúc đẩy để phát triển cái mới, để cái mới chiếm đóng vai tròchủ đạo
* Nội dung nguyên tắc lịch sử - cụ thể:
+ Muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần xem xét trong sự hình thành, tồntại, phát triển trong từng giai đoạn, quá trình cụ thể
+ Xem xét sự vật trong sự phát triển, sự tự vận động trong sự tự biến đổi của nó”
- Ví dụ: Cụ thể là từ nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử ra đời dựatrên cơ sở tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc gắn liền với chế độ tư hữu và phân chia xã hội thànhcác giai cấp đối kháng
Sự bóc lột không có giới hạn của các chủ nô làm cho mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệngày một gay gắt, nô lệ đứng lên đấu tranh giải phóng nô lệ, giao đất canh tác Điều này đã dẫnđến sự chuyển hóa dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất
Trang 29phong kiến, nhà nước phong kiến ra đời Tiếp đó trải qua các giai đoạn là nhà nước tư sản và cuốicùng là nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Câu 22: Làm rõ cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử
-cụ thể ()
1 Nguyên tắc phát triển:
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc
Về cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn là nguyên lý về sựphát triển của phép biện chứng duy vật
Theo đó, phát triển là một phạm trù dùng để khái quát quá trình vận động đi lên; là mộthình thức của vận động và trong sự phát triển, sẽ nảy sinh những tính quy định mới, cao hơn vềchất, nhờ đó làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng cùngchức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn
1.2 Nội dung của nguyên tắc
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạngthái vận động, biến đổi, chuyển hoá để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng tháihiện tại, mà còn phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai Cần chỉ ra nguồngốc của sự phát triển là mâu thuẫn, còn động lực của sự phát triển là đấu tranh giữa các mặt đốilập trong sự vật, hiện tượng đó
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiềugiai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Mỗigiai đoạn phát triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải phân tích
cụ thể để tìm ra những hình thức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc đẩy,hoặc kìm hãm sự phát triển đó
- Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạycảm với cái mới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cáimới phát triển; phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến v.v Sự thay thế cái cũ bằng cáimới diễn ra rất phức tạp, nhiều khi cái mới hợp quy luật chịu thất bại tạm thời, tạo nên con đườngphát triển không thẳng mà quanh co, phức tạp; tránh lạc quan và bi quan thái quá trong quá trìnhphát triển của sự vật, hiện tượng Trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừanhững yếu tố tích cực đã đạt được từ cái cũ mà phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới
2 Nguyên tắc lịch sử - cụ thể:
2.1.Cơ sở lý luận của nguyên tắc
Về cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là toàn bộ nội dung phép biện chứng duyvật và nguyên tắc chân lý là cụ thể của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
2.2 Nội dung của nguyên tắc
- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến, làphương thức tồn tại của vật chất; nghĩa là phải nhận thức được rằng, vận động làm cho sự vật,hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức của vận động quyếtđịnh bản chất của nó
- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải chỉ rõ được những giai đoạn mà nó đã trải quatrong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong nhận thức vàthực tiễn, để nhận thức và giải thích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu đặc trưng,những chất và lượng vốn có của sự vật, hiện tượng
- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn yêu cầu chỉ ra được mối liên hệ khách quan; chỉ ra đượccác quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, quy định sự tồntại hiện thời và khả năng chuyển hoá thành sự vật, hiện tượng mới thông qua sự phủ định; chỉ rađược rằng, thông qua phủ định của phủ định, sự vật, hiện tượng phủ định là sự kế tục sự vật, hiệntượng bị phủ định, là sự bảo tồn sự vật, hiện tượng bị phủ định trong dạng đã được cải tạo cho phùhợp với sự vật, hiện tượng phủ định
- Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn luôn quán triệt nguyên tắc lịch sử - cụthể để nhận thức sự vật, hiện tượng với đầy đủ các mối liên hệ trong sự tồn tại khách quan vốn có
Trang 30của nó, để nhận thức được vị trí, vai trò của từng mối liên hệ quy định sự vận động, phát triển của
Câu 23: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng? Ý nghĩa phương pháp luận (Nguyễn Ngọc Huy)
Cái chung: là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt những thuộc tính chung
không những có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sựvật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác
Ví dụ :Ta có thể thấy cái bàn và cái ghế có đặc điểm chung là đều được làm bằng gỗ.Vậyđặc điểm chung đó được gọi là cái chung Giữa hai quả dừa 1 và 2 đều có điểm giống nhau là vỏdày, cứng, bên trong ruột có nước Đây cũng được gọi là cái chung
Cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định
Ví dụ :Cái bàn là cái riêng ; Cái ghế là cái riêng Quả dừa trên bàn là cái riêng 1 ; quả dừatrong giỏ là cái riêng 2 Cái riêng 1 và cái riêng 2 khác nhau
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sựvật, hiện tượng ( một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác
Ví dụ : Con sông Amazon có chiều dài 6.992km với lưu vực trải rộng hơn 7 triệu km^2 làcon sông rộng nhất thế giới “lưu vực trải rộng hơn 7 triệu km^2” là cái đơn nhất vì không có mộtcon sông nào rộng như vậy
Mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung” và “cái đơn nhất”
Cái chung chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua cái riêng Cái chung chỉ tồn tại trongcái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, không có cái chung thuần túy tồntại bên ngoài cái riêng, cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phảithông qua cái riêng
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Không có cái riêng nào tồn tạituyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung, sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cáichung
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưngsâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung, cáiriêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộctính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung làcái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng
Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triểncủa sự vật Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ởmột sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác.Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cáiđơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cáiphổ biến Ngược lại cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau do không phù hợp vớiđiều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhấtthành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa
từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định
III Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung”, ta rút ra ýnghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:
1 Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung”
Trang 31Vì “cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm hiểu, nhậnthức về “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ngoài “cái riêng”.
Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu “cái chung”, ta phải bắt đầu nghiên cứu từ những sự vật,hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người
2 Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng trườnghợp “cái riêng”
– Vì “cái chung” tồn tại như một bộ phận của “cái riêng”, bộ phận đó tác động qua lại vớinhững bộ phận còn lại của “cái riêng” mà không gia nhập vào “cái chung”, nên bất cứ “cái chung”nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã bị cải biến
Tức là, luôn có sự khác biệt một chút giữa “cái chung” nằm trong “cái riêng” này và “cáichung” nằm trong “cái riêng” kia Sự khác biệt đó là thứ yếu, rất nhỏ, không làm thay đổi bảnchất của “cái chung”
– Do đó, bất cứ “cái chung” nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng lẻ cũng cần đượccải biến, cá biệt hóa Nếu không chú ý đến sự cá biệt hóa, đem áp dụng nguyên xi “cái chung”,tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người giáo điều, tả khuynh
Ngược lại, nếu xem thường “cái chung”, tuyệt đối hóa “cái đơn nhất”, thì lại rơi vào sailầm của việc chỉ bảo tồn cái vốn có mà không tiếp thu cái hay từ bên ngoài Đó là sai lầm củanhững người xét lại, bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh
3 Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn
đề riêng
Vì “cái riêng” gắn bó chặt chẽ với “cái chung”, không tồn tại bên ngoài mối liên hệ dẫn tới
“cái chung”, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng một cách hiệu quả thì không thể bỏ quaviệc giải quyết những vấn đề chung
Nếu không giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận – thì sẽ savào tình trạng mò mẫm, tùy tiện Nếu bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giảiquyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc
4 Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” vàngược lại
Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, “cái đơn nhất” cóthể biến thành “cái chung” và ngược lại, nên trong hoạt động thực tiễn, ta cần hết sức tạo điềukiện thuận lợi cho “cái đơn nhất” phát triển, trở thành “cái chung” nếu điều này có lợi
Ngược lại, phải tìm cách làm cho “cái chung” tiêu biến dần thành “cái đơn nhất” nếu “cáichung” không còn phù hợp với lợi ích của số đông mọi người
Câu 24: Phân tích mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả Ý nghĩa phương pháp luận (
* Khái niệm nguyên nhân và kết quả
– Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc giữa các
sự vật với nhau gây ra một hoặc hơn một sự biến đổi nhất định
– Kết quả là sự biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vậthoặc giữa các sự vật với nhau
* Một số tính chất của mối liên hệ nhân quả