vvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvv
Trang 1TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC
SLIDE 1
CÂU 1 : Sự tương đồng và khác biệt giữa TH phương Đông và phương Tây
CÂU 2 : Tư tưởng bản thể luận trong các học thuyết TH: Ngũ hành, TH của Platon, Đêmôcrit, P Bêcơn
và của Hêghen
CÂU 3 : Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
CÂU 4 : Vai trò của ý thức
CÂU 5 : Tư tưởng biện chứng trong TH phương Đông cổ đại
CÂU 6 : Tư tưởng biện chứng trong TH của Hêghen
Câu 7 : Phép biện chứng duy vật với việc nhận thức và giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Câu 8 : Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
SLIDE 2
CÂU 1 : Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với con đường phát triển của Việt Nam hiện nay (ĐM toàn diện; CNH, HĐH; KT nhiều thành phần; …)
*/ Khái ni m hình thái kinh tế-xã h i: ệm hình thái kinh tế-xã hội: ội:
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó (cơ sở hạ tầng) thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó
Hình thái kinh tế-xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Lực lượng sản xuất – là quan hệ giữa người với tự nhiên trong quá trình sản xuất -là nền tảng vật chất-kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế-xã hội Xét đến cùng, lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế-xã hội Bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của một thời đại nào mà là sản phẩm
Trang 2của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất - là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác, không có những mối quan hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng và trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó
Ngoài các quan hệ cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng, trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội còn có những quan hệ dân tộc, gia đình,
* Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với con đường phát triển của Việt
Nam hiện nay (ĐM toàn diện; CNH, HĐH; KT nhiều thành phần; …
ĐM toàn diện
Lý luận hình thái kinh tế xã hội là biểu hiện tập trung của quan niệm duy vật lịch sử là sản xuất
Bản chất của quan niệm duy vật lịch sử là nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất Phương thức sản xuất (LLSX) quyết định các quá trình sinh hoạt XH, chính trị và tinh thần nói chung
Ở Việt nam hiện nay ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với QHSX
LLSX không thể phát triển được khi QHSX không phát triển :
Tiến hành : CNH, HĐH đất nước :
Chuyển lao động thủ công thay thế bằng máy móc thiết bị
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt nam không đứng ngoài mà chủ động tham gia vào các quá trình hội nhập
- Con đường CNH, HĐH cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có bước tuần tự,
vừa có bước nhảy vọt; phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là CNTT và công nghệ sinh học;
Trang 3KT nhiều thành phần :
LLSX chỉ phát triển khi QHSX phù hợp Chính vì vậy cải tạo QHSX là đa dạng hóa các hình thức sở hữu ta có nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo
Phương hướng cơ bản :
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng
con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự và an
toàn xã hội
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và
phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn
dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
VN đi lên CNXH từ một nền KT phổ biến là sản xuất nhỏ, LĐ thủ công là phổ biến, năng suất LĐ thấp, của cải ít, đời sống khó khăn, tất yếu phải tiến hành CNH, HĐH Đây là nhiệm vụ trung tâm suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta;
- Đất nước đổi mới từ ĐH VI, từ năm 1996 đất nước đã chuyển sang giai đoạn đẩy
mạnh CNH, HĐH, phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước CN theo hướng hiện đại Đây là yếu tố quyết định chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế
- Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội cơ sở lý luận của sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.Chúng ta đều biết rằng, từ trước tới nay, công nghiệp hóa – hiện đại hóa là khuynh hướng phát triển tất yếu của các nước Và mỗi nước lại có những cách
Trang 4thức khác nhau trong quá trình thực hiện đường lối phát triển của mình Đối với nước ta, đi lên từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, nhanh chóng đạt tới trình độ của một nước phát triển thì nhiệm vụ tất yếu phải có là đẩy minh sự nghiệp cong nghiệp hóa - hiện đại hóa như là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có
cơ sở vật - chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao Quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.Theo quan điểm của các nhà sang lập chủ nghĩa Mác - Lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan phổ biến: một mặt con người phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này được biểu hiện ở lực lượng sản xuất, mặt khác con người phải quan hệ với nhau để tiến hành sản xuất, quan hệ này được biểu hiện ở quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập nhau, hai mặt biện chứng của một thể thống nhất không thể tách rời Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái cấu thành của toàn bộ lịch sử nhân loại thì quan hệ sản xuất là cải tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực của hoạt động sản xuất tinh thần và những thiết chế tương ứng trong xã hội.C.Mác đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế - xã hội nhất định – xã hội khác mà gốc rễ sâu xa của nó chính là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do tác động của các quy luật khách quan C.Mác và Ph Ănghen đã đưa ra nhiều lý luận, nhiều tư tưởng Những lý luận tư tưởng cơ bản đó trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội chính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan trong quá trình phát triển đi lên của đất nước.Đối với nước ta để phù hợp với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Đảng ta đã nêu công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kêt hợp với những bước tiến tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội
đi tắt, đón đầu hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ trên trhế giới Mặt khác chúng ta cần phải chú trọng đến phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời Chúng luôn tác động hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Bởi lẽ “nếu công nghiệp hóa
- hiện đại hóa tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới thì việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp đưa nước ta tiến lên từng ngày như Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện”
Trang 5CÂU 2 : Đường lối chính trị của Nho gia và Pháp gia
Đường lối của pháp gia và nho gia Đều xây dựng trên yếu tố con người xuất phát từ bản chất, bản tính vốn có của con người
1/ Đạo nho :
Pháp gia cho rằng bản tính con người vốn là thiện Con người sinh ra vốn tính thiện Chính vì vậy đường lối chính trị của Đạo nho là nhân trị (đức trị) Khơi dậy lòng nhân của con người bằng phương pháp nêu gương sáng nhưng kết quả này cũng có hạn chế vì chưa có tính chính trị “Nhân” theo Khổng tử nói không phải cảm tính, không phải tùy tiện mà có vận dụng
Ở nước ta : Các tổ chức cũng vận dụng theo quan điểm của các nhà nho “nhân” nghĩa là lễ, các nhà nho đưa ra lễ để quy định Tinh thần này cũng có trong luật pháp, luôn quán triệt tinh thần phù hợp với tâm
tư, tình cảm lòng nhân ái của người việt (luật cũng có các tình tiết giảm nhẹ)
2/ Pháp nho
Pháp gia cho rằng bản tính con người vốn là ác ( hám lợi) sinh ra muốn có cái nọ, muốn có cái kia, càng nhiều thì càng tốt Ai cũng dành nhiều phần lợi cho mình vì hám lợi nên gây lên những mâu thuẫn Chính
vì vậy đường lối chính trị của pháp nho là phải dùng sức mạnh (dùng pháp) để quy định và điều chỉnh xã hội phải dùng thết và thuật.
Đã tuyệt đối hóa biện pháp cưỡng chế nên đã có sự phản kháng lại
Nhà pháp gia không nhìn thấy lòng trắc ẩn mà các nhà nho gia đã tạo lên.
ở Việt nam không tuyệt đối hóa của đạo nào, sử dụng đạo nho và pháp nho có chọn lọc
CÂU 3 : Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
CÂU 4 : Vấn đề cải tạo tư tưởng tiểu nông ở Việt Nam hiện nay
CÂU 5 : Vấn đề xây dựng nền văn hóa tinh thần của Việt nam hiện nay
CÂU 6 : Quan điểm về con người trong TH phương Đông (TH Nho giáo, TH Phật giáo)
Câu 7 : Vấn đề phát huy yếu tố con người ở Việt nam hiện nay
Câu 6 (SLIDE 2): Quan điểm về con người trong TH phương Đông (TH Nho giáo, TH Phật giáo)
Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên
Trang 6luận Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt
Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suy đến cùng, con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đông đều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng tới thế giới quan thần linh Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh
1. Triết học Ấn Độ Cổ, Trung Đại
Triết học Ấn Độ Cổ, Trung Đại có nhiều trường phái song có cái chung của nhiều trường phái là đều tập trung vào lý giải vấn đề then chốt – đó là vấn đề bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nổi khổ của con người và con đường, cách thức giải thoát con người khỏi bể khổ cuộc đời Đạt tới sự giải thoát con người sẽ đạt tới sự giác ngộ, nhận ra chân bản của mình, thực tướng của vạn vật, xóa bỏ vô minh, diệt mọi dục vọng, vượt ra khỏi nghiệp báo, luân hồi, hòa nhập vào bản thể tuyệt đối Bahman hay Niết bàn
Khi đặt vấn đề nguồn gốc của con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều cho rằng trời sinh
ra con người và muôn vật Lão Tử khác với khổng tử và Mặc Tử ở chổ ông cho rằng trước khi có trời đã có Đạo Trời, đất, người, vạn vật đều do đạo sinh ra Trang Tử người kế thừa thuyết Lão Tử cho rằng ở mỗi vật đều có cái đức tự sinh tự hóa ở bên trong
Trang 7Khi xác định vị trí con người trong mối quan hệ với trời, đất, con người và vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có 4 có lớn: Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn Đối với Nho giáo, con người được đặt lên vị trí rất cao Con người
do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với trời, đất là ba ngôi tiêu biểu cho tất cả mọi vật trong thế giới vật chất và tinh thần Kinh Dịch Thiện Hạ chỉ rõ rằng “Trời, Đất, Người là tam tài” Lễ Ký, Thiên Lễ coi con người là “ cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự hội tụ của qủy thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”
Khi bàn tới quan hệ giữa trời với người, các nhà duy tâm đi sâu phát triển tư tưởng thiên mệnh của Khổng Tử, cho rằng có mệnh trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã hội của con người, cuộc đời của mỗi con người Mạnh Tử cho rằng trời an bài địa vị xã hội của con người Về sau, thời nhà Hán, Đổng Trọng Thư nêu lên thuyết “thiên nhân cảm ứng” cho rằng trời người thông cảm với nhau, trời là chủ tể của việc người Các triết gia tiến bộ cho rằng trời là gốc của con người, họ coi trời với người là một,
do đó đưa ra chủ trương “thiên nhân hợp nhất”
Khi bàn tới bản tính con người, Khổng Tử cho rằng “tính mỗi con người đều gần nhau, do tập tành và thói quen mới hóa ra xa nhau” Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là thiện, không một người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện Tuân Tử cho rằng bản tính con người là ác Cáo Tử cho rằng bản tính con người không thiện không ác Về sau, vào thời nhà Hán, nhà triết học Vường Sung cũng quan niệm bản tính con người có thiện có ác Về sau, “Thuyết tính ác” được học trò của Tuân Tử là Hàn Phi đẩy đến chỗ cực đoan, coi tính con người hoàn toàn là ác nên không thể dùng nhân, nghĩa, lễ, nhạc mà giáo hóa được
3. TH phật giáo
Có nhiều các giải thích khác nhau về nhân tố hình thành nên con người trong đó có hai nhân tố cơ bản và chung nhất mà Phật giáo đề cập đến là Danh và sắc
Trang 8Khi nói con người là hợp thể của Danh vá Sắc, điều đó có nghĩa con người chỉ được gọi là con người khi có sự tương hợp của hai yếu tố: tinh thần và vật chất
Con người là hợp thể của lục giới Lục giới là sáu yếu tố hình thành ra con người bao gồm đất, nước, gió, lửa, không và thức Đức phật nói con người là hợp thể của Lục giới hay lục đại là nhấn mạnh khía cạnh vật chất của con người
Con người là hợp thể của Ngũ uẩn, còn gọi là Ngũ ấm, tức đề cập đến tâm thức hay khía cạnh tinh thần
Theo triết học Phật giáo thì bản chất con người là Vô ngã Tuy nhiên trong từng hoàn cảnh cụ thể bản chất con người cũng được biểu hiện bằng nhiêu hình thái khác nhau Có lúc con người làm nhiều việc ác, có lúc con người thực hiện nhiều việc tốt lành Điều đó chứng tỏ con người tuy không có tự tính cố định nhưng trong mỗi con người đều ẩn chứa hai tự tính là Vô minh tính và Phật tính
Trang 9Câu 7 (SILE 2):Vấn đề phát huy yếu tố con người ở Việt nam hiện nay
a Cần nêu rõ vai trò và tâm quan trọng nguồn lực con trong quá trình CNH – HĐH hiện nay Đây là nhiệm vụ quan trọng để nêu cao tinh thần trách nhiệm tự đổi mới và rèn luyện bản thân của mọi người trong xã hội, kịp thời đáp ứng được sự phát triển và thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự cố gắng của các ban ngành, cấp lãnh đạo, quản lý, nhà trường, gia đình cũng như của bản thân từng người
b Đổi mới tổ chức đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tập trung nâng cao chất lượng đào tạo gắn liền với nhu cầu sử dụng lao động trong từng thời kỳ Để làm được điều này, trước khi hoạch định đào tạo cần phải phân tích rất kỹ về mục tiêu và định hướng phát triển của nền kinh tế, của xã hội và của cả thế giới trong từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các lĩnh vực mới, hiện đại hoặc các lĩnh vực thế mạnh của chúng ta; đánh giá về những yếu tố bên trong, bên ngoài có tác động liên quan đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, …
c Bên cạnh việc đào tạo để phát triển về chuyên môn, nghiệp vụ thì cần chú trọng đào tạo đến các kỹ năng, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ lao động vì đây chính là điểm yếu nhất của lực lượng lao động Việt Nam hiện nay Ngoài ra trong xu hướng hội nhập ngày càng mạnh mẽ thì việc giáo dục về lối sống lành mạnh, về tình cảm, đạo đức và ý thức chính trị là điều hệ trọng trong việc phát triển bền vững của nước ta
d Tuỳ theo trình độ, khả năng của từng người mà phân công, bố trí công việc cho đúng người, đúng việc, đảm bảo có sự dẫn dắt, kèm cặp và hỗ trợ, đặc biệt là lúc ban đầu Đây là một công việc rất quan trọng và quyết định sự thành công, mức độ gắn bó của nhân tài đối với cơ quan, tổ chức mà họ vào làm việc; việc phân công hợp
lý sẽ tạo động lực cho họ làm việc hiệu quả hơn, chất lượng công việc sẽ tốt hơn và họ
sẽ phát huy được thế mạnh, niềm đam mê cá nhân của họ
Trang 10e Nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống như: y tế, chính sách lương để người lao động yên tâm mạnh dạn học hỏi thêm kiến thức, nâng cao tay nghề cũng như sức khỏe đáp ứng được những yêu cầu của quá trình CNH – HĐH
Ngoài ra vấn đề kế hoạch hóa gia đình hiện nay cũng rất quan trọng, chính điều nay gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng cuộc sống của người dân ở những vùng sâu, vùng xa Việc có nhiều con trong khi không đảm bảo được kinh tế trong gia đình đã thúc đẩy chất lượng cuộc sống ngày càng giảm phải đối mặt với việc mưu sinh từng ngày không có cơ hội phát triển thành những công nhân có tay nghề
f Cần tạo việc làm cho những lao động nhàn rỗi nhằm giảm bớt gánh nặng cho xã hội và tạo điều kiện học tập, nâng cao tay nghề trong quá trình làm việc
g Cải cách giáo dục, đào tạo theo sự phát triển kinh tế, xã hội để tạo ra nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu của từng thời kỳ
h Xây dựng và mở rộng các phong trào yêu nước để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu về chính sách phát triển nhân lực
i Thường xuyên phát động các phong trào, cuộc thi tìm kiếm giải pháp phát triển và nâng cao nguồn nhân lực để tìm ra các giải pháp hay, tốt và phù hợp với Việt Nam hiện nay
j Thường xuyên thực hiện các cuộc khảo sát tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người lao động để ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mới hay cải cách nhưng văn bản đã lỗi thời về nhân lực, việc làm, giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ; chính sách trọng dụng nhân tài để đảm bảo dân chủ công bằng, công khai
k Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhân lực; đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt lý, nhìn rõ đúng sai, kịp thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực Tổ chức bộ máy quản lý nhân lực từ trung ương đến địa phương Nhân sự cho bộ máy này phải là những chuyên gia giỏi về