Cách thức sử dụng lý thuyết đối với Công tác xã hội viên - Đơn giản hoá các hiện tượng phức tạp qua việc nhấn mạnh đến những mối quan tâm của NVXH về tư tưởng, cảm xúc, hành vi và các b
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CSII)
Khoa Công tác xã hội
BÀI GIẢNG
LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Tài liệu học tập cho sinh viên hệ Đại học, ngành Công tác xã hội)
Người soạn: Trịnh Thị Thương
Tp Hồ Chí Minh, 2014
Trang 2
Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I KHÁI NIỆM LÝ THUYẾT TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
1 Khái niệm lý thuyết
Về xuất xứ, từ lý thuyết xuất phát từ khái niệm “theoria” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là nhìn, chiêm niệm, xem, hoặc suy xét Trong tiếng Anh, từ “lý thuyết” xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVI Nội hàm của khái niệm này được bàn luận trong văn bản của Norris vào năm 1710: “Nghiên cứu kiến thức, chiêm ngưỡng sự thật của chính nó, đó
là cái mà ta gọi là lý thuyết” Chúng ta ngày nay theo bản năng phản ứng lại với từ “sự thật” nhưng rõ ràng Norris đã sử dụng từ “sự thật" để biểu thị về sự hiểu biết bản chất của đối tượng được ngắm nhìn, được suy xét Nói cách khác, đó là toàn bộ công việc tìm kiếm cho sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên và xã hội, thưởng ngoạn cách này hay cách khác bản chất của đối tượng hoặc hiện tượng và tìm cách giải thích bản chất hoặc thuộc tính của nó Như vậy, bất kỳ sự truy tìm để giải thích bản chất của một sự vật
vì bản thân nó, nhằm để biết bản chất là gì, đó chính là lý thuyết Đây là một trong những cách nhìn và diễn giải về lý thuyết: sự suy xét một đối tượng được thực hiện bởi mục đích hiểu biết bản chất của nó Tiếp theo, một ý nghĩa khác của lý thuyết có phần phức tạp hơn khi giải thích bởi nó phát triển trong việc xây dựng các quy tắc tri thức, biểu thị
hệ thống ý tưởng để giải thích các sự kiện hay hiện tượng Lý thuyết theo nghĩa này bao gồm tập hợp các mệnh đề hoặc thiết lập mệnh đề bằng sự quan sát hay thực nghiệm Năm
1819, Playfair khi nghiên cứu về triết học tự nhiên đã nhận xét rằng, “lý thuyết thường không là gì nhưng là phương pháp để thấu hiểu một số sự kiện nhất định dưới một biểu thức” Đó là khởi điểm của khái niệm và những giải thích bước đầu về lý thuyết Trải qua thời gian, lý thuyết được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, do đó diễn giải nội hàm ý nghĩa của khái niệm này khá phong phú
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên từ “lý thuyết” là danh từ với ba cách giải nghĩa như sau: thứ nhất, theo nghĩa cũ và ít dùng “lý thuyết” như “lý luận”; thứ hai, lý thuyết là kiến thức về lý luận (nói khái quát), trái ngược với thực hành; thứ ba, lý thuyết là công trình xây dựng có hệ thống của trí tuệ, có tính chất giả thuyết, tổng hợp nhằm giải thích một loại hiện tượng nào đó Liên quan đến khái niệm “lý thuyết” có khái niệm “lý luận” Về mặt từ loại, danh từ “lý luận” được giải nghĩa là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn, những kiến thức khái quát và hệ thống tổng quát; động từ “lý luận” có nghĩa là nói lý luận, giải thích bằng lý luận (hàm ý chê) Còn Từ điển và Danh từ Triết học của Trần Văn Hiến Minh xuất bản năm 1966 thì định nghĩa: lý luận là “Nghị luận căn cứ vào lý trí, vào thuyết lý”; lý luận gia là “nhà chuyên môn về luận lý học”; lý thuyết là “Học để biết, chứ không để áp dụng vào hành động, gọi là cái học lý thuyết; và
Trang 3
lý thuyết học “Theo kiểu phân loại của Aristote, toán, vật lý và thần học, đều là lý thuyết học (đối lập với thực tế học và thi phú học), trong đó con người triệt để sử dụng trí khôn của mình” Trong tiếng Anh, từ “theory” được dịch sang tiếng Việt là lý thuyết Theo từ điển WordWeb danh từ “theory” có 3 nghĩa: 1 Một lời giải thích đã được chứng minh về khía cạnh nào đó của thế giới tự nhiên; một hệ thống tổ chức kiến thức được áp dụng trong nhiều hoàn cảnh để giải thích hiện tượng; 2 Một cái nhìn sâu sắc vào thế giới tự nhiên, một khái niệm chưa được xác nhận nhưng nếu đúng sẽ giải thích các sự kiện nhất định hoặc các hiện tượng; 3 Một niềm tin có thể hướng dẫn hành vi Liên quan đến thuật ngữ “theory” có các thuật ngữ “theoretician” và “theorist” có nghĩa là nhà lý thuyết hay
lý thuyết gia, động từ “theorise” hay “theorize” là tạo ra lý thuyết, người xây dựng, hình thành nên lý thuyết hay người chuyên về lý thuyết của một bộ môn cụ thể Ngoài ra, theorize còn có nghĩa là nói lý luận Tính từ “theoritical” hay “theoritic” có nghĩa là mang tính lý thuyết Từ điển Oxford Wordfinder có hai cách giải nghĩa về khái niệm “lý thuyết”: 1 hệ thống các ý tưởng giải thích sự vật; 2 học thuyết (doctrine) Còn Từ điển Larousse định nghĩa lý thuyết là tập hợp các định lý và định luật được sắp xếp một cách
hệ thống, được kiểm chứng bằng thực nghiệm Đại từ điển Anh-Hoa của Trịnh Dị Lý chuyển ngữ thuật ngữ “theory” trong tiếng Anh thành lý luận, học lý, luận thuyết, học thuyết Nhận xét về việc sử dụng khái niệm “lý thuyết” trong bối cảnh Việt Nam, tác giả
Vũ Cao Đàm cho rằng: “Căn cứ vào thực tế nghiên cứu ở nước ta, có thể hiểu khái niệm
lý thuyết như theory trong tiếng Anh hiện đại và có ý nghĩa nằm giữa hai khái niệm lý luận và học thuyết trong tiếng Hán hiện đại” Nhìn chung, tuy cách giải thích có khác nhau song lý thuyết được hiểu là hệ thống kiến thức, tri thức khoa học, các khái niệm, phạm trù và quy luật về bản chất sự vật và mối liên hệ cơ bản giữa các sự vật trong thế giới hiện thực
Trong khoa học, một lý thuyết là một mô hình trừu tượng diễn tả tính chất của các hiện tượng tự nhiên hoặc/và xã hội Việc xây dựng, ứng dụng và cách hoạt động của lý thuyết khoa học tuân theo phương pháp khoa học Một lý thuyết tốt là một lý thuyết có thể giải thích được nhiều hiện tượng, có thể tiên đoán được các hiện tượng mới và được thực nghiệm kiểm chứng
Lý thuyết là một hệ thống các quan niệm - nguyên tắc và những dự đoán; không có một lý thuyết nào phù hợp đối với mọi tình huống:
- Hệ thống các giả định có quan hệ, mối quan hệ logic nhằm lý giải các vấn đề thực tiễn của đời sống
- Hệ thống các biến số hay các đặc tính mang tính giả thuyết - giả định nhằm tạo dựng mối quan hệ giữa các vấn đề với nhau
- Một hệ thống những bình luận về mối quan hệ giữa các biến số biểu hiện được các cách hiểu có hệ thống về hành vi, các sự kiện hay các tình huống của cuộc sống và đề ra các cách thức giải thích tại sao điều đó xảy ra
Trang 4
2 Lý thuyết trong công tác xã hội
Lý thuyết sử dụng trong CTXH không nhất thiết phải là những lý luận được viết bài bản trong sách hay trong các bài viết chuyên ngành Trong thực tế công việc, người làm CTXH nhiều khi phải dựa vào hệ thống lý thuyết của chính họ, những lý thuyết mà họ xây dựng nên từ kinh nghiệm sống và làm việc, từ việc trao đổi với các đồng nghiệp, và
từ vô số các nguồn khác
Lý thuyết chính thống và phi chính thống:
- Chính thống: được xây dựng một cách có hệ thống, được kiểm nghiệm và phản biện, được xuất bản ít gắn với thực tiễn; nhưng tính phổ quát cao Lý thuyết chính thống giúp củng cố và hướng dẫn chúng ta suy xét mọi việc một cách thấu đáo, nhưng không thay thế được chính những suy nghĩ của chúng ta Nhược điểm của hệ thống lý thuyết chính thống là nó hiếm khi liên kết với những tình huống cụ thể, cũng như nó không có khả năng giải thích tường tận hoặc giúp đưa ra những chỉ dẫn cho những tình huống đặc thù với những người sử dụng dịch vụ đặc thù Parton and O’Byrne (2000) cho rằng sự nguy hiểm của lý thuyết chính thống là nó có thể được sử dụng để gán nhãn người sử dụng dịch vụ
- Phi chính thống (tri thức kinh nghiệm, tri thức dân gian) phong phú, đa dạng, gắn liền với thực tiễn, nhưng độ phổ quát không cao
Trong nội dung tiếp cận của học phần Lý thuyết Công tác xã hội, chúng ta sẽ đề cập đến hệ thống các lý thuyết chính thống sử dụng trong hoạt động Công tác xã hội; được chia thành các nhóm:
- Lý thuyết nền tảng
- Lý thuyết tập trung vào cá nhân
- Lý thuyết tập trung vào nhóm
- Lý thuyết tập trung vào cộng đồng, xã hội
2.1 Mối quan hệ lý thuyết - mô hình - luận điểm trong LTCTXH
Lý thuyết đi vào lý giải một
cách đi được chứng minh về
tại sao một điều gì đó lại xảy
Cách thức nhận thức về thực tại từ một quan điểm giá trị Luận điểm có ảnh hưởng nhiều đến việc chọn lựa lý thuyết về mô hình hành động
Trang 5Đặc điểm của lý thuyết thực hành CTXH:
- Có khả năng trợ giúp cho nghiên cứu
- Tạo được các kết quả mang tính tích cực về thời gian và tiền bạc
- Tạo được các bước can thiệp hiệu quả
- Lý thuyết đó phải phù hợp với hệ giá trị, kiến thức, kỹ năng và quan điểm chung của nhà thực hành
Trang 6
- Theo thói quen của cá nhân
- Do đồng nghiệp hay những người kiểm huấn khác hay sử dụng
II VAI TRÒ CỦA LÝ THUYẾT TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
1 Lợi ích của việc nghiên cứu lý thuyết trong Công tác xã hội
(a) Dự đoán và lý giải hành vi của thân chủ;
(b) Khái quát hóa thân chủ và các vấn đề của thân chủ;
(c) Xây dựng hệ thống các hoạt động can thiệp;
(d) Xác định hạn chế về tri thức liên quan đến các tình huống điều trị
=> Đơn giản hóa hành vi của con người
2 Chức năng của lý thuyết CTXH
- Hướng dẫn sự chọn lựa của NVXH về các mô hình can thiệp hiệu quả
- Chống lại các tiến trình hoạt động phi lý
- Huy động các nguồn lực xã hội
- Xây dựng sự phát triển hệ thống tri thức từ các tình huống can thiệp trị liệu
3 Cách thức sử dụng lý thuyết đối với Công tác xã hội viên
- Đơn giản hoá các hiện tượng phức tạp qua việc nhấn mạnh đến những mối quan tâm của NVXH về tư tưởng, cảm xúc, hành vi và các biến cố trong đời sống của thân chủ được xem xét là phù hợp cho việc đánh giá;
- Giúp NVXH thiếp lập được các mối quan hệ nhân quả và do đó dự đoán trước được hành vi tương lai của thân chủ;
- Đơn giản hoá việc chọn lựa các kết quả của sự can thiệp
- Mọi lý thuyết đều không hiển nhiên đúng
- Việc sử dụng và độ ứng dụng của lý thuyết phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể
và sự “diễn dịch” của người sử dụng, đặc biệt là trong tương quan trực tiếp với người sử dụng dịch vụ và tình huống của họ
- Sự “lọc” lý thuyết chính thống qua màng lọc của kinh nghiệm và tri thức thực tiễn
là một công cụ quan trọng để phát triển lý thuyết thực hành
Trang 7
Mô hình vận dụng lý thuyết CTXH trong hoạt động thực hành
* Vai trò của người làm CTXH trong việc xây dựng lý thuyết:
Ngoài thực hành, người làm CTXH khi bước vào thực hành nghề cũng là bước vào lĩnh vực xây dựng lý thuyết ở hai khía cạnh:
- Xác định tính tương thích của các lý thuyết chính thống vay mượn từ các khoa học khác (đặc biệt là xã hội học và tâm lý học);
- Xây dựng hệ thống lý thuyết riêng cho hoạt động thực hành đặc thù của mình
Đánh giá vấn đề
và lên kế hoạch can thiệp
sử dụng dịch vụ đánh giá tình thế
và các phương
án tiềm năng
Lý thuyết chính thống
Trang 8
Chương II MỘT SỐ LÝ THUYẾT TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
I LÝ THUYẾT NỀN TẢNG CƠ BẢN
1 Thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến trong công tác xã hội là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Tuy nhiên trong phạm vi học phần này sẽ đề cập thuyết hệ thống dựa trên quan điểm sinh thái Nhìn nhận dưới góc độ xã hội, thuyết hệ thống là một bộ phận hông thể tách rời của quan điểm sinh thái Hành vi con người không phải bộc lộ tự phát một cách độc lập mà nằm trong mối quan hệ với những hệ thống khác trong xã hội
Đại diện của thuyết hệ thống sinh thái là Hearn, Siporin, German & Gitterman và German Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người với môi trường sinh thái của mình Do đó, nguyên tắc tiếp cận là cuộc sống của mỗi con người phụ thuộc vào môi trường xã hội mà họ sinh sống, trong đó có những mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các hệ thống Khi can thiệp vào bất cứ điểm nào trong hệ thống thì cũng
sẽ tạo ra sự thay đổi trong toàn hệ thống
1.1 Một số khái niệm cần làm rõ của lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là bất kỳ đơn vị, tổ chức nào có những giới hạn xác định được với những
bộ phận tương tác; những đơn vị, tổ chức này có thể mang tính vật chất (như nhà cửa, vật dụng, …), mang tính xã hội (như gia đình, bạn bè, hàng xóm, …), mang tính kinh tế (như tài chính, ngân hàng, …), hoặc mang tính lý luận (lý thuyết, tư tưởng, …) Như vậy bản thân mỗi cá nhân con người cũng là một hệ thống bao gồm các tiểu hệ thống như hệ thống sinh lý, hệ thống tình cảm, hệ thống hành động và phản ứng, … Những hệ thống
mà nhân viên xã hội làm việc thường rất đa dạng, và có thể được phân chia thành:
- Hệ thống tự nhiên hoặc không chính thức như: bạn bè, gia đình, nhóm người lao động tự do, …
- Hệ thống chính thức: nhóm, cộng đồng, tổ chức đoàn hội, …
- Hệ thống xã hội: trường học, bệnh viện, …
Theo quan điểm sinh thái cũng có thể phân chia các hệ thống xã hội thành ba cấp độ: Cấp độ vi mô có gia đình, lớp học, bạn bè, …; cấp độ trung mô (mối quan hệ giữa các
hệ thống vi mô ảnh hưởng gián tiếp đến cá nhân) và cấp độ vĩ mô (văn hóa, tôn giáo, chính sách pháp luật, …)
Trang 9
Động năng là những tương tác nhằm duy trì chu trình hoạt động của hệ thống thông
qua việc trao đổi với các thành tố bên ngoài hoặc từ nguồn lực bên trong hệ thống
Hệ thống mở là hệ thống có sự tương tác với môi trường bên ngoài hệ thống nhằm
mục đích mang lại những thay đổi trong suốt tiến trình Hệ thống mở xuất hiện khi các mối tương tác của các thành viên nhóm không bó hẹp trong nhóm mà có hoạt động tương tác với các cá nhân hoặc tổ chức ngoài nhóm Tất cả các hệ thống xã hội đều cần mở để tiếp nhận đầu vào từ các hệ thống tương tác bên ngoài
Hệ thống đóng là hệ thống có những giới hạn chặt chẽ và không có sự tương tác với
bên ngoài
Đường biên là những hạn định hoặc biên giới của hệ thống đóng vai trò là nền tảng
cho việc thiết lập một hệ thống cụ thể với những yếu tố bên ngoài nó Tuy nhiên ý nghĩa của đường biên đóng hay mở phụ thuộc vào các hệ thống khác nhau Có những đường biên giúp cho hệ thống phát triển nhưng có những đường biên lại cản trở sự phát triển của
hệ thống
Sự phản hồi là tiến trình đặc biệt trong hệ thống mở, ở đó hệ thống đón nhận và sử
dụng các thông tin thu nhận được, lấy đó làm nền tảng cho sự thay đổi của hệ thống
Sự hài hòa giữa cá nhân và môi trường: trạng thái này đạt được khi môi trường có
những tài nguyên và phương pháp phân phối phù hợp, công bằng để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người
Nguyên liệu: là những năng lượng, thông tin, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà
cá nhân nhận được từ môi trường
Sản phẩm: là những năng lượng, thông tin, sự hỗ trợ của cá nhân dành cho môi
trường
Điểm giao thoa: là tác động qua lại hoặc nơi chính xác diễn ra tác động qua lại giữa
hai hệ thống riêng biệt hay giữa cá nhân và môi trường
Thích ứng: là khả năng thay đổi để thích nghi với những biến đổi của bản thân và
môi trường Thích ứng đòi hỏi năng lượng, khi cá nhân không có đủ năng lượng thì cần giúp họ huy động năng lượng cần thiết từ môi trường để thích ứng Thích ứng là tạo ra thay đổi môi trường để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân Theo Germain và Gitterman (1980) thì cuộc đời của các cá nhân được nhìn nhận như việc họ thích ứng thường xuyên trong một sự trao đổi lẫn nhau với nhiều khía cạnh khác nhau trong môi trường sống của
họ
Đối phó: là sự phấn đấu để thích ứng với một thay đổi, một tình huống tiêu cực Liên lập: con người không thể sống hoàn toàn biệt lập mà phải nhờ đến mối quan hệ
với mọi người xung quan để được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
1.2 Các nội dung chính của Lý thuyết hệ thống sinh thái
Trang 10
Trong lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ Mọi người trong hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau, và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một người sẽ có ảnh hưởng đến những yếu tố xung quanh Vì thế, trong các hoạt động CTXH, chúng ta phải nhìn vấn
đề cần thay đổi trên nhiều phương diện và ở nhiều mức độ khác nhau, trên lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới
Môi trường bao gồm ba cấp độ:
- Cấp độ vi mô là các quan hệ trực tiếp của từng cá nhân, hay nó cách khác, nó chính là cuộc sống của cá nhân mỗi con người Ví dụ gia đình là nơi cá nhân sinh ra và lớn lên có ảnh hưởng trực tiếp; lớp học là nơi cá nhân tham gia hàng ngày để thu thập kiến thức kỹ năng; cơ quan là nơi cá nhân cống hiến sức lao động và sự sáng tạo để khẳng định mình…
- Cấp độ trung mô bao gồm hai loại: Cấp trung mô nội sinh và cấp trung mô ngoại sinh Cấp trung mô nội sinh: ví dụ mối liên lạc giữa gia đình và nhà trường, gây nên sự ảnh hưởng trực tiếp tới học sinh Cấp trung mô ngoại sinh: Ví dụ nơi làm việc của người cha, nhưng sự kiện xảy ra tại nơi làm việc của cha như bị sa thải, hoặc tăng lương có thể ảnh hưởng đến thái độ của anh ta với con mình khi anh ta trở về nhà từ đó ảnh hưởng đến đứa trẻ
- Cấp độ vĩ mô: Là những yếu tố là bản chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hưởng đến cá nhân nằm trong đó Như chính sách, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị …đã tác động tới cuộc sống các thành viên
Lý thuyết hệ thống sinh thái chú ý vị trí của cá nhân trong môi trường sống Con người không sống biệt lập mà luôn luôn sống trong cộng đồng, và tác động qua lại giữa các hệ thống; con người và môi trường có ảnh hưởng lớn đến an sinh của cá nhân và xã hội
Nếu đạt được sự hài hòa giữa cá nhân và môi trường thì con người được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, nói cách khác khi đó hệ thống cá nhân hoạt động bình thường Khi tất cả các tiểu hệ thống trong một hệ thống có mối quan hệ hài hòa thì hệ thống đó tốt, hay mở rộng môi trường xã hội sẽ vận hành tốt khi các hệ thống trong đó tương tác phù hợp Tuy nhiên có rât nhiều yếu tố tác động khiến cho mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường không hài hòa Có 3 trường hợp thiếu hài hòa như sau: Một là môi trường có tài nguyên, phân phối hợp lý nhưng cá nhân không sử dụng (vì thiếu kiến thức về tài nguyên, hoặc không có ý chí sử dụng tài nguyên); hai là môi trường có tài nguyên nhưng không có phương pháp phân phối hợp lý; ba là môi trường không có tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân Khi có sự không hài hòa giữa cá nhân và môi trường thì cần xác định điểm giao thoa để can thiệp tạo ra sự thay đổi
Trang 11Pincus - Minaham (1970) đã đưa ra cách ứng dụng thuyết hệ thống trong hoạt động Công tác xã hội Tác giả này chia các tổ chức hỗ trợ con người trong hệ thống xã
hội thành ba loại hệ thống:
- Hệ thống không chính thức hay gọi là hệ thống tự nhiên (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…)
- Hệ thống chính thức như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ,…
- Hệ thống xã hội như trường học, bệnh viện,…
Trong thực tế hoạt động Công tác xã hội, bản thân nhân viên xã hội là một hệ thống
sẽ phải tương tác, làm việc với nhiều hệ thống khác nhau: hệ thống thân chủ (cá nhân thân chủ, các thành viên trong gia đình), hệ thống nguồn lực (chính quyền, việc làm, nghề nghiệp, giáo dục, y tế, luật pháp, …) từ đó đưa ra được hệ thống các giải pháp can thiệp phù hợp với hệ thống thân chủ và đảm bảo sự khả thi với hệ thống các nguồn lực liên quan
Theo quan điểm của tác giả này, con người dựa vào hệ thống trong môi trường xã hội gần cận của mình để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn Nhưng không phải lúc nào thân chủ cũng sử dụng được các hệ thống trợ giúp, vì những lý do như:
- Những hệ thống không tồn tại trong cuộc sống của họ, hoặc không phù hợp với vấn đề mà họ gặp phải (người già neo đơn mất đi hệ thống gia đình);
- Người có nhu cầu có thể không biết tới hệ thống trợ giúp hoặc không muốn sử dụng chúng;
- Các chính sách của hệ thống có thể bất cập, gây khó khăn cho thân chủ khi sử dụng (sự phụ thuộc, mâu thuẫn quyền lợi, thủ tục rườm rà);
- Hệ thống này xung đột với hệ thống khác
Nhiệm vụ của nhân viên xã hội là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa những người có nhu cầu và các hệ thống trợ giúp nói trên Theo quan điểm này, nhân viên xã hội không nhất thiết đổ lỗi hoàn toàn cho con người hay do hệ thống xung quanh
mà quan trọng hơn là phải tìm ra điểm yếu trong kết nối giữa con người với các hệ thống này Mục đích nhằm giúp con người thực hiện lý tưởng sống của mình một cách tốt nhất
Trang 12- Giúp thân chủ sử dụng và phát huy tối đa khả năng để giải quyết vấn đề
- Xây dựng mối quan hệ mới giữa thân chủ và các hệ thống trợ giúp trong xã hội
- Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa con người với các hệ thống
- Cải tạo mối quan hệ tương tác giữa những con người trong cùng hệ thống
- Giúp phát triển và thay đổi chính sách xã hội một cách phù hợp
- Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết
1.3 Những điểm mạnh và hạn chế của lý thuyết hệ thống sinh thái khi ứng dụng trong Công tác xã hội
1.3.1 Điểm mạnh
Thuyết hệ thống giúp cho nhân viên xã hội nhìn nhận, phân tích vấn đề một cách toàn diện, trên mọi khía cạnh; đồng thời từ đó biết tập trung vào hệ thống để giải quyết vấn đề Thuyết hệ thống cũng giúp nhân viên xã hội có thể đánh giá được những nguy cơ, những sự thay đổi tiềm ẩn hay nói cách khác là dự báo được các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình hỗ trợ thân chủ
Thuyết hệ thống sinh thái giúp các nhà thực hành công tác xã hội có những hiểu biết
về các thể chế, mối quan hệ tương tác giữa các thể chế, các hệ thống này với nhau và giữa các hệ thống với các đối tượng trong nhóm; biết cách thức mà các cá nhân tương tác với nhau; biết được những nhân tố nào sẽ hỗ trợ cho sự thay đổi của tiến trình giúp đỡ Theo tác giả Trần Đình Tuấn (2010, Công tác xã hội - Lý thuyết và thực hành) thì thuyết hệ thống sinh thái “cho phép nhân viên công tác xã hội vừa nhìn được khách hàng trong bức tranh tổng thể qua nhãn quan của con chim bay trên cao, vừa nhìn thấy rõ tình trạng của những thành phần nhỏ đóng góp nên bức tranh qua nhãn quan của con rắn bò sát đất, và nhờ vậy có thể định vị chính xác được chỗ nào cần và có thể tác động để thay đổi, và thay đổi này sẽ giải quyết được vấn nạn hay chỉ là mục tiêu dễ thành công nhất để tạo khí thế dẫn đến những mục tiêu thay đổi quan trọng hơn.”
Như vậy thuyết hệ thống sinh thái đã cung cấp một mô hình giúp nâng cao hiểu biết cho nhà chuyên môn và cách đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho con người trong môi trường của họ Nhân viên xã hội hiểu biết thuyết hệ thống sẽ có cơ hội lựa chọn dịch vụ không phải chỉ để hỗ trợ trực tiếp cho thân chủ mà còn để xác định sự đóng góp vào việc cung cấp các dịch vụ xã hội Ví dụ nhân viên xã hội chuyên nghiệp có thể cung cấp những đánh giá ở cấp độ cá nhân, nhóm, cộng đồng và tổ chức, trên cơ sở đó thúc đẩy sự
Trang 13lý thuyết và thực hành, các nhà thực hành phải chấp nhận những kết luận của thuyết này
mà đôi khi không rõ căn cứ
Thứ hai, nhiều ý kiến cho rằng khi vận dụng lý thuyết này trong thực hành hỗ trợ thân chủ sẽ thấy được sự không thống nhất của lý thuyết với một số giá trị của công tác
xã hội Ví dụ khi can thiệp nhóm, giá trị của công tác xã hội đề cao tính cá biệt, độc đáo của các thân chủ, nhân viên xã hội cần thực hiện cá biệt hóa trong tiến trình giúp đỡ; trong khi đó thuyết hệ thống rất coi trọng và nhấn mạnh mối tương tác và mạng lưới làm việc giữa các cá nhân Vậy làm thế nào để đảm bảo được sự phù hợp về giá trị tôn trọng
sự khác biệt trong khi vận dụng lý thuyết hệ thống sinh thái
Tình huống thảo luận
Cho tình huống: “T.M.Q là cậu bé 14 tuổi, học lớp 7, lầm lỳ, ít nói, hay quậy phá
Q hiện sống cùng cha ở khu dân cư lao động nghèo của Quận Cầu Giấy, Hà Nội Cha mẹ
Q đã ly hôn Cha Q có vợ kế, họ có 2 con nhỏ, ông là thợ xây dựng, công việc không ổn định, lại có tật uống rượu Mỗi khi say thường hay chửi bới, thậm chí là đánh Q và đuổi
Q về với mẹ của em Mẹ kế của Q bán rau ở một chợ xép, thu nhập thấp Bà thường về hùa với cha Q để đánh đuổi Q Những lúc như vậy Q lại bỏ về với mẹ Mẹ Q không có công việc ổn định, sống phụ thuộc vào người chồng sau làm nghề "xe ôm" (họ không có đăng ký kết hôn và cũng có hai con nhỏ) Mẹ Q rất thương con nhưng lại sợ chồng nên không dám nuôi Q lâu Q tuy giận mẹ nhưng vẫn thương mẹ Cũng có khi Q bỏ đến với
bà nội đang sống cùng vợ chồng chú út (bà bán nước) Bà cũng thương Q nhưng do nhà cửa chật chội nên không thể để em ở lại, vì vậy thường chỉ cho em ít tiền Gần đây Q bỏ học đi với nhóm bạn xấu Mẹ Q đến gặp nhân viên xã hội với tâm trạng lo lắng và bối
rối.”
Yêu cầu: Xác định các hệ thống liên quan đến tình huống này, phân tích tác động
của các hệ thống đối với thân chủ Q?
2 Thuyết nhu cầu
2.1 Khái quát
Khái niệm: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nhu cầu Nhưng có thể hiểu một cách chung nhất “Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con
Trang 14
người về vật chất hay tinh thần để có thể tồn tại và phát triển” Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý mỗi người có những nhu cầu khác nhau
Phân loại: Có nhiều cách phân chia nhu cầu, như nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; nhu cầu tồn tại và nhu cầu phát triển; nhu cầu của cá nhân, nhu cầu của nhóm, nhu cầu của cộng đồng Trong Công tác xã hội chúng ta quan tâm đến sự khác biệt giữa nhu cầu cần và nhu cầu cảm nhận:
- Nhu cầu cần: là những yêu cầu, những điều mong muốn của xã hội và những cá nhân khác đối với một cá nhân nào đó trong một bối cảnh cụ thể;
- Nhu cầu cảm nhận là mong muốn, đòi hỏi của chính chủ thể nào đó trong những bối cảnh nhất định và được cho là hợp lý
Ví dụ: Khi một đứa trẻ có những hành vi chống đối, không hợp tác trong lớp học thì
thầy cô, cha mẹ có thể cho rằng đứa bé đó cần phải có các biện pháp kỷ luật thích đáng
để không tái diễn hành vi tiêu cực; nhưng điều quan trọng hơn trong hoạt động trợ giúp
của Công tác xã hội là tìm hiểu, quan tâm xem thực sự cảm nhận của đứa bé trong hoàn
cảnh này, có phải sự chống đối đó liên quan đến những nhu cầu tình cảm nào đó đang không được đáp ứng, chưa được thỏa mãn hay không
Abraham Maslow (1908-1970) khi đưa ra lý thuyết liên quan đến nhu cầu con
người vào những năm 50 của thế kỷ XX đã đề cập đến hệ thống 5 loại nhu cầu của con
người được xếp thành thứ bậc, nhu cầu bậc thấp xếp phía dưới, các nhu cầu phát triển xếp
ở các bậc thang cao hơn Các nhu cầu này được xếp thành hình tháp:
- Bậc thấp nhất là nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại (hay gọi là nhu cầu sống còn: bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như là thức ăn, không khí, nước uống, các nhu cầu sinh lý cơ thể như là tình dục, bài tiết, … Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người, các nhu cầu này nếu không được đáp ứng sẽ kéo theo những khó khăn tâm lý
- Bậc thứ hai là nhu cầu an toàn Các cá nhân trong xã hội đều mong muốn mình được bảo vệ trước các tác nhân nguy hiểm trong cuộc sống Nhu cầu này là sự mong muốn về sự bình yên trong cuộc sống, mong muốn được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, được sống trong một địa bàn an ninh, sống trong một xã hội có pháp luật, có một nơi
ở yên ấm Mỗi cá nhân đều cần được an toàn về thân thể, được đảm bảo về việc làm, …
- Bậc nhu cầu thứ ba là nhu cầu được giao lưu tình cảm và thuộc vào nhóm Các cá nhân trong đời sống đều cần có các mối quan hệ gia đình, bạn bè, quan hệ trong cộng đồng, … Vì vậy cá nhân luôn muốn có cảm giác được yêu thương, được chấp nhận trong
xã hội thông qua các hoạt động giao tiếp, kết bạn, tìm kiếm các mối quan hệ, tham gia hoạt động tập thể, làm việc nhóm Theo Maslow thì nếu nhu cầu giao lưu không được đáp ứng phù hợp thì có thể gây nên những rối loạn về tinh thần
Trang 15
- Bậc nhu cầu thứ tư là nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu này thể hiện qua mong muốn được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, sự cảm nhận, quý trọng chính bản thân mình Đây còn được gọi là nhu cầu tự trọng Khi nhu cầu này được thỏa mãn ở cá nhân thì cá nhân đó sẽ có khả năng đương đầu tốt với những khó khăn trong cuộc sống để giải quyết được vấn đề của bản thân
- Bậc nhu cầu cao nhất của con người là nhu cầu thể hiện bản thân hay nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu này có tác động lớn nhất đến sự hoàn thiện nhân cách của cá nhân Maslow cho rằng nhu cầu này thể hiện qua mong muốn được là chính mình, được thể hiện sự sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân
Mặc dù Maslow phân chia thành 5 bậc nhu cầu theo quy luật các nhu cầu bậc thấp hơn được đáp ứng thì mới xuất hiện những nhu cầu ở bậc tiếp theo nhưng; nhưng trên thực tế các nhu cầu có sự đan xen, và trong nhiều tình huống nhiều giá trị xã hội, khuôn mẫu xã hội có thể dẫn dắt cá nhân và cá nhân không bị chi phối bởi các nhu cầu có tính tồn tại Như vậy trong nhiều trường hợp có thể nhu cầu sống còn, nhu cầu an toàn chưa được thỏa mãn, cá nhân vẫn có thể hy sinh để đạt những nhu cầu ở bậc cao hơn
2.2 Nội dung của thuyết nhu cầu
- Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau nhưng mỗi cá nhân là một thực thể độc lập có những hoàn cảnh sống, kinh nghiệm, văn hóa, nhận thức,… khác nhau -> nhu cầu cụ thể của cá nhân, mức độ đối với từng loại nhu cầu là khác nhau
Hoàn thiện
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu thuộc về nhóm
Nhu cầu an toàn: được bảo vệ trước
những rủi ro
Nhu cầu sống còn (nhu cầu về không khí, nước, thức
ăn, quần áo, nơi ở, nghỉ ngơi,…)
Trang 16
- Sự vận động và phát triển của xã hội loài người là nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của con người Việc đáp ứng nhu cầu con người là động cơ để thúc đẩy con người tham gia vào hoạt động sản xuất và các hoạt động xã hội
- Trong xã hội luôn tồn tại những người, cộng đồng do thiếu hụt các nguồn lực mà không thể đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu
2.3 Ứng dụng lý thuyết nhu cầu trong hoạt động Công tác xã hội
Nhân viên xã hội có thể xác định thứ bậc các nhu cầu hiện tại của cá nhân, từ đó giúp xây dựng kế hoạch can thiệp đối với thân chủ cho phù hợp Việc xác định nhu cầu
ưu tiên trong những tình huống làm việc với thân chủ cũng rất quan trọng Khi tiếp cận theo lý thuyết nhu cầu, nhân viên xã hội cần thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe tích cực để khám phá những nhu cầu hợp lý của cá nhân ẩn sau những hành động có thể không hợp lý; chú trọng khai thác những điểm mong muốn của thân chủ Nhân viên xã hội cũng luôn cần chú ý đến nguyên tắc cá biệt hóa khi làm việc bởi con người có nhu cầu chung giống nhau nhưng mỗi người là một thực thể độc lập, trong những hoàn cảnh không giống nhau
sẽ nảy sinh những nhu cầu khác nhau, hoặc kể cả hoàn cảnh giống nhau, vấn đề giống nhau nhưng nhu cầu có thể khác nhau
Như vậy có 3 nội dung cần quan tâm trong quá trình vận dụng lý thuyết nhu cầu vào hoạt động Công tác xã hội:
- Một là, theo cách tiếp cận dựa vào nhu cầu, hoạt động Công tác xã hội là những hoạt động nhằm hỗ trợ các nguồn lực bị thiếu hụt của con người để giúp con người đáp ứng nhu cầu;
- Hai là, khi lý giải hành vi, vấn đề của thân chủ, thuyết nhu cầu cho rằng nguyên nhân dẫn đến các vấn đề của cá nhân, nhóm, cộng đồng là do không được đáp ứng những nhu cầu cần thiết;
- Ba là, nhân viên xã hội khi thực hành Công tác xã hội theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu cần phải:
+ Tìm hiểu, thu thập thông tin để khám phá những nhu cầu hợp lý chưa được thỏa
mãn của con người; quan tâm đến những nhu cầu cảm nhận ẩn trong con người
+ Sau đó đánh giá được nhu cầu ưu tiên bằng cách xem xét, phân tích, xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu
+ Lập kế hoạch hành động để đáp ứng các nhu cầu cho thân chủ
Nhân viên xã hội cần lưu ý khi vận dụng các bước can thiệp trên, đó là:
- Nhu cầu của thân chủ phải là nhu cầu hợp lý
- Dùng kỹ năng lắng nghe tích cực để gợi mở, tạo điều kiện cho thân chủ bộc lộ hết những nhu cầu của họ
Trang 17
- Đặt thân chủ và nhu cầu của họ vào vị trí trung tâm chứ không phải ý muốn chủ quan của nhân viên xã hội hay ý muốn của những người khác để tránh chủ quan trong việc đánh giá nhu cầu
- Khi thực hiện hóa các nhu cầu của thân chủ, nhân viên xã hội cần khích lệ thân chủ tham gia vào quá trình đó, cùng với sự hỗ trợ từ các nguồn lực cần thiết; tránh việc thân chủ trông chờ, ỷ lại vào sự đáp ứng từ bên ngoài
Kết luận, đánh giá:
Theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu, Công tác xã hội là quá trình nhân viên xã hội cùng với thân chủ đánh giá đúng các nhu cầu hợp lý chưa được đáp ứng của thân chủ, cùng hành động để giúp thân chủ tự thỏa mãn được các nhu cầu cho chính họ
Tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động Công tác xã hội Thứ nhất là, trong xã hội luôn tồn tại những người thiếu nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình Do đó họ cần có sự hỗ trợ của xã hội, cộng đồng Thứ hai, việc đáp ứng nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia vào hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội Nếu không đáp ứng nhu cầu của con người thì họ sẽ mất dần động cơ tham gia đóng góp xã hội, thay vào đó là các hành vi chống đối xã hội Thứ
ba, tiếp cận dựa trên nhu cầu giúp giảm kinh phí đối với các hoạt động hỗ trợ xã hội; tăng hiệu quả vì tránh được dư thừa hoặc thiếu hụt
Thảo luận tình huống
Dựa vào tình huống của T.M.Q, yêu cầu:
- Liệt kê các vấn đề của Q
- Xếp thứ tự ưu tiên các vấn đề của Q (từ 1,2,3,…)
- Chuyển những vấn đề ưu tiên thành các nhu cầu đối với Q
- Đưa ra một số giải pháp đáp ứng các nguồn lực để đáp ứng một nhu cầu ưu tiên của thân chủ Q?
3 Thuyết trao quyền
Quá trình trao quyền mạnh mẽ và các luận điểm biện hộ được bắt nguồn từ những năm 1980, 1990 Trao quyền được nhấn mạnh trong cả ba phương pháp Công tác xã hội
ở cấp độ cá nhân, nhóm và cộng đồng Các quan điểm trao quyền và biện hộ có nguồn gốc từ cách tiếp cận về mặt pháp lý, được áp dụng nhiều hơn trong giải quyết các vấn đề pháp lý; biện hộ là một kỹ năng trong các khoá đào tạo pháp lý
Trao quyền hướng đến giúp các thân chủ đạt được quyền ra quyết định và hành động thông qua cuộc sống của họ bằng việc làm giảm những tác động về những giới hạn/hạn chế của cá nhân hoặc xã hội trong việc thực hiện quyền lực hiện hữu, qua việc