1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng ứng dụng các lý thuyết công tác xã hội vào can thiệp trẻ tự kỷ

21 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 334,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm

Trang 1

ỨNG DỤNG CÁC LÝ THUYẾT CTXH

VÀO CAN THIỆP TRẺ TỰ KỶ

Trang 2

sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng

và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ”.

Quan niệm của Freud: “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại trong cái tôi, có nghĩa là đã trở thành tự yêu, là

sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng

và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ”.

Tóm lại: tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển của hệ thần kinh nơi một số

trẻ em

Những trẻ em mang chứng tự

kỷ biểu hiện khiếm khuyết về tương tác xã hội; khiếm khuyết về truyền thông giao tiếp; và các hành vi sở thích hạn chế và lặp đi

lặp lại.

Tóm lại: tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển của hệ thần kinh nơi một số

trẻ em

Những trẻ em mang chứng tự

kỷ biểu hiện khiếm khuyết về tương tác xã hội; khiếm khuyết về truyền thông giao tiếp; và các hành vi sở thích hạn chế và lặp đi

lặp lại.

Trang 3

• Thiếu nụ cười giao tiếp.

• Thiếu giao tiếp bằng mắt.

• Thiếu nụ cười giao tiếp.

• Thiếu giao tiếp bằng mắt.

• Không thân thiện với cha mẹ.

• Gọi tên hầu như không đáp lại.

• Không chơi các trò chơi xã hội đơn giản

• Chưa có dấu hiệu ngôn ngữ.

• Dường như không quan tâm đến các đồ chơi của trẻ em.

• Thích nhìn ngắm các bàn tay của mình.

• Không nhai hoặc không chấp nhận những thức ăn cứng.

• Thích đi kiễng chân – đi bằng 5 đầu ngón chân.

• Thường phát ra các âm thanh

vô nghĩa.

Từ 6 – 24 tháng

• Không thích âu yếm, cơ thể có thể mềm yếu hay cứng nhắc khi được ôm.

• Không thân thiện với cha mẹ.

• Gọi tên hầu như không đáp lại.

• Không chơi các trò chơi xã hội đơn giản

• Chưa có dấu hiệu ngôn ngữ.

• Dường như không quan tâm đến các đồ chơi của trẻ em.

• Thích nhìn ngắm các bàn tay của mình.

• Không nhai hoặc không chấp nhận những thức ăn cứng.

• Thích đi kiễng chân – đi bằng 5 đầu ngón chân.

• Thường phát ra các âm thanh

vô nghĩa.

Trang 4

Dấu hiệu trẻ tự kỷ

Từ 2 đến 3 tuổi

• Thích chơi một mình.

• Không nói được từ có 2 tiếng trở lên

• Thích xem sách, tạp chí, các nhãn mác và logo quảng cáo.

• Coi người khác như một công cụ

• Chưa biết dùng ngón trỏ để chỉ điều trẻ muốn.

• Sử dụng đồ chơi không thích hợp.

• Không có nỗi sợ giống trẻ BT

• Không hợp tác với sự chỉ dẫn, dạy bảo của người lớn.

• Không biết gật đầu đồng ý và lắc đầu không đồng ý

• Tránh giao tiếp bằng mắt

• Không đoán biết được những nguy hiểm.

• Thích ngửi hay liếm đồ vật.

• Thích chạy vòng vòng, xoay vòng vòng và quay các loại bánh

xe.

• Ngưng nói ở bất cứ tuổi nào, dù trước đó đã biết nói

Trang 5

Dấu hiệu trẻ tự kỷ

Từ 4 đến 5 tuổi

• Trẻ bị chậm nói, nếu có ngôn ngữ phát triển, có thể có chứng

nhại lời

• Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm.

• Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài.

• Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử.

• Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật.

• Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai.

• Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn như cách nói nhấn giọng hay

đơn điệu).

• Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày.

• Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải

thiện.

• Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế.

• Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhưng có thể dần dần

cải thiện.

• Tự làm tổn thương mình.

• Tự kích động.

Trang 6

1 • Lí thuyết hành vi

2 • Lí thuyết sinh thái

3 • Lí thuyết học tập xã hội

Lí thuyết áp dụng

Trang 7

Lí thuyết nhận thức hành vi

Thuyết phản xạ có điều kiện – Pavlop

-Những hành vi nhất định có thể được tạo ra bởi kích thích trung tính đơn giản bởi sự liên kết học tập của nó với một kích thích mạnh hơn

- Quan điểm của Pavlop cho thấy nhận thức là một sự liên kết giữa hai kích thích theo cơ chế “phản xạ có điều kiện”, đây là loại phản xạ con người học được trong

cuộc sống

Trang 8

Lý thuyết nhận thức hành vi

Vân dụng thuyết phản xạ có điều kiện – Pavlop

Vân dụng thuyết phản xạ có điều kiện – Pavlop

xuất hiện(kích thích 1) thì kèm theo một phần quà trẻ thích (kích thích 2) Cứ duy trì kích thích này chúng ta sẽ hình thành cho trẻ cảm giác vui mừng mỗi khi trẻ gặp nhà giáo dục…

NVCTXH nên sử dụng 2 kích thích, một kích thích đầu tiên và một kích thích đi kèm VD NVCTXH muốn trẻ chú ý đến người giáo dục thì mỗi lần nhà giáo dục

xuất hiện(kích thích 1) thì kèm theo một phần quà trẻ thích (kích thích 2) Cứ duy trì kích thích này chúng ta sẽ hình thành cho trẻ cảm giác vui mừng mỗi khi trẻ gặp nhà giáo dục…

Trang 9

Lí thuyết nhận thức hành vi

Học thuyết hành vi tạo tác của B Skinner

- Toàn bộ học thuyết của B F Skinner dựa trên nguyên

lý vận hành có điều kiện.

- Một hành vi sẽ xảy ra nhiều hơn sau khi sinh thể tiếp

cận với nguồn kích thích có lợi Đây là quá trình vận

hành phản xạ có điều kiện: Một hành vi tạo ra một kết

quả, và kết quả ấy sẽ thuyết phục sinh thể để tạo ra một

xu hướng lặp lại những hành vi ấy trong tương lai.

- Điểm nổi bật trong thuyết của ông đó là có thể duy trì hay chấm dứt hành vi nào đó thông qua các dạng cũng cố.

Trang 10

Lý thuyết nhận thức hành vi

Vân dụng thuyết hành vi tạo tác của B Skinner

Vân dụng thuyết hành vi tạo tác của B Skinner

cố hành vi của trẻ Phẩn thưởng có thể

là những lời khen, hoặc những món quà khác Ngược lại khi trẻ có những hành vi không phù hợp thì nhà giá dục có thể sự dụng các củng cố tiêu cực để chấm dứt hành vi này của trẻ thông qua các sự trừng phạt như

không được ăn kẹo, chơi game

Sử dụng các củng cố tăng cường và củng cố tiêu cực đối với hành vi của trẻ Khi trẻ làm có những hành vi đúng như mong muốn của nhà giáo dục thì nhà giáo dục hoặc cha mẹ trẻ đưa ra những phần thưởng nhằm củng

cố hành vi của trẻ Phẩn thưởng có thể

là những lời khen, hoặc những món quà khác Ngược lại khi trẻ có những hành vi không phù hợp thì nhà giá dục có thể sự dụng các củng cố tiêu cực để chấm dứt hành vi này của trẻ thông qua các sự trừng phạt như

không được ăn kẹo, chơi game

Trang 12

Lí thuyết sinh thái

-Lý thuyết này chỉ ra rằng con người nằm trong nhiều hệ thống sinh thái khác nhau và mỗi hệ thống này có mối quan hệ khác nhau có nghĩa rằng mỗi hệ thống sinh thái

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau sẽ có sự phát triển

khác so với những hệ thống sinh thái có những mối quan

hệ lỏng lẻo

- Qua thuyết biết được "bất cứ một việc can thiệp hay

giúp đỡ một cá nhân hoặc tổ chức nào đó đều liên quan đến toàn bộ hệ thống".

- Khi xem xét hành vi của cá nhân cần xem xét tới toàn

bộ hệ thống xung quanh cá nhân đó

Trang 13

Thể hiện vai trò của nhân viên ctxh trong tiến trình can thiệp với trẻ.

Lí thuyết sinh thái

Trang 15

Thể hiện vai trò của nhân viên ctxh trong tiến trình can thiệp với trẻ.

Thể hiện vai trò của nhân viên ctxh trong tiến trình can thiệp với trẻ.

Vai trò tư vấn

Trang 16

Thuyết học tập xã hội

gốc của quan điểm học tập của Gabriel Tarde

(1843 - 1904) Gabriel nhấn mạnh ý tưởng về học tập xã hội thông qua ba qui luật bắt chước: đó là

sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai.

Trang 17

Thuyết học tập xã hội

chỉnh hành vi

lời nói, đặt tên hoặc hình tượng hoá kết quả Các

cá nhân có thể bắt chước hành vi được làm mẫu

đó nếu như mô hình đó thích hợp với họ, làm họ thấy ngưỡng mộ và nếu như nó mang lại kết quả

mà họ coi là giá trị.

Trang 18

- Bắt chước: chúng ta giáo dục cho trẻ bắt chước những hành vi của các bạn, của giáo viên để từ đó trẻ từ bỏ được hành vi không mong muốn và thay vào

đó bằng những hành vi khác Với trẻ

tự kỉ và đặc biệt với đối tượng lại là trẻ em thì việc bắt chước có thể diễn ra

dễ dàng hơn đặc biệt là khi trẻ đang ở

độ tuổi việc học tập bằng việc bắt chước là một phương thức hiệu quả

- Tạo ra môi trường để trẻ học tập: học tập từ người can thiệp, bạn bè, người chăm sóc

- Bắt chước: chúng ta giáo dục cho trẻ bắt chước những hành vi của các bạn, của giáo viên để từ đó trẻ từ bỏ được hành vi không mong muốn và thay vào

đó bằng những hành vi khác Với trẻ

tự kỉ và đặc biệt với đối tượng lại là trẻ em thì việc bắt chước có thể diễn ra

dễ dàng hơn đặc biệt là khi trẻ đang ở

độ tuổi việc học tập bằng việc bắt chước là một phương thức hiệu quả

Thuyết học tập xã hội

Trang 19

- Tạo ra hành vi mẫu: Bằng cách làm mẫu sau đó hướng dẫn và yêu cầu trẻ thực hiện chúng ta có thể truyền đạt giúp trẻ hiểu được một khái niệm bất kì để trẻ áp dụng được khái niệm đó trong quá trình giao tiếp cũng như trong cuộc sống

Thuyết học tập xã hội

Trang 20

Kết luận

Việc can thiệp, giáo dục trẻ tự kỉ là tương đối phức tạp, tốn nhiều công sức, tiền của Việc vận dụng các lý thuyết trong việc can thiệp trẻ tự kỉ đóng vai trò vô cùng quan trọng Đi cùng với các lý thuyết là những phương pháp can thiệp

tương ứng Các lý thuyết chỉ ra rằng các cách thức để thực hiện các phương pháp đó và tiên đoán được những kết quả mang lại Vai trò của nhà giáo dục vận dụng một cách linh hoạt những lý thuyết, những phương pháp để giải quyết tình huống Trên thực tế với mỗi trường hợp chúng ta có thể kết hợp nhiều phương pháp, lý thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề Do đó chúng ta không nên máy móc hay độc tôn một

lý thuyết nào trong việc giải quyết vấn đề của trẻ

Ngày đăng: 30/03/2016, 18:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành - Bài giảng ứng dụng các lý thuyết công tác xã hội vào can thiệp trẻ tự kỷ
Hình th ành (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w