Đáp án bài thảo luận Luật TTHS chính xác 99% của 9 bài trong tài liệu học tập môn luật TTHS của đại học luật Đáp án bài thảo luận Luật TTHS chính xác 99% của 9 bài trong tài liệu học tập môn luật TTHS của đại học luật Đáp án bài thảo luận Luật TTHS chính xác 99% của 9 bài trong tài liệu học tập môn luật TTHS của đại học luật
Trang 1Bài thảo luận KN,NV và Nguyên tắc CB của LTTHS
I Lí thuyết
Câu 1: Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản?
Chức năng TTHS - một dạng chức năng nhà nước, là những định hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau trong phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với mục đích quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tố tụng TTHS có 3 chức năng cơ bản sau:
+ Chức năng buộc tội: Chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu trách nhiệm hình
sự, là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người
đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối với người đó Cụ thể:
Chức năng buộc tội là một dạng hoạt động TTHS
Chức năng buộc tội đối lập với chức năng bào chữa và cùng tồn tại với chức năng này
Chức năng buộc tội tồn tại từ giai đoạn điều tra và sẽ kéo dài cho đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tức là nó phải trải qua giai đoạn điều tra
+ Chức năng bào chữa: Đây là chức năng xuất phát từ quyền bào chữa của người bị buộc
tội, phát sinh ngay sau khi có quyết định buộc tội của cơ quan nhà nước trong cả quá trình
tố tụng gồm điều tra, truy tố, xét xử
Mục đích của việc thực hiện chức năng bào chữa là trao cho người bị buộc tội cơ hội được bảo vệ quyền lợi chính đáng trước thủ tục tố tụng, hỗ trợ họ tự vệ trước áp buộc của bên buộc tội, mang ý nghĩa nhân đạo tạo thế cân bằng cho cả hai bên
+ Chức năng xét xử: Đây là chức năng cơ bản của TTHS, chức năng xét xử chỉ do Tòa
thực hiện Khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án giải quyết các vụ án theo thẩm quyền, xác định tội phạm và hình phạt Tòa án thực hiện chức năng xét xử qua 3 nội dung chính:
Xác định sự thật khách quan của vụ án, đánh giá một cách khách quan, tổng thể, toàn diện sự kiện đó
Đánh giá pháp lý đối với sự việc phạm tội một cách độc lập và công bằng, tiến hành định tội danh chính xác và phù hợp với hành vi phạm tội và sự việc phạm tội
Trang 2 Áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Câu 2: Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS
* Mô hình TTHS là cách thức tổ chức hoạt động TTHS quyết định địa vị tố tụng của các
chủ thể tham gia hoạt động TTHS như thế nào và nguồn động lực của hoạt động TTHS là gì: là hoạt động tích cực của các bên tham gia tranh tụng hay là hoạt động tích cực của các
cơ quan nhà nước mà trước hết là cơ quan Tòa án hay là sự kêt hợp của cả hai
* Theo quan điểm phổ biến, có 04 mô hình TTHS sau:
Ưu điểm: Chủ thể thực hiện chức năng bào chữa chính là người bị buộc tội Hơn nữa, mọi
người đều có thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội như là những người thân, bạn bè của người bị buộc tội Bào chữa mang ý nghĩa nhằm bảo vệ người bị buộc tội
Nhược điểm: Để hạn chế tình trạng lợi dụng quyền tố cáo gây thiệt hại đến tính mạng, danh
dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, loại hình tố tụng tố cáo đòi hỏi khi tố cáo tội phạm với nhà chức trách, người tố cáo phải tuyên thệ; nếu người bị tố cáo không phạm tội, người
tố cáo có thể bị xử phạt Điều này đã làm cho việc tố cáo của người bị hại giảm dần Dần dần, trong loại hình tố tụng tố cáo, chủ thể buộc tội là cá nhân (người bị hại) được chuyển giao cho người đại diện lợi ích của nhà vua nên tư tố chuyển sang công tố
Chủ thể thực hiện chức năng xét xử không có sự thống nhất, ở các thời điểm khác nhau thì
cơ quan xét xử cũng được quy định khác nhau
- Tố tụng thẩm vấn:
Ưu điểm: Tố tụng thẩm vấn ra đời từ những nguyên nhân sau: thứ nhất, từ yêu cầu tăng
cường quyền lực công; thứ hai, do tình hình tội phạm tăng; thứ ba, do thái độ thờ ơ, vô
trách nhiệm của quyền lực công đối với các quyền của con người
Đặc trưng cơ bản của hoạt động tố tụng này là: đưa công tố của nhà vua thành một chủ thể bắt buộc của bất cứ vụ án hình sự nào, điều này thừa nhận sự quan tâm của Nhà nước đối với vụ án và tình hình tội phạm; quy định hai thẩm phán trong suốt quá trình điều tra, truy
tố và xét xử Phiên tòa xét xử trong loại hình này không phải là sự tranh luận giữa hai bên đối trọng mà là tiếp tục điều tra Các bên phải cung cấp tất cả các chứng cứ cho tòa án, sự thật được đánh giá và kết luận trong quá trình xét hỏi
Trang 3Nhược điểm: Trong tố tụng thẩm vấn, các cơ quan có thẩm quyền dùng nghiệp vụ điều tra
để xác định hành vi phạm tội của người bị buộc tội, nên không thể công khai rộng rãi, nhất
là đối với người bị buộc tội
Các hoạt động tố tụng không được phân biệt rõ ràng và được thể hiện ở những mức độ khác nhau Đặc biệt, các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng tố tụng không được xác định cụ thể mà hầu như tập trung vào toà án Người bị hại không có chức năng buộc tội mà thay vào đó là người thuộc các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng tố tụng Người bị buộc tội bị hạn chế quyền bào chữa, họ không phải là một chủ thể trong quan hệ tố tụng
mà chỉ là khách thể của quan hệ tố tụng
- Tố tụng tranh tụng:
Ưu điểm: Thứ nhất, mô hình tranh tụng có một quy trình tố tụng, đặc biệt là trong giai đoạn
xét xử, thể hiện tính công bằng cao Điều này được thể hiện qua vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, giữa công tố viên và luật sư Cả hai chủ thể này đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong suốt quá trình tố tụng Thông qua đối tụng giữa công tố viên và luật sư mà tòa án, gồm đoàn bồi thẩm và thẩm phán chủ tọa, phán quyết về sự thật khách quan và định hình phạt
Luật sư có thể tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng nên tòa án có thêm được một nguồn thông tin giá trị để khám phá sự thật khách quan của vụ án thay vì chỉ xem xét các chứng
cứ có trong hồ sơ hình sự của mô hình thẩm vấn thì đoàn bồi thẩm của mô hình tranh tụng được tiếp cận chứng cứ của cả bên buộc tội và bên gỡ tội -=> Giúp tìm ra sự thật khách quan một cách chính xác hơn Chất lượng tố tụng vì thế cũng có thể được nâng cao hơn Trong một mô hình tố tụng tranh tụng có tính công bằng cao, người bào chữa và bị cáo cũng dễ cảm thấy rằng mình đã có một cơ hội tốt và công bằng để đi tìm công lý Vì vậy,
họ sẽ ít có xu hướng kháng cáo hơn
Thứ hai, với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân Vai trò của luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền được suy đoán vô tội của người dân được tôn trọng hơn so với các mô hình TTHS khá
Nhược điểm:
Thứ nhất, người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào phiên tòa và là người không chuyên nghiệp, đó chính là thành viên đoàn bồi thẩm Điều này vô hình chung gây
ra phản tác dụng đối với chính ưu điểm thứ nhất của mô hình này
Thứ hai, việc quá đề cao sự đối tụng giữa các lợi ích cá nhân làm cho mô hình tranh tụng không phản ánh được hết tầm quan trọng của việc bảo vệ lợi ích công cộng trong các vụ
án hình sự Chính điều này dẫn đến việc áp dụng tràn lan hình thức đàm phán nhận tội dẫn tới khả năng bỏ lọt những tội phạm nghiêm trọng có tác động lớn tới trật tự xã hội hoặc việc xét xử chúng có tính giáo dục cao
Thứ ba, trong mô hình này, năng lực của luật sư có vai trò quyết định tới phán quyết của đoàn bồi thẩm Điều này dẫn đến tình trạng các luật sư giỏi sẽ được nhiều người muốn thuê
và gây nên bất công cho những người nghèo không có điều kiện để thuê luật sư giỏi, vốn nổi tiếng là có chi phí cao, điều này gây nên sự bất công cho người nghèo so với người giàu
Thứ tư, không kiểm soát được thời gian xét xử Trong mô hình tranh tụng, thẩm phán và đoàn bồi thẩm không biết về vụ án từ trước và cũng không kiểm soát một cách toàn diện
Trang 4đối với thời gian xét xử Người quyết định thời gian xét xử bao lâu lại chính là các bên đối tụng, những người thường tận dụng thời gian tối đa tại phiên xét xử để thuyết phục đoàn bồi thẩm nghe theo lập luận của mình
Thứ năm, những chứng cứ tuy có giá trị sử dụng cao cho việc xác định sự thật khách quan nhưng lại có thể bị loại bỏ do vi phạm thủ tục, ví dụ lời khai của các nhân chứng gián tiếp hay chứng cứ thu thập được nhưng có thủ tục vi phạm quyền cơ bản công dân Việc không
sử dụng những chứng cứ như vậy có thể dẫn tới khó khăn trong việc đấu tranh chống một
số loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức vốn có cách thức hoạt động tinh vi, phức tạp
- Tố tụng hỗn hợp:
Ưu điểm: Loại hình tố tụng hỗn hợp đã có những cải tiến theo hướng dân chủ, tích cực và
được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc truyền thống luật lục địa như Đức, áo, ý, Bỉ Thực chất, tố tụng hỗn hợp là loại hình hỗn hợp giữa tố tụng xét hỏi, tố tụng tranh tụng và
cả một chút của tố tụng tố cáo
Ở giai đoạn xét xử, phiên tòa được tiến hành công khai, quyền bình đẳng trước phiên tòa
và quyền bào chữa của người bị buộc tội được đảm bảo, bên buộc tội và bên bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc đưa ra các chứng cứ và các yêu cầu Lúc này, tòa
án đóng vai trò là người trọng tài bảo đảm cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Nhược điểm: Ở giai đoạn trước xét xử, các hoạt động tố tụng phần nhiều được tiến hành bí
mật, hạn chế sự tham gia của những người tham gia tố tụng Mọi hoạt động đều được ghi thành văn bản, người bị buộc tội hầu như bị tách khỏi quá trình tố tụng
Câu 3: Nêu đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS VN hiện nay? VN nên đổi mới mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao?
* Đặc điểm nhận diện mô hình TTHS VN:
Mục tiêu của TTHS: Xác định sự thật khách quan vụ án
Phương pháp tố tụng sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Phương pháp quyền uy: Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền THTT với người TGTT
Phương pháp phối hợp, chế ước: Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền THTT với nhau
Sự phân chia chức năng tố tụng: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử phân chia cho các chủ thể khác nhau
Trang 5 Vị trí, vai trò của các chủ thể tố tụng: Chia các chủ thể quan hệ tố tụng thành cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
=> Các chủ thể độc lập, có hai bên tranh tụng đối trọng nhau là bên buộc tội và bên bào chữa: tranh tụng
Phát sinh quan hệ PL TTHS phụ thuộc vào ý chí của nhà nước: xét hỏi
Cách thức, giai đoạn:
Ở giai đoạn xét xử, phiên tòa được tiến hành công khai, quyền bình đẳng trước phiên tòa
và quyền bào chữa của người bị buộc tội được đảm bảo, bên buộc tội và bên bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc đưa ra các chứng cứ và các yêu cầu Lúc này, tòa
án đóng vai trò là người trọng tài bảo đảm cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Gồm các giai đoạn: Khởi tố, điều tra: Cơ quan điều tra
Truy tố: VKS
Xét xử, thi hành án: Tòa án
=> Mô hình TTHS hiện nay của nước ta là mô hình pha trộn
* Định hướng đổi mới mô hình TTHS VN: Hoàn thiện mô hình pha trộn theo hướng
thiên về tranh tụng
Mô hình TTHS pha trộn là cơ sở lý luận về khả năng tiếp nhận và giao thoa giữa các mô hình TTHS khác nhau, là tiếp nhận những yếu tố tích cực của các mô hình nên không phải chuyển đổi mô hình khác và cần nâng cao tính tranh tụng
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm cho thấy tranh tụng chủ yếu xuất hiện trong xét xử Cần thiên về tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng, xuất hiện chức năng buộc tội thì song song chức năng bào chữa Cần mở rộng tối đa tính tranh tụng của phiên tòa sơ thẩm để lấy lại niềm tin của người dân về công lý, về cơ quan Tòa án Đó cũng chính là một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp đang được tiến hành ở nước ta hiện nay Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng thu thập cứng cứ Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra Cơ quan có thẩm quyền THTT được thực hiện hoạt độg tố tụng mang tính quyền lực Nhà nước để thu thập chứng cứ, còn người tham gia tố tụng như người bào chữa thì vai trò hạn chế, thực hiện hoạt động tố tụng nhưng không được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước nên vai trò trong tranh tụng hạn chế => Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phải bảo đảm sự bình đẳng của các bên và khả năng của các bên trong việc trình bày quan điểm, chứng cứ của mình
Câu 4: Đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về nguyên tắc “Suy đoán vô tội”
Thứ nhất, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội bằng
bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân
thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục luật định
Tại Điều 15 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về ngyên tắc xác định sự thật vụ
án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Người
bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình có tội.”
Trang 6Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả ba giai đoạn điều tra – truy tố – xét xử
Ba giai đoạn này độc lập nhưng lại có cơ chế giám sát, chế ước, bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm việc kết tội được chính xác, không làm oan người không phạm tội
Thứ ba, việc truy tố, xét xử phải tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo
vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện
Thứ tư, phải đảm bảo xem xét các tình tiết vụ án 1 cách khách quan, đầy đủ
Đảm bảo xem xét vụ án tình tiết vụ án một cách khách quan thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện không bị chi phối bới ý chí của người khác và không xem xét vụ án một cách phiến diện, đảm bảo xem xét tình tiết vụ án vụ án một cách đầy đủ là bất cứ vụ án nào cũng phải được chứng minh theo thủ tục đầy đủ theo quy định của luật tố tụng hình sự
Suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ Nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại nhằm xác định sự thật vụ án một cách đúng đắn chính xác nhất, từ đó xem xét bị cáo có tội hay không có tội để đưa ra một bản án xét xử đúng người đúng tội
Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm Vì vậy, việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán
vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cần được coi là một trong những nguyên tắc trụ cột và là một nhu cầu cấp thiết nhằm thực hiện đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Câu 5: Phân tích nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”
Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một trong những nguyên tắc mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tại điều 14
Thứ nhất, đây là nguyên tắc mới được bổ sung trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Nguyên
tắc này bắt nguồn từ Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 mà Việt Nam đã tham gia: "Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật
và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước"
Nguyên tắc này cũng đã cụ thể hóa Điều 31 Hiến pháp Việt Nam 2013: Không ai bị kết án hai lần vì một tội
Thứ hai, nguyên tắc này thể hiện tinh thần nhân đạo và bảo vệ quyền con người, quyền
công dân trong tố tụng hình sự Các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết án đối với một người mà hành vi của người đó đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Trong quá trình giải quyết vụ án nếu xác định được hành vi phạm tội đã bị xử lý bằng quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì phải đình chỉ vụ án
Trang 7Trường hợp xem xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không phải là xét xử lần thứ hai đối với hành vi phạm tội mà họ đã được xét xử, không vi phạm nguyên tắc này Việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục có tính chất tương đối đặc biệt để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đưa ra phương án khắc phục những sai lầm này không phải xét xử lần nữa với người đã bị kết án
Câu 6: Phân tích những quy định của BLTTHS 2015 nhằm thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội”?
Trên cơ sở quy định tại khoản 4 Điều 131 Hiến pháp năm 2013 thì nguyên tắc Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định tại Điều 16 BLTTHS 2015
* Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa:
- Khi tự bào chữa cho mình, người bị buộc tội sử dụng các quyền mà pháp luật TTHS cho phép để chứng minh bản thân vô tội, sự thật không đúng như hồ sơ vụ án hay chứng minh giảm nhẹ TNHS cho mình được quy định từ Điều 58 đến Điều 61 BLTTHS 2015
- Nếu người bị buộc tội không tự bào chữa thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Người khác có thể là bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội, trợ giúp viên pháp lí
Các quyền cụ thể như:
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
* Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Đảm bảo cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa: Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm:
Thông báo người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa và giải thích quyền
và nghĩa vụ, bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi
ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này
Tạo điều kiện cho người bào chữa tham gia vào giải quyết vụ án và thực hiện quyền, nghĩa
vụ của mình được quy định tại Điều 73 BLTTHHS 2015 nhằm hỗ trợ người bị buộc tội về pháp lý
Trang 8trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên mặt trận cử người bào chữa nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa:
* Quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa có thể tồn tại song song:
Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa đồng thời vẫn có quyền nhờ người bào chữa Trong trường hợp nhờ người bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa
Câu 7: Trình bày cơ sở của việc ghi nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015
Quy định kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án thì Tòa án phải có trách nhiệm “tạo điều kiện” Để tranh tụng có hiệu quả thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và bên bào chữa phải thật sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách quan, là trọng tài bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình
- Điều 13 Luật TCTAND 2014 quy định: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng
* Cơ sở lý luận:
- Thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng
- Tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án
- Phán quyết Tòa án đúng đắn, khách quan,công bằng
- Góp phần thay đổi nhận thức, hành vi, nâng cao trình độ người có thẩm quyền THTT
II Nhận định
Trang 9Câu 1: Quan hệ pháp luật TTHS chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Câu 2: Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở pháp luật hình sự
Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh từ khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự như thực hiện các hoạt động điều tra (khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá,…) Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 thì các hoạt động điều tra này có thể được thực hiện ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm (trước khi quyết định khởi tố vụ án hình sự) Do
đó, Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể xuất hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ
Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 4 thì người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo Căn cứ Khoản 4,5,6,7, 17 Điều 55 BLTTHS 2015 thì người bào chữa và người bị buộc tội là người tham gia tố tụng Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội là quan hệ giữa người tham gia tố tụng với nhau, không thuộc hai nhóm quan hệ trên nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS
CSPL: Điểm đ Khoản 1 Điều 4, Khoản 4,5,6,7, 17 Điều 55 BLTTHS 2015
Trang 10Câu 4: Quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là quan hệ pháp luật TTHS
Nhận định đúng
CSPL: Điểm a Khoản 1 Điều 4, Điểm a Khoản 1 Điều 34, Khoản 9 Điều 55 BLTTHS 2015
Vì thành phần quan hệ pháp luật TTHS gồm cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định pháp luật Trong đó cơ quan điều tra là cơ quan THTT là cơ quan có thẩm quyền THTT, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là người tham gia tố tụng Như vậy giữa cơ quan điều tra và nguyên đơn dân sự trong VAHS đã phát sinh quan hệ pháp luật TTHS
Câu 5: QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL tố tụng hình sự
Nhận định sai
Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự thỏa các điều kiện về chủ thể: người THHT, CQ THTT, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định pháp luật; khách thể: lợi ích nhất định mà các bên tham gia quan hệ hướng tới; đối tượng điều chỉnh
QH TTHS
QHPL mang tính quyền lực nhà nước còn có thể là QHPL khác ví dụ như QHPL TTHC, QHPLHS đều có sự tham qua CQNN, được đảm bảo thực hiện bằng tính quyền lực nhà nước
Câu 6: Phương pháp phối hợp – chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa cá cơ quan THTT
Nhận định sai
Vì phương pháp phối hợp- chế ước điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền THTT với nhau Mà căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 thì CQ có thẩm quyền THTT gồm CQ THTT và CQ được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra CSPL: Điểm a Khoản 1 Điều 4, Khoản 1 Điều 35 BLTTHS 2015
Câu 7: Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy
tố tụng
CSPL:
Trang 11+ Điểm b khoản 1 Điều 4, Điểm a Khoản 2 Điều 34 BLTTHS 2015
-Đối với TTDS và TTHC thì mục đích nhằm bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của chủ thể
Câu 9: Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả phiên tòa hình sự
Nhận định sai
Căn cứ Điều 25 BLTTHS 2015 thì trường hợp ngoại lệ sau bộ luật quy định thì Tòa án có thể xét xử kín và phải tuyên án công khai: Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự
Quy định này phù hợp nhằm bảo đảm những bí mật nhà nước, lợi ích của đương sự, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với bí mật đời tư, nhân phẩm, danh dự của đương sự trong vụ án
Câu 10: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS
Ngoài ra, còn được quy định tại Điều 13 Luật TCTAND 2014 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử
Như vậy, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm không chỉ có trong Luật TTHS
mà nó còn có trong Hiến pháp, Luật TCTAND 2014
Trang 12Câu 11: Kết quả kiểm tra đánh giá chứng cứ tại phiên toà là căn cứ duy nhất để toà
án đưa ra bản án quyết định
Nhận định sai
Vì căn cứ theo Điều 26 BLTTHS ngoài kết quả kiểm tra đánh giá chứng cứ tại phiên toà thì kết quả tranh tụng tại phiên toà cũng là căn cứ để toà án đưa ra bản án quyết định Vì BLTTHS đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm để các chủ thể đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu trong quá trình tranh tụng
Theo đó chỉ có người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình Còn người THTT bắt buộc dùng tiếng Việt Vì áp dụng BLTTHS trên lãnh thổ Việt Nam, căn cứ theo quy định pháp luật VN Quy định này tạo điều kiện cho người tham gia
tố tụng hình sự khả năng tích cực tham gia vào việc xem xét, giải quyết vụ án để thực hiện các nghĩa vụ của mình Các công dân được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng thì dễ dàng tiến hành những tình tiết, sự việc của vụ án, có khả năng sử dụng tất cả các phương tiện để tự bào chữa Đó cũng là một trong những điều kiện để Toà án xác định chân lý khách quan về vụ án, của việc ra quyết định hợp pháp và
có căn cứ, đồng thời có ý nghĩa giáo dục và phòng ngừa rất lớn đối với mọi người tham gia phiên toà xét xử
III Bài tập
Bài tập 1: Trong lúc đang trộm cấp tài sản của D, A bị B phát hiện và đuổi theo nhưng
không bắt được Một thời gian sau, B tình cờ biết được A đang cư trú tại phường X nên đã
tố giác với cơ quan công an nơi đây Công an phường X tiến hành kiểm tra, xác minh sơ
bộ và chuyển hồ sơ cho CQĐT công an quận Vụ án được khởi tố, Điều tra viên N người được phân công trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra dưới sự kiểm sát của Kiểm sát viên M Vì A là người chưa thành niên nên được chỉ định luật sự C làm người bảo chữa CQĐT nhận thấy A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiệm trọng, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nên quyết định miễn TNHS và áp dụng biên pháp hòa giải tại cộng đồng Điều tra viên N được phân công chủ trì việc hòa giải giữa bị can A, cha mẹ A và bị hại D Trong biên bản hòa giải, các bên đã thỏa thuân về vấn đề bồi thường thiệt hại, bị can
A xin lỗi người bị hại D
Trang 13Câu 1: Xác định tất cả QHXH giữa các chủ thể trong vụ án trên thuộc đối tượng điều chỉnh của TTHS?
- Cơ quan công an phường X là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo điểm e Khoản 1 Điều 35 BLTTHS 2015
- Cơ quan điều tra công an quận là cơ quan tiến hành tố tụng theo điểm a Khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2015
- Điều tra viên N và kiểm sát viên M là người tiến hành tố tụng theo quy định tại điểm
- QHXH giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, người có thẩm quyền tiến hành
điêu tra với người tham gia tố tụng gồm:
+ QHXH giữa cơ quan công an phường X và B
+ QHXH giữa điều tra viên N và A, B, cha mẹ A
+ QHXH giữa CQĐT với A, B
+ QHXH giữa CQĐT với luật sư C
QHXH giữa Cơ quan điều tra công an quận và VKS
- QHXH giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, người có thẩ quyền tiến hành điêu tra với nhau gồm:
+ QHXH giữa cơ quan công an phường X và cơ quan điều tra công an quận
+ QHXH giữa điều tra viên N và kiểm sát viên M
Câu 2: Xác định phương pháp điều chỉnh của luật TTHS đối với từng QHXH?
* Phương pháp điều chính quyền uy: Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền THTT với những người tham gia tố tụng Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền THTT có giá trị bắt buộc với những người tham gia tố tụng
Trang 14+ QHXH giữa cơ quan công an phường X và B
+ QHXH giữa điều tra viên N và A, B, cha mẹ A
+ QHXH giữa CQĐT với A, B
+ QHXH giữa CQĐT với luật sư C
+ QHXH giữa Cơ quan điều tra công an quận và VKS
* Phương pháp phối hợp – chế ước điều chỉnh mối quan hệ giữa các CQ THTT, người có thẩm quyền THTT có nhiệm vụ phối hợp với nhau tiến hành các hoạt động của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Cơ quan công an X và cơ quan công an quận có sự phối hợp với nhau cùng giải quyết vụ
án, điều tra viên N và kiểm sát viên M vừa phối hợp vừa giám sát kiểm tra
Bài tập 2: A (là người nước ngoài) bị CQĐT tỉnh X khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội
trộm cắp tài sản Trong quá trình tố tụng, A nhờ luật sư B bào chữa cho mình Vì A không
sử dụng được tiếng Việt nên cơ quan có thẩm quyển đã nhờ C phiên địch cho A Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra, CQĐT đã làm bản kết luận điều tra và đề nghị VKS truy tố A
về tội trộm cắp tài sản VKS đã làm bản cáo trạng để truy tố A về tội danh trên Sau đó Tòa
án tiến hành xét xử sơ thẩm và tuyên phạt A 05 năm tù
Câu 1: Trong quá trình giải quyết vụ án có thể phát sinh quan hệ giữa những chủ thể nào?
Căn cứ theo Điều 34 và Điều 55 BLTTHS 2015 thì:
- Trong quá trình giải quyết vụ án đã phát sinh quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự Đó là quan hệ giữa A (bị can) với cơ quan điều tra, A với Viện kiểm sát
+ A bị CQĐT tỉnh X khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội trộm cắp tài sản => Quan hệ giữa bị can A với CQĐT
+ VKS đã làm bản cáo trạng để truy tố A về tội danh trên => Quan hệ giữa bị can A với VKS
- Quan hệ giữa những người tham gia tố tụng hình sự: A với B (luật sư bào chữa), A với C (người phiên dịch cho A)
+ A nhờ luật sư bào chữa cho mình
+ A không sử dụng được Tiếng Việt nên CQĐT đã nhờ C phiên dịch cho A
- Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với nhau đó là cơ quan điều tra với Viện kiểm sát
+ Qua quá trình điều tra, CQĐT đã làm bản kết luận điều tra và đề nghị VKS truy tố A về tội trộm cắp tài sản
+ Tòa án tiến hành xét xử và ra bản án: Quan hệ giữa Toà án với VKS
Quan hệ giữa Tòa án với A
Trang 15Câu 2: Trong những quan hệ đó, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS?
A là bị can nên theo Khoản 6 Điều 55 BLTTHS là người TGTT
Cơ quan điều tra, VKS , Tòa án: Căn cứ Điểm a, b, c Khoán Điều 34 BLTTHS là CQTHTT Luật sư B là người bào chữa nên theo quy định tại Khoản 17 Điều 55 BLTTHS 2015 Luật
sư C là người tham gia tố tụng
C là người phiên dịch nên theo Khoản 16 Điều 55 BLTTHS là người TGTT
* Trong các quan hệ trên đã phát sinh 2 nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS đó là:
- Quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng: + Quan hệ giữa A với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa án;
+ Quan hệ giữa B với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa án;
+ Quan hệ giữa C với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa án;
- Quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tố tụng với nhau:
+ Quan hệ giữa cơ quan điều tra với VKS
+ Quan hệ giữa Toà án với VKS
Câu 3: Xác định phương pháp điều chỉnh đối với từng quan hệ thuộc đối tượng chỉnh của luật TTHS?
* Phương pháp quyền uy:
+ Quan hệ giữa A với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa án;
+ Quan hệ giữa B với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa án;
+ Quan hệ giữa C với cơ quan điều tra tỉnh X; với VKS; với Tòa
* Phương pháp phối hợp – chế ước
+ Quan hệ giữa cơ quan điều tra với VKS
+ Quan hệ giữa Toà án với VKS
Bài tập 3: A sinh năm 1976, cư trú tại huyện X, tỉnh Y, là người Hoa gốc Việt (trình độ
văn hóa lớp 1/10), có hành vi mua bán 1,75kg ma túy, bị công an phát hiện và bắt quả tang Tại bản án hình sự sơ thẩm, TAND tỉnh Y tuyên A tử hình về tội mua bán trái phén chất
ma túy
Câu 1: Giả sử A là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì vụ án được giải quyết như thế nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ theo khoản
2 Điều 3 BLTTDS 2015 thì A phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng A lại thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp
Trang 16luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nên vấn đề trách nhiệm hình
sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế
đó Trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao
Câu 2: Nếu A không sử dụng thông thạo Tiếng Việt và đề nghị có người phiên dịch cho mình thì yêu cầu này có được chấp nhận không?
Căn cứ theo Điều 70 BLTTHS 2015: “Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.”
Như vậy chỉ có CQTHTT mới có quyền yêu cầu người phiên dịch tham gia tố tụng, A đề nghị có người phiên dịch cho mình sẽ được CQTHTT quyết định yêu cầu được chấp nhận hay không Còn A tự đề nghị thì không được chấp nhận
Câu 3: Giả sử A không có khả năng nhờ luật sư bào chưa thì CQTHTT sẽ giải quyết như thế nào?
A sinh năm 1976 nên A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo luật định, nhưng hình phạt đối với hành vi của A thực hiện là tử hình, đây là khung hình phạt cao nhất mà bộ luật hình sự quy định Do vậy theo điểm a Khoản 1 Điều 76 BLTTHS
2015 nếu A không có khả năng nhờ luật sư bào chữa thì CQTHTT phải chỉ định người bào
Trang 17NQ-Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sau đây với một trong những người này:
- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
Nếu người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đồng thời là người bị hại, người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo thì quyết định của người tiến hành tố tụng sẽ không vô tư khách quan, thiên vị, ưu tiên theo lợi ích của người thân thích, người đại diện dẫn đến quyết định hình phạt cho bị cáo sẽ không công bằng, dễ làm sai lệch thực tế của vụ án
Trường hợp 2: Người tiến hành tố tụng đã tham gia tố tụng đồng thời là người bào chữa (luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa nhân dân- Điều 56 BLTTHS 2015)
Việc xác định sự thật vụ án không khách quan, toàn diện và đầy đủ bởi người bào chữa là người thu thập chứng cứ cũng đồng thời chính là người kiểm tra, xác thực vụ án Người THTT sẽ theo hướng giải quyết như những gì mà mình đã bào chữa, theo hướng có lợi, bảo vệ quyền lợi ích cho người mà mình bào chữa dẫn đến thu thập chứng cứ không đầy
đủ, chính xác, có thể vi phạm nghĩa vụ nếu người bào chữa đưa ra chứng cứ chống lại người mà mình bào chữa => Bỏ lọt tội pham, xét xử không khách quan, đầy đủ, chính xác Người làm chứng, người giám định là người tham gia tố tụng, có nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ cần thiết cho việc giải quyết đúng vụ án Nếu vừa là người cung cấp chứng cứ đồng thời
là người thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó làm quá trình chứng minh giải quyết vụ
án không vô tư, khách quan
Người phiên dịch là người tham gia tố tụng phiên dịch cho những người tham gia tố tụng khác không biết tiếng Việt Để đảm bảo sự khách quan, toàn diện người tiến hành tố tụng không thể đồng thời là người phiên dịch trong cùng một vụ án
Trường hợp 3: BLTTHS chưa quy định thế nào là có căn cứ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ
BLTTHS chưa quy định thế nào là có căn cứ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ song căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP đã giải thích: có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 42 BLTTHS thì trong trường hợp khác (như quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ cộng tác, quan hệ kinh tế…) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định vì những mối quan hệ trên mà Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ
* Đánh giá:
Nhìn chung, nguyên tắc này có nhiều ưu điểm nổi bật: nổi bật nhất là giúp đảm bảo sự vô
tư khách quan của người THTT và người TGTT, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 18các bên, đảm bảo các bên thực hiện tốt và phù hợp quyền nghĩa vu, đảm bảo sự công bằng của pháp luật đúng theo các nguyên tắc cơ bản của TTHS như nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…
Đảm bảo xét xử công bằng, khách quan, trọn vẹn, không bỏ lọt tội phạm
Bên cạnh ưu điểm nổi bật đã nêu cũng tồn tại một số nhược điểm trong hệ thống pháp luật làm việc thực thi nguyên tắc này còn gặp nhiều hạn chế, tính khả thi chưa cao hay luật chưa quy định rõ ràng, cụ thể, thống nhất
Ví như:
Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự thì đối tượng phải từ chối hoặc thay đổi tiến hành tố tụng khi có những căn cứ quy định tại khoản 1, 2 và 3 điều này là người tiến hành tố tụng Song, khi quy định căn cứ từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng cụ thể tại các điều 51 - 54 BLTTHS chỉ có các đối tượng là điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên, kiểm tra viên, thẩm phán, hội thẩm, thư kí tòa án mà không có phó thủ trưởng cơ quan điều tra, phó viện trưởng viện kiểm sát, phó chánh án tòa án Như vậy, vấn đề này đã không được quy định rõ ràng
Trong bộ luật tố tụng hình sự quy định ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được quy định tại điều 34 còn có các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân) Khi tiến hành các hoạt động tố tụng họ cũng cần tuân theo các quy định để đảm bảo sự vô tư khi tiến hành hoạt động tố tụng Nhưng pháp luật hiện nay lại không có quy định về trách nhiệm đảm bảo sự vô tư đối với họ
Tóm lại, không thể phủ nhận vai trò của nguyên tắc này trong suốt quá trình tố tụng Nhưng đồng thời, pháp luật cần có những quy định cụ thể hơn đầy đủ hơn để điều chỉnh vấn đề này bởi sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm công lý được thực thi, để không xử oan người vô tội và không để lọt tội phạm
Câu 2: Nêu ý kiến cá nhân về việc trực tiếp ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội trong BLTTHS 2015?
BLTTHS 2015 không trực tiếp ghi nhận quyền im lặng Tuy nhiên, tại Điều 15 BLTTHS
2015 “Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” – đây cũng là nền tảng ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội đến khi có người bào chữa
Tuy nhiên, nếu quy định quyền im lặng trực tiếp vào Bộ luật Tố tụng hình sự thì có những vấn đề:
- Một là, nếu quyền im lặng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự thì được áp dụng
như thế nào và trong giai đoạn nào của quá trình tố tụng Theo đó, quyền im lặng chỉ được
áp dụng từ khi một người bị bắt cho đến khi được gặp luật sư hay quyền im lặng được áp dụng trong suốt quá trình tố tụng, theo đó, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trang 19không chỉ im lặng trong suốt quá trình điều tra mà đến giai đoạn xét xử, tại phiên tòa đều
có quyền giữ im lặng, không cần trả lời bất cứ câu hỏi nào
=> Nếu quyền im lặng được áp dụng thì sẽ khó khăn trong điều tra vụ án cũng như lấy lời khai Tất nhiên, quyền im lặng không phải là quyền tuyệt đối và có thể không được áp dụng trong một số trường hợp nhất định
- Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận gián tiếp qua quy định tại Khoản 2 Điều 58 -
Điều 61 quy định người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;” Thực chất, đây chính là một phần của quyền im lặng vì đã là quyền thì họ có thể trình bày lời khai hoặc không thực hiện việc trình bày lời khai Việc họ không trình bày lời khai hoàn toàn thông qua việc họ im lặng trước cơ quan tiến hành tố tụng Do
đó, không cần thiết quy định “quyền im lặng” của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo nữa Thực tế họ có thể im lặng (nếu họ muốn), cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền bắt họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp
- Ba là, nếu nói rằng ghi nhận quyền im lặng để tránh oan sai, chống bức cung, nhục hình
là không thuyết phục bởi lẽ quyền im lặng không phải là công cụ để con người chống lại một sự vi phạm Bộ luật hình sự đã giành riêng một số điều luật để xử lý đối với hành vi bức cung, dùng nhục hình như Điều 298 (Tội dùng nhục hình), Điều 299 (Tội bức cung)
Câu 3: So sánh bị hại và nguyên đơn dân sự
* Giống nhau:
Thứ nhất, về đối tượng Đối tượng của Bị hại và Nguyên đơn dân sự đều là cá nhân, cơ
quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra
Thứ hai, về quyền của Bị hại và Nguyên đơn dân sự Bị hại và Nguyên đơn dân sự đều có
các quyền sau đây:
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ;
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình…
* Khác nhau:
Trang 20Khái niệm
Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra
Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tính chất thiệt
hại
- Bị thiệt hại trực tiếp
- Do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra
VD:
+ A đánh B B được coi là bị hại
+ Trường Đại học A bị trộm đột nhập và bị mất 10 chiếc máy chiếu Trong trường hợp này Trường Đại học A là bị hại
- Bị thiệt hại gián tiếp
- Do tội phạm gây ra, đã xảy ra thiệt hại chứ không đe dọa
Ví dụ: A đánh B tại nhà C làm hư hỏng đồ đạc nhà C C là người bị thiệt hại gián tiếp, nên sẽ được coi
là nguyên đơn dân sự
Quyền
– Được quyền: Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường
– Được quyền: Yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị
– Không có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị
đe dọa
– Chỉ được quyền: Kháng cáo bản
án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại
Trang 21– Bên nguyên đơn dân sự phải có thêm nghĩa vụ: Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại
Nghĩa vụ
– Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì
có thể bị dẫn giải
– Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
– Bên nguyên đơn dân sự phải có thêm nghĩa vụ: Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại
Câu 4: So sánh người đại diện của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại
* Giống nhau:
- Đều là người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại
- Đều có các quyền:
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
Yêu cầu giám định, định giá tài sản;
Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;
Khiếu nại, kháng cáo;
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
Khoản 1 Điều 84 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là người được bị hại nhờ bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp
CSPL Điều 62 BLTTHS 2015 Điều 84 BLTTHS 2015
Trang 22Quyền
Khoản 2 Điều 62 Quyền của người đại diện của bị hại tương tự với quyền của chính bị hại trong
vụ án hình sự
=> Nhóm quyền này rộng hơn và
đa dạng hơn so với quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại như có thêm các quyền mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị hại không có như:
Quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án
Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa Ngoài ra, trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
Có các quyền cơ bản tương tự người đại diện bị haị nhưng có thêm quyền:
Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;
Nghĩa vụ
Khoản 4 Điều 62 BLTTHS a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ; trường hợp cố | ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì
có thể bị dẫn giải : b) Chấp hành quyết định , yêu cầu của cơ quan , người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Khoản 4 Điều 84 BLTTHS a) Sử dụng các biện pháp do pháp
| luật quy định để góp phần làm rõ
sự thật khách quan của vụ án; b) Giúp bị hại , đương sự về pháp
lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Trang 23vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Cha, mẹ, người giám hộ của cá nhân làngười dưới 18 tuổi, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ bị hại là cơ quan, tổ chức
Luật sư;
Người đại diện;
Bào chữa viên nhân dân;
- Người đại diện do Tòa án chỉ định tham gia tố tụng từ khi có quyết định của Tòa án chỉ định họ đại diện cho bị hại
Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự
Câu 5: Phân tích và đánh giá quy định về nghĩa vụ của người bị hại trong BLTTHS 2015?
* Phân tích nghĩa vụ của người bị hại:
Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức
bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra (Khoản 1 Điều 62 BLTTHS 2015)
Bị hại có những nghĩa vụ nhất định Theo Khoản 4 Điều 62, người bị hại có các nghĩa vụ sau:
Trang 24– Nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
– Nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
=> Bị hại bắt buộc phải có mặt trong quá trình tham gia tố tụng khi có giấy triệu tập theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong bất cứ quá trình tố tụng nào Trong trường hợp
có sự kiện bất khả kháng hoặc lý do khách quan thì có thể tạm hoãn để chờ đến khi bị hại
có mặt, còn nếu bị hại cố ý vắng mặt thì cơ quan, người có thẩm quyền phối hợp dẫn giải Yêu cầu bị hại phải chấp hành theo đúng quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi đã tham gia xét xử Nếu không thỏa mãn với quyết định thì có thể kháng cáo, khiếu nại chứ không được tự ý thỏa thuận, định đoạt mà trái với pháp luật, trái quyết định
* Đánh giá quy định nghĩa vụ của bị hại:
- Ưu điểm: Yêu cầu bị hại chấp hành đúng theo quy định của pháp luật đảm bảo thực thi
theo pháp luật, tôn trọng, thực hiện đúng theo quyết định cơ quan, người có thẩm quyền Việc quy định người bị hại sẽ bị dẫn giải nếu cố ý vắng mặt góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn mà thực tiễn gặp phải Bởi vì, có nhiều vụ án bao gồm vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và các vụ án khởi tố không theo yêu cầu của người bị hại nhưng tỷ lệ thương tật, sức khỏe là căn cứ để xem xét có khởi tố vụ án hay không hoặc giám định tỷ lệ thương tật để xử lý người vi phạm Ngoài ra, bị hại tham gia tố tụng, không vắng mặt trong quá trình tố tụng để có thể đảm bảo thực hiện được quyền và lợi ích của mình trong phiên tòa như được phát biểu, trình bày ý kiến để bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, trình bày mong muốn Tòa án xét xử người phạm tội với hình phạt như thế nào, mức bồi thường cũng như yêu cầu, lợi ích của mình và đảm bảo xét xử vụ án nhanh chóng, công khai, đúng đắn, trọn vẹn và khách quan
- Nhược điểm: Trong một số trường bất khả kháng hoặc lý do khách quan thì người bị hại
không thể tham gia quá trình phiên tòa được, Điều 292 BLTTHS 2015 quy định về việc Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử khi bị hại vắng mặt tại phiên tòa Nếu tạm hoãn phiên tòa thì có thể làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án Nếu vẫn tiến hành xét xử thì không đảm bảo được quyền tham gia phiên tòa, hỏi và tranh luận, đưa ra và trình bày chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường => Ảnh hưởng, không đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp trọn vẹn bị hại, có thể dẫn đến giải quyết vụ án không chính xác, bỏ lọt tội phạm
Câu 6: Phân tích và đánh giá những điểm mới trong quy định của BLTTHS 2015 về địa vị pháp lý của người bào chữa
Hiện nay, trong pháp luật TTHS chưa có một khái niệm về địa vị pháp lý của người bào chữa Ta có thể hiểu nôm na địa vị pháp lý của người bào chữa là tổng thể các quy định của pháp luật TTHS quy định cho người bào chữa có các quyền và nghĩa vụ khi tham gia
tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tìm ra sự thật vụ án Theo đó:
+ Quyền của người bào chữa:
Trang 25Nhóm quyền tham gia vào các hoạt động tố tụng:
- Điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can” và Điểm c khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này”
Như vậy, BLTTHS 2015 quy định việc người bào chữa có mặt trong các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác là một “quyền” và người bào chữa hoàn toàn chủ động chứ không phải lệ thuộc vào ý chí của Cơ quan điều tra “nếu Điều tra viên đồng ý” như trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 BLTTHS 2015 cũng mở rộng quyền cho người bào chữa được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can sau khi người có thẩm quyền kết thúc việc lấy lời khai
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm d khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này” và ngoài ra theo Điều 79 BLTTHS 2015 bắt buộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của BLTTHS
Như vậy, BLTTHS 2015 đã quy định nó thành một “trách nhiệm”, “nghĩa vụ” của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chủ động thực hiện thay vì chỉ thực hiện khi có “đề nghị” của người bào chữa như quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 Về phía người bào chữa, việc có mặt trong một số hoạt động tố tụng là quyền của người bào chữa, họ có thể lựa chọn có mặt hoặc không có mặt
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm m khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa” Và tại Điều 291, Điều 351 BLTTHS 2015 yêu cầu người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm để bào chữa cho người mà mình đã nhận bào chữa Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử Đặc biệt, đối với các vụ án chỉ định người bào chữa, Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nếu người bào chữa vắng mặt, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Điều 383 BLTTHS
2015 quy định trong trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành
Trang 26Trong khi đó, theo BLTTHS năm 2003, trừ trường hợp chỉ định người bào chữa mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, các trường hợp còn lại nếu người bào chữa vắng mặt – dù với bất cứ lý do gì và được triệu tập hợp lệ lần thứ bao nhiêu thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử (Điều 190, Điều 245) Những quy định nêu trên của BLTTHS 2015 thể hiện sự đề cao vai trò của người bào chữa đối với hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết có mặt người bào chữa tại phiên tòa hơn so với BLTTHS năm 2003
Đây là quy định mới hợp lý
Nhóm quyền về kiểm tra, đánh giá, đề nghị, khiếu nại, kháng cáo:
– Điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế”
So với quy định của BLTTHS năm 2003, có thể nhận thấy rằng quyền này của người bào chữa đã được mở rộng hơn – không chỉ dừng lại ở việc chỉ đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và một số người tham gia tố tụng mà còn được đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh), biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản) khi nhận thấy các biện pháp này không còn cần thiết, không còn đủ điều kiện để áp dụng đối với người bị buộc tội Thực tế cho thấy, do hạn chế về kiến thức pháp luật cũng như tâm lý mà người bị buộc tội thường không dám nêu lên ý kiến, quan điểm, đề nghị về các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với bản thân hoặc nếu có thì cũng không có đủ căn cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Do đó, việc quy định cho người bào chữa có quyền này là rất cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, hạn chế sự tùy tiện của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm g khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
Đây là một quyền hoàn toàn mới mà BLTTHS 2015 quy định cho người bào chữa Theo
đó, người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật mà người bào chữa cho rằng hoạt động này giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, khách quan, toàn diện hơn hoặc giúp cho việc làm sáng tỏ các tình tiết chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Thể hiện sự bình đẳng giữa bên buộc tội (Kiểm sát viên) và bên gỡ tội (người bào chữa) trong việc đề nghị Tòa án triệu tập người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đến phiên tòa Đặc biệt, trong trường hợp có dấu hiệu hoặc nghi ngờ về việc người bị buộc tội bị người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ép cung, mớm cung, dùng nhục hình thì việc đề nghị triệu tập người có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đối chất với người bị buộc tội, làm rõ dấu hiệu hoặc nghi ngờ về vấn đề nêu trên là hết sức cần thiết
Trang 27 Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm i khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”
Đây cũng là một trong những quyền mới của người bào chữa so với BLTTHS năm 2003 Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ là rất quan trọng và cần thiết để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án, bảo đảm chứng cứ thu thập được đủ để giải quyết vụ án hình sự Chính vì vậy, Điều 108 BLTTHS 2015 bắt buộc người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án Nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ thì người bào chữa có quyền yêu cầu họ phải thực hiện Hơn thế nữa, người bào chữa cũng có quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan bình đẳng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản”
Đây cũng là một quyền mới của người bào chữa được BLTTHS 2015 ghi nhận, tương tự như quyền đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Pháp luật quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội
Đây là quy định mới hợp lý
Nhóm quyền về thu thập thông tin; thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu:
– Điểm a Khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “gặp, hỏi người bị buộc tội”
Có thể nhận thấy, quy định về trình tự, thủ tục để người bào chữa gặp người bị buộc tội là một quy định mới của BLTTHS 2015 Nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện tốt chức năng bào chữa của mình, pháp luật cho phép người bào chữa có quyền gặp người
bị buộc tội Để bảo đảm cho người bào chữa thực hiện quyền gặp, hỏi người bị buộc tội, Điều 80 BLTTHS 2015 quy định để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang
bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật
sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân Điều 256 BLTTHS quy định tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho mình, việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa phiên tòa cho phép Việc luật hóa trình tự, thủ tục này chứng tỏ nhà lập pháp đã quan tâm nhiều hơn
Trang 28đến vấn đề bảo đảm thực thi các quyền của người bào chữa trên thực tế, trong đó có quyền
“gặp, hỏi người bị buộc tội”
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm h khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu”
Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa và đưa ra tài liệu đồ vật, yêu cầu đã được quy định tại Điều 58 BLTTHS năm 2003 nhưng BLTTHS 2015 kế thừa và có một bước phát triển mới đáng ghi nhận đó là bổ sung thêm cho người bào chữa quyền “thu thập chứng cứ” và “đưa ra chứng cứ” BLTTHS 2015 cũng bỏ giới hạn về việc người bào chữa chỉ thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Thay vào đó, để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa Trong trường hợp không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì người bào chữa có thể
đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án Chứng
cứ do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập và chứng cứ do người bào chữa thu thập có giá trị như nhau và đều phải được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Quy định này thể hiện sự bình đẳng giữa các bên trong việc thu thập, đưa
ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; là cơ sở quan trọng góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Đây là quy định mới hợp lý
+ Nghĩa vụ của người bào chữa:
– Điểm đ Khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có nghĩa vụ “có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản
1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát”
So với BLTTHS năm 2003 chỉ yêu cầu người bào chữa có mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án BLTTHS đã bổ sung thêm phần nghĩa vụ phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong trường hợp chỉ định người bào chữa Có mặt trong một số hoạt động tố tụng là quyền của người bào chữa, do đó, người bào chữa có thể lựa chọn tham gia hoặc không tham gia theo thông báo, triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Tuy nhiên, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mà chủ yếu là triệu tập đến phiên tòa xét xử vụ án hình sự vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của người bào chữa và người bào chữa không được từ chối Bởi lẽ phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quá trình tố tụng, ở đó sẽ xác định được bị cáo có tội hay không có tội và trách nhiệm hình sự của bị cáo trong trường hợp họ bị tuyên là có tội Người bào chữa tham gia phiên tòa không
Trang 29chỉ để sử dụng, đưa các chứng cứ, tài liệu mà người bào chữa thu thập được, trình bày nhận xét, ý kiến, quan điểm về các chứng cứ, tài liệu do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập mà còn để tranh luận nhằm bác bỏ sự buộc tội của Kiểm sát viên Qua đó người bào chữa giúp làm sáng tỏ nội dung vụ án, xác định sự thật khách quan để Hội đồng xét xử có phán quyết đúng đắn, chính xác Đây cũng là quy định nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Đây là quy định mới hợp lý
– Điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có nghĩa vụ “không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân”
Có thể nhận thấy, điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 là quy định mới bổ sung thêm
so với BLTTHS năm 2003 Do đặc thù công việc, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa có thể biết được thông tin về vụ án, về người bị buộc tội Pháp luật quy định họ không được tiết lộ những thông tin này (trừ thông tin về người bị buộc tội có thể tiết lộ nếu được người bị buộc tội đồng ý bằng văn bản) vì nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, cơ quan, tổ chức,
cá nhân
Đây là quy định mới hợp lý
Câu 7: Phân tích và đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về vấn đề người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi?
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có nội dung đã được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định thể hiện điểm tiến bộ hơn so với quy định tại Bộ luật tố tụng 2003 Một trong những quy định được
bổ sung tại bộ luật này đó là đề ra thủ tục tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi
Về vấn đề quyền bào chữa của người chưa thành niên, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mới chỉ quy định quy định một cách khái quát: Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về vấn đề bào chữa của người dưới 18 tuổi (Bộ luật năm 2015
đã thay cụm từ người chưa thành niên bằng cụm từ người dưới 18 tuổi)
Điểm đáng chú ý là, Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định khẳng định quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi: Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Ngoài ra, Điều luật đã bỏ cụm
từ mang tính chất tùy ghi “có thể” và thay vào đó là cụm từ “có quyền”: Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội
Việc sửa đổi, bổ sung quy định rõ hơn cơ chế thực hiện quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi bị buộc tội sẽ đảm bảo sự chặt chẽ, cụ thể về trình tự, thủ tục bào chữa, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp của họ khi tham gia tố tụng
Trang 30Việc bào chữa cho người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 422 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án
có bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Người bị buộc tội là người chưa đủ 18 tuổi có đầy
đủ các quyền liên quan đến vấn đề bào chữa cho mình Trong trường hợp không tìm được luật sư bào chữa, các cơ quan liên quan phải tìm bằng được người bào chữa cho người bị buộc tội
Cụ thể về vấn đề người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có nội dung như sau: Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này Căn cứ khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 về Chỉ định người bào chữa:
“1 Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là
20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.”
Theo đó, bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quổc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình, trừ trường hợp người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật
Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự là quy định mang tính nhân đạo của luật tố tụng hình sự nước ta Trong một số trường hợp đặc thù, do tính chất và hậu quả của tội phạm, hoặc do hạn chế về năng lực nhận thức, năng lực hành vi, dù bị can, bị cáo không mời người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chỉ định người bào chữa để đảm bảo quyền lợi cho họ Do đó, vấn đề người bào chữa chỉ định của người
bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không chỉ có ý nghĩa nhân đạo mà còn có ý nghĩa to lớn trong nỗ lực bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự
Câu 8: Có nên quy định thủ tục đăng kí bào chữa không? Tại sao?
Nên có quy định về thủ tục đăng kí bào chữa
Do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 có quy định về cấp Giấy chứng nhận người bào chữa được hiểu như một dạng cấp giấy phép cho người bào chữa và qua thực tiễn thi hành cho thấy, quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa gây khó
Trang 31khăn đối với hoạt động tham gia tố tụng hình sự của Luật sư, ảnh hưởng đến quyền được bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã thay bằng quy định đăng ký bào chữa để đơn giản hóa thủ tục, tránh trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng chậm trễ trong việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, ảnh hưởng đến quyền được bào chữa trong tố tụng hình sự BLTTHS năm 2015 quy định trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa
Việc bãi bỏ thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa là cơ hội nâng cao vị thế, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư trong đời sống và trong hoạt động tố tụng, gia tăng phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của luật sư trong quá trình tham gia các vụ án hình
sự
Ngoài ra thủ tục đăng ký bào chữa có một số điểm tiến bộ hơn so với thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa như rút ngắn thời gian xem xét công nhận tư cách người bào chữa hơn (24 giờ thay vì 3 ngày) Văn bản thông báo cho người đăng ký bào chữa (trường hợp chấp nhận đăng ký) có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng thay vì chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng
Tuy nhiên, đối với trường hợp các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương thụ
lý giải quyết, cơ quan tiến hành tố tụng ở miền bắc, nhưng người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam ở Trại tạm giam phía Nam thì việc gặp hỏi để lấy ý kiến người bị buộc tội về sự đồng ý hay không đồng ý nhờ Luật sư bào chữa, sau đó cơ quan tiến hành tố tụng vào sổ đăng ký và thông báo cho người đăng ký bào chữa trong thời hạn 24 giờ là không thể thực hiện
Do đó, để đảm bảo thời hạn luật định thì sau khi Luật sư đăng ký bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ ghi vào sổ đăng ký và thông báo cho người bào chữa, rồi hỏi ý kiến của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, nếu người
bị buộc tội đồng ý nhờ Luật sư bào chữa thì để nguyên Nếu người buộc tội không đồng ý nhờ Luật sư bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng lại phải ra Quyết định hủy bỏ việc đăng
ký bào chữa đối với Luật sư đã đăng ký bào chữa đồng thời ra thông báo cho Luật sư bào chữa biết
Thủ tục đăng ký bào chữa là một bước chuyển mang tính đột phá trong quá trình xác lập địa vị pháp lý, vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự Về bản chất, thủ tục mới này đã hủy bỏ một rào cản lớn, xóa bỏ cơ chế hành chính xin-cho giữa người bào chữa với các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng Vì vậy, để đảm bảo Luật TTHS năm 2015 được thi hành trong thực tế không có sự vướng mắc, đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu để có văn bản hướng dẫn về vấn đề này, vừa bảo đảm đúng quy định pháp luật, vừa thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật, đảm bảo đúng tinh thần là không để thủ tục hạn chế quyền con người, quyền công dân vốn đã được hiến định
Câu 9: So sánh người bào chữa với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Giống nhau:
Trang 32Đều là người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chủ thể khác
Chủ thể làm người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự gồm: Luật sư; Người đại diện; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý
Bản chất: Tham gia tố tụng song song, có vị trí pháp lý độc lập (không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng) của người bị buộc tội/đương sự
Một người có thể bào chữa/ bảo vệ quyền và lợi ích cho nhiều người trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau và nhiều người có thể bào chữa/bảo vệ quyền
và lợi ích cho một người bị buộc tội/đương sự
Khác nhau:
Tiêu chí Người bào chữa Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự CSPL Điều 72 – BLTTHS 2015 Điều 84 BLTTHS 2015
Là người được đương sự, bị hại nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Chủ thể được bảo vệ
quyền và lợi ích
Người bị buộc tội Đương sự, bị hại
Giai đoạn tham gia
- Người bào chữa tham gia
tố tụng từ khi khởi tố bị can
- Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ
Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng hình sự
Trang 33- Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền quyết định
để người bào chữa tham gia
tố tụng từ khi kết thúc điều tra
Phạm vi quyền và nghĩa
vụ
- Quyền rộng hơn:
Gặp, hỏi người bị buộc tội;
Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
Đề nghị tiến hành hoạt động
tố tụng theo quy định của
Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Nghĩa vụ chặt chẽ hơn:
Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội
mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải
do trở ngại khách quan;
Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
Có mặt theo giấy triệu tập Không được tiết lộ bí mật điều tra Không được tiết lộ thông tin về vụ án
Quyền và nghĩa vụ cơ bản như người bào chữa: Khoản
3, 4 Điều 84
Trang 34Lựa chọn/Thay đổi hoặc
từ chối người bào
chữa/người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp đương
sự
Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ
- Chỉ định người bào chữa:
Điều 76
Chỉ cần là những chủ thể được quy định là người bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Thủ tục đăng ký
Bắt buộc làm thủ tục mới được là người bào chữa:
Điều 78
Không quy định
Câu 10: Vì sao người làm chứng không thể trở thành người bào chữa và ngược lại Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 BLTTHS 2015 về những trường hợp không được làm
chứng: “Người bào chữa của người bị buộc tội”
Thứ nhất, khi người bào chữa thành người làm chứng thì tất nhiên người bào chữa sẽ muốn
có lợi nhất cho người mà mình bào chữa dẫn đến có thể họ sẽ nói sai sự thật, khai báo không đầy đủ, người bị buộc tội sẽ có các tình tiết có lợi cho tội danh của mình Từ đó sẽ gây ra việc xác định tội danh không khách quan và ngược lại Người làm chứng cũng không thể trở thành người bào chữa vì sẽ bào chữa theo hướng như những gì đã khai báo, dù người bào chữa có điều tra ra được những tình tiết mới, chứng cứ mới mà đi ngược lại với những gì đã khai báo thì có thể họ sẽ không ghi nhận dẫn đến vụ án không được điều tra đầy đủ, trọn vẹn
=> Để bảo đảm tính khách quan, đúng đắn của vụ án, xác định đúng tội phạm
Thứ hai, nếu không quy định như vậy sẽ gây mâu thuẫn quyền và nghĩa vụ
Khoản 4 Điều 66 BLTTHS 2015 quy định nghĩa vụ người làm chứng “Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó” Nếu người làm chứng đồng thời là người bào chữa và ngược lại thì nếu chứng cứ đó lại tố cáo người mà mình bào chữa thì vi phạm nghĩa vụ người bào chữa quy định tại Khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 “Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;Tôn trọng sự thật” Nếu người bào chữa đồng thời là ngưởi làm chứng thì có thể khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, khai báo không đầy đủ vi phạm nghĩa vụ Khi vi phạm nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự
II NHẬN ĐỊNH
Trang 35Câu 1: Người có thẩm quyền giải quyết VAHS là người THTT
Nhận định sai
Người THTT theo quy định tại Khoản 2 Điều 34 bao gồm:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Còn người có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự bao gồm: Người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Những người này làm việc trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được liệt kê tại khoản 2 Điều 35 BLTTHS tương ứng với từng cơ quan như: Bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, các cơ quan khác trong CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Như vậy, người có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự còn có những người được giao nhiệm vụ tến hành một số hoạt động điều tra
CSPL: Khoản 2 Điều 34, Khoản 2 Điều 35 BLTTHS 2015
Câu 2: Giám thị, Phó giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra
Nhận định đúng
Theo Điểm g Khoản 2 Điều 35 BLTTHS thì Giám thị,Phó giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng chỉ của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân, còn đối với những cơ quan khác mà cũng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà không phải các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân thì Giám thị,Phó giám thị trại giam không được tiến hành một số hoạt động điều tra CSPL: Khoản 2 Điều 35 BLTTHS 2015
Câu 3: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên trong cùng VAHS
Nhận định đúng
Căn cứ theo khoản 3 Điều 49 BLTTHS 2015 về các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và căn cứ các trường hợp Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi được quy định tại Khoản 1 Điều 53 Bộ luật tố tụng hình
sự 2015 Thì không có quy định về việc thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên trong cùng VAHS
Nghị quyết 03/2004/ NQ-HĐTP có quy định “Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét
xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên, thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án là người thân thích với nhau.” Theo đó cùng VAHS trong phiên tòa xét xử nếu Thẩm phán và Kiểm sát viên là người thân thích với nhau thì họ phải từ chối hoặc bị thay đổi, nhưng cũng không
có quy định ai là người phải từ chối hoặc bị thay đổi
Trang 36Tuy nhiên, theo Nguyên tắc về tính hợp pháp của Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan công tố phải điều tra khiếu nại ngay khi nhận được tin báo về tội phạm bị tình nghi đã đủ căn cứ, mà Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Nên Viện kiểm sát là cơ quan tiếp cận VAHS đầu tiên và xuyên suốt cả vụ án Còn khi Viện kiểm sát làm bản cáo trạng chuyển lôn Tòa án thì mới phân cưng Thẩm phán giải quyết Vì vậy, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên trong cùng VAHS
Câu 4: Chỉ có kiểm sát viên thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
Nhận định sai
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 62 thì trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Lời buộc tội tại tòa chỉ áp dụng khi nào vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại Lời buộc tội của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ bao gồm các tình tiết chứng minh bị cáo
đã thực hiện hành vi phạm tội Theo Điều 42 BLTTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát viên thì không có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
CSPL: Điều 42, Khoản 3 Điều 62 BLTTHS 2015
Câu 5: Một người có thể tham gia tố tụng với hai tư cách trong cùng một VAHS
Nhân định đúng
Trường hợp nếu người tham gia tố tụng với 2 tư cách trong cùng một vụ án hình sự nhưng hai tư cách này không gây mâu thuẫn về quyền và lợi ích của nhau thì không trái với quy định của BLTTHS Ví dụ Khoản 4 Điều 72 quy định những người không được là người bào chữa "Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật" Vậy trường hợp người bào chữa đồng thời là người đại diện của bị can, bị cáo thì vẫn được pháp luật cho phép
Câu 6: Những người TGTT có quyền và lợi ích hợp pháp trong VAHS có quyền đề nghị thay đổi người THTT
tiến hành tố tụng trong những người TGTT có quyền và lợi ích hợp pháp trong VAHS chỉ
có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại
diện của họ chứ không phải tất cả những người TGTT có quyền và lợi ích hợp pháp trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người THTT
CSPL: Điều 50, 55 BLTTHS 2015
Trang 37Câu 7: Đương sự có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch
Nhận định sai
Căn cứ theo điểm g, khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 thì “ Đương sự gồm nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự ”
Và theo điểm e khoản 2 Điều 63 và điểm g khoản 2 Điều 64 BLTTHS 2015 thì nếu đương
sự là nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự thì họ sẽ có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch
Tuy nhiên theo Điều 65 BLTTHS 2015, nếu đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì sẽ không có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch Như vậy, chỉ có đương sự là nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự mới có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch chứ không phải tất cả đương sự đều có quyền
Câu 8: Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án có quyền nhờ luật
sư bào chữa cho mình
Nhận định sai
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 72 thì “người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa” Người TGTT có quyền và lợi ích hợp pháp trong VAHS gồm người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội; người đại diện khác Trong đó chỉ có người bị bắt,
bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền nhờ người khác bào chữa bởi họ là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này
CSPL: Điều 55, Khoản 1 Điều 72 BLTTHS 2015
Câu 9: Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa
Nhận định sai
Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa Hai quyền này có thể song song tồn tại mà không loại trừ lẫn nhau
Điều 16 BLTTHS 2015 quy định về Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thì người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa
Khoản 1 Điều 72 BLTTHS quy định Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa
Và căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 thì người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như vậy, không chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa mà người bị bắt cũng có quyền này
Trang 38CSPL: Điểm đ Khoản 1 Điều 4, Điều 16, Điểm g Khoản 2 Điều 58, Điểm d Khoản 2 Điều
59, Điểm h Khoản 2 Điều 60, Điểm g Khoản 2 Điều 61, Khoản 1 Điều 72 BLTTHS 2015
Câu 10: Trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người THTT
Nhận định sai
Theo Điểm a Khoản 4 Điều 72 BLTTHS thì nếu người bào chữa là người thân thích của người đã hoặc đang THTT cùng trong vụ án đó thì chủ thể đó không được là người bào chữa Còn nếu người bào chữa là người thân thích của người THTT nhưng người bào chữa
và người THTT này khộng thực hiện hoạt động tố tụng của mình trong các vụ án khác nhau thì không cần thay đổi
CSPL: Điểm a Khoản 4 Điều 72 BLTTHS
Câu 11: Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can bị cáo
Nhận định đúng
Vì theo khoản 1 Điều 66 thì Người làm chứng đáp ứng điều kiện:
Là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án;
Đựợc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng
Và trường hợp quy định không được làm chứng tại Khoản 2 Điều 66 BLTTHS là:
Người bào chữa của người bị buộc tội;
Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn
=> Không có trường hợp người thân thích của bị can bị cáo
Vậy nếu người thân thích của bị can bị cáo là người biết được những tình tiết của vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng thì cũng có thể là người làm chứng cho vụ án
CSPL: Khoản 1, 2 Điều 66 BLTTHS 2015
Câu 12: Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong vụ án đó
Nhận định sai
Khoản 2 Điều 66 quy định những trường hợp không được làm chứng bao gồm:
- Người bào chữa của người bị buộc tội;
- Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn
Như vậy BLTTHS 2015 chỉ quy định hai trường hợp nêu trên không thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng nên người thân thích của thẩm phán nếu không phải là người bào chữa cho người bị buộc tội, hoặc có nhược điểm về mặt tâm thần hoặc thể chất
Trang 39không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan hoặc khai báo không đúng đắn về nguồn tin về tội phạm thì vẫn TGTT với tư cách là người làm chứng
CSPL: Điểm a khoản 5 Điều 68 BLTTHS 2015
Câu 14: Yêu cầu thay đổi người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội dưới 18 tuổi
và người đại diện của họ luôn được chấp nhận
Nhận định sai
Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 77 của Bộ luật này, người
bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
Theo Điểm c Khoản 3 Mục II Nghị quyết 03/2004/NQ - HĐTP thì:
- Trước khi mở phiên tòa: Trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa căn cứ quy định để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận
- Tại phiên tòa: Trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận CSPL: Khoản 3 Điều 77 BLTTHS2015, Điểm c Khoản 3 Mục II Nghị quyết 03/2004/NQ
- HĐTP
Câu 15: Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi
tố VAHS đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 BLTTHS
Nhận định đúng
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 quy định bắt buộc phải có người bào chữa đối với một người thực hiện tội phạm là người chưa thành niên Nhưng trên tinh thần của Mục II 2b NQ 03/2004 NQ- HĐTP thì trường hợp người bị buộc tội chưa thành niên nhưng tới thời điểm khởi tố, truy tố xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì không còn thuộc trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa nữa Tức là một người khi đã thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố VAHS đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 BLTTHS Vậy nhận định này là đúng
CSPL: Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015, nghị quyết số 03/2004 NQ- HĐTP
Trang 40Câu 16: Đầu thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi phạm tội hoặc người phạm tội bị phát hiện
Nhận định sai
Điểm i Khoản 1 Điều 4 BLTTHS quy định đầu thú là sau khi bị phát hiện đã thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội mới tự nguyện trình diện khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình Còn trường hợp người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện là tự thú chứ không phải đầu thú
CSPL: Điểm h, i Khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015
Câu 17: Người có nhược điểm về thể chất có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng
Nhận định đúng
Vì tại Điểm b Khoản 2 Điều 66 quy định: Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về
vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn thì không ược làm chứng
=> Người có nhược điểm về thể chất mà vẫn có khả năng nhận thức được những tình tiết
về nguồn tin tội phạm và vụ án; có khả năng khai báo đúng đắn thì có thể là người làm chứng trong vụ án
CSPL: Khoản 2 Điều 66 BLTTHS 2015
Câu 18: Chức danh Điều tra viên chỉ có trong TTHS
Nhận định sai
Vì chức danh Điều tra viên trong TTHS chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự Còn chức danh điều tra viên trong vụ việc cạnh tranh là vụ
việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lý và tiêu chuẩn chức danh
này còn được quy định tại Điều 52, 53 Luật cạnh tranh 2018
Câu 19: Trong VAHS, có thể không có người TGTT với tư cách là bị hại
Nhận định sai
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 về bị hại thì“ Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.” Vụ án hình sự phải luôn xuất hiện hành vi phạm tội đối với chủ thể khác nên tư cách bị hại phải luôn có
Song trường hợp người bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này Tức dù nếu thuộc trường hợp tại Khoản 5 Điều 62 BLTTHS, bị hại không thể TGTT thì người đại diện của bị hại sẽ TGTT thay cho bị hại với tư cách là người đại diện mà không cần sự có mặt của bị hại
CSPL: Khoản 1, Khoản 5 Điều 61 BLTTHS 2015
III BÀI TẬP