1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đề tài UNG THƯ

16 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 650,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I – Ung thư là gì ?Ung thư là một căn bệnh trong đó một số tế bào của cơ thể phát triển không kiểm soát và lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể.. Những tế bào này hình thành những kh

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI

UNG THƯ

Môn: Sinh học phân tử 1

Giáo viên: Phạm Thị Dung

Lớp: K65CNSHB

Nhóm thực hiện:

Nguyễn Anh Dũng – MSV: 652662

Lã Tuấn Anh – MSV: 652538

Nguyễn Vương Thành – MSV: 651583

Nguyễn Bá Lâm – MSV: 653766

Lê Hồng Quân – MSV: 655591

Trang 2

Mục lục

I – Ung thư là gì ? ……… 03

II – Sự hình thành và phát triển của ung thư ……… 04

III – Nguyên nhân gây Ung thư ……… 05

IV – Phân loại Ung thư ……… 08

V – Chẩn đoán Ung thư ……… 10

VI – Phòng ngừa và phương pháp điều trị Ung thư ………… 11

Thông tin tham khảo ……… 16

Trang 3

I – Ung thư là gì ?

Ung thư là một căn bệnh trong đó một số tế bào của cơ thể phát triển không kiểm soát và lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể

Tế bào ung thư vú đang phân chia Credit: National Cancer Institute / Univ.

of Pittsburgh Cancer Institute

Ung thư có thể xuất hiện ở hầu hết mọi nơi trong cơ thể người Thông thường, các tế bảo của cơ thể người phát triển và nhân lên thông qua một quá trình gọi là phân chia tế bào để hình thành tế bào mới khi cơ thể cần chúng Khi các tế bào già hoặc bị hư hỏng thì chúng sẽ chết và các tế bào mới sẽ thay thế chúng Đôi khi quá trình có trật tự này bị phá

vỡ và các tế bào bất thường hoặc bị hư hỏng nhân lên trong khi chúng không nên Những tế bào này hình thành những khối u là các cục mô, chúng có thể là ung thư hoặc lành tính

Các khối u ung thư có khả năng lây lan hoặc xâm lấn các mô lân cận và có thể di căn, tức là di chuyển đến những nơi xa hơn trong cơ thể

để hình thành khối u mới Nhiều bệnh ung thư hình thành khối u rắn nhưng bệnh ung thư máu nói chung thì không

Các khối u lành tính thì không có khả năng lây lan hoặc xâm lấn các mô lân cận Các khối u lành tính thường không có khả năng phát triển thành ung thư, trừ trường hợp như polyp u tuyến đại tràng được coi là tiền ung thư của ung thư đại trực tràng Khi bị loại bỏ, các khối u ung thư đôi khi có thể phát triển trở lại trong khi đó các u lành tính thường thì không Tuy nhiên, các khối u lành tính đôi khi có thể khá lớn và gây biến chứng nguy hiểm nếu chúng ở những vị trí có thể chèn ép các bộ phận quan trọng như não

Trang 4

II – Sự hình thành và phát triển của Ung thư

1 Sự hình thành tế bào Ung thư

DNA có khả năng tự sửa chữa khi bị tổn thương, nhưng vì một vài lí

do mà DNA bị tổn thương không thể hồi phục hoặc hồi phục không hoàn toàn dẫn đến đột biến gen Các gen đột biến không còn hoạt động một cách bình thường nữa vì thứ tự vốn có của DNA đã bị đảo lộn Lúc này các tế bào phân chia và phát triển ngoài tầm kiểm soát Các tế bào này được gọi là tế bào ung thư

Các tế bào ung thư này có đặc điểm: Phân chia ngoài tầm kiểm soát, không đủ trưởng thành để thực hiện một số chức năng cụ thể, phá hủy hệ miễn dịch, không tuân theo tín hiệu ngừng phân chia hoặc chết đi, mất tính liên kết và lan rộng sang các bộ phận khác qua đường máu hoặc bạch huyết, gây tổn hại cho các mô và cơ quan

Tế bào ung thư tăng sinh bất thường so với tế bào thông thường

2 Sự phát triển của tế bào Ung thư

Mặc dù là các tế bào bất thường nhưng tế bào Ung thư lại có nhu cầu

về oxy và chất dinh dưỡng từ máu như các tế bào bình thường khác Khi các tế bào ung thư không ngừng tăng sinh, khối u cũng dần hình thành và được nuôi dưỡng nhờ các mạch máu gần đó

Tuy nhiên khi khối u phát triển lớn dần, nhu cầu về nguồn máu cũng tăng lên để nuôi dưỡng đủ tất cả tế bào ung thư vì những tế bào này không chết đi Khi đó các mạch máu mới được kích thích hình thành và giúp khối u phát triển tiếp Thông qua các mạch máu mới này, tế bào ung thư xâm nhập và lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (di căn)

Di căn Credit: National Cancer Institute

Trang 5

III – Nguyên nhân gây Ung thư

Đại đa số các bệnh ung thư, tức khoảng 90 – 95% các trường hợp

là do các đột biến gen gây ra bởi yếu tố môi trường và lối sống Khoảng

5 – 10% còn lại là do di truyền Ngoại trừ một vài trường hợp lây truyền hiếm gặp như mang thai hoặc hiến tạng hay kí sinh trùng thì ung thư nói chung không phải là một bênh truyền nhiễm

1. Bức xạ

Bức xạ ion hóa:Nguồn tiếp xúc tia phóng xạ tự nhiên chủ yếu từ các các tia vũ trụ, đất hoặc các vật liệu xây dựng Nguồn tiếp xúc phóng xạ nhân tạo chủ yếu là trong chẩn đoán Y khoa Tỷ lệ tất cả ung thư do tia phóng xạ rất thấp (khoảng 2% – 3%)

Bức xạ cực tím(tia UV):Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời gồm 3 loại A, B và C gây bỏng da, ung thư da, loét giác mạc và đục thủy tinh thể Càng gần xích đạo tia cực tím càng mạnh Tia C gây đột biến mạnh nhất nhưng được lọc bởi tầng ozon Tia B kích thích các tế bào da tạo ra sắc tố melanin làm rám nắng và đỏ da và tác động trực tiếp lên DNA làm lớp da lão hóa sớm và tế bào bị biến đổi thành ung thư Tia A do bước sóng dài nên ít gây ung thư da hơn

2. Tác nhân hóa học

Một số các chất hóa học đã được chứng minh là có thể gây nên một số các loại ung thư cụ thể nếu con người phơi nhiễm với chúng

Thuốc lá: Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc các ung thư phổi, thanh quản, khoang miệng, thực quản và bàng quang Những ung thư này ít gặp ở những người không hút thuốc lá Quan sát cũng nhận thấy một số ung thư khác cũng đang gia tăng ở những người hút thuốc lá: ung thư tụy, thận, mũi họng, dạ dày và ung thư máu.Thành phần của khói thuốc lá: Có trên 4000 hóa chất có trong khói thuốc lá trong đó 43 chất gây ung thư:

Nitrosamine, Benzene, Polonium-210 có hoạt tính phóng xạ…

Rượi bia: Ở Tây Âu, 10% ung thư ở nam và 3% ung thư ở nữ có nguyên nhân liên quan đến rượu, đặc biệt là ung thư gan và đường tiêu hóa

Một ví dụ khác là ung thư bạch cầu có thể có nguyên nhân từ việc tiếp xúc với benzen

Trang 6

3. Chế độ dinh dưỡng và tập luyện

Lười vận động cũng được cho là góp phần vào nguy cơ ung thư, không chỉ vì chúng có ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể mà còn thông qua các tác động tiêu cực đến hệ miễn dịch và hệ nội tiết

Hơn một nửa ảnh hưởng từ chế độ ăn uống là do thừa dinh dưỡng (ăn quá nhiều), chứ không phải do ăn quá ít rau hoặc các thực phẩm có lợi cho sức khỏe khác Một số loại thực phẩm cụ thể có liên quan đến một số các bệnh ung thư đặc thù Chế độ ăn nhiều muối có liên quan đến ung thư

dạ dày Aflatoxin B1, một tập chất thường có trong thực phẩm, gây ung thư gan Nhai hạt cau có thể gây ung thư miệng Nền ẩm thực đa dạng ở các quốc gia khác nhau có thể giải thích phần nào sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh ung thư

4. Tác nhân vật lí

Chấn thương cơ học dẫn đến ung thư là tương đối hiếm gặp Việc gãy xương dẫn tới ung thư xương chưa được chứng minh bằng khoa học Chấn thương cơ học cũng không được chấp nhận là nguyên nhân gây ra ung thư vú, ung thư cổ tử cung hay ung thư não.Tuy nhiên, chấn thương lặp đi lặp lại đối với các mô giống nhau có thể thúc đẩy sự tăng sinh tế bào quá mức, tiềm ẩn nguy cơ tăng tỷ lệ xuất hiện các đột biến gây ung thư Viêm mãn tính được giả thuyết là trực tiếp gây ra đột biến Viêm có thể góp phần vào quá trình tăng sinh, tồn tại, hình thành mạch và di cư của tế bào ung thư bằng cách ảnh hưởng đến vi môi trường của khối u.

5. Virus, Vi khuẩn và Ký sinh trùng

Một số loại virus sinh ung (virus có thể gây ung thư, Oncovirus) có thể kể đến như virus papilloma ở người (ung thư cổ tử cung), virus

Epstein – Barr (bệnh tăng sinh lympho bào B và ung thư vòm

họng), virus herpes Kaposi's sarcoma (ung thư Kaposi và u lympho tràn dịch nguyên phát), virus viêm gan B và viêm gan C (ung thư biểu mô tế bào gan) và virus gây bệnh bạch cầu tế bào T ở người loại 1 (ung thư lympho bào T)

Nhiễm vi khuẩn cũng có thể làm tăng nguy cơ bị một số dạng ung thư nhất định, như ta đã thấy trong ví dụ ung thư biểu mô dạ dày do vi

khuẩn Helicobacter pylori gây ra

Một số loại ký sinh trùng có liên quan đến ung thư bao gồm sán

mángSchistosoma haematobium (ung thư bàng quang) và sán lá

gan, Opisthorchis viverrini và Clonorchis sinensis (ung thư biểu mô đường mật)

Trang 7

6. Nội tiết tố

Nghiên cứu đã chỉ ra một số loại hormone (nội tiết tố) có mối liên quan với quá trình sinh ung thư

Hormone là tác nhân quan trọng trong các bệnh ung thư liên quan đến giới tính, chẳng hạn như ung thư vú, nội mạc tử cung, tuyến tiền liệt, buồng trứng và tinh hoàn cũng như ung thư tuyến giáp và ung thư

xương Ví dụ, con gái của những phụ nữ bị ung thư vú có nồng

độ estrogen và progesterone cao hơn đáng kể so với con gái của những phụ nữ không bị ung thư vú Nồng độ hormone cao có thể là lý do khiến nguy cơ ung thư vú của những người này cao hơn mức bình thường, ngay

cả khi họ không có gen ung thư vú

7. Bệnh tự miễn

Có một mối liên quan giữa việc mắc bệnh coeliac (một rỗi loạn tự miễn dịch lâu dài ảnh hưởng đến ruột non và sự tăng nguy cơ mắc tất cả các bệnh ung thư Những người bị bệnh coeliac không được điều trị có nguy cơ mắc ung thư cao hơn, nhưng nguy cơ này giảm dần theo thời gian sau khi chẩn đoán và điều trị nghiêm ngặt; nguyên nhân cho sự giảm này có thể là do áp dụng chế độ ăn không có gluten, dường như có vai trò bảo vệ chống lại sự phát triển của bệnh ác tính ở những người bị bệnh celiac Tuy nhiên, việc chẩn đoán và bắt đầu chế độ ăn không có gluten muộn có vẻ sẽ làm tăng nguy cơ mắc các khối u ác tính Tương tự như vậy, tỷ lệ ung thư đường tiêu hóa là cao hơn ở những người bị các bệnh viêm đường tiêu hóa, liên quan đến viêm mãn tính

8. Di truyền

Phần lớn các bệnh ung thư không di truyền Các bệnh ung thư có thể

di truyền chủ yến đến từ các đột biến gen di truyền Nhưng người thừa hưởng đột biến gen gây ung thư không nhất thiết là bị ung thư

Gen đột biến phổ biến nhất trong tất cả các bệnh ung thư là TP53, gen này tạo ra một loại protein ngăn chặn sự phát triển của các khối u Ngoài

ra, đột biến dòng mầm trong gen này có thể gây ra hội chứng

Li-Fraumeni, một chứng rối loạn di truyền hiếm gặp dẫn đến nguy cơ phát triển một số bệnh ung thư cao hơn

Các đột biến di truyền ở gen BRCA1 và BRCA2 có liên quan đến hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền, đây là một chứng rối loạn được đánh dấu bằng việc tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng ở phụ nữ suốt đời Một số bệnh ung thư khác có liên quan

Trang 8

đến hội chứng này, bao gồm ung thư tuyến tụy và tuyến tiền liệt, cũng như ung thư vú ở nam giới

Một gen khác tạo ra một loại protein ngăn chặn sự phát triển của các khối u là PTEN Các đột biến trong gen này có liên quan đến hội chứng Cowden, một rối loạn di truyền làm tăng nguy cơ ung thư vú, tuyến giáp, nội mạc tử cung và các loại ung thư khác

IV – Phân loại ung thư

1 Phân loại theo loại cụ thể

Ung thư theo loại cụ thể bao gồm ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư gan, ung thư thận, ung thư miệng, ung thư não, v.v…

2 Phân loại theo loại mô

Ung thư biểu mô (Carcinoma): ung thư bắt nguồn từ các tế bào biểu

mô của da, đường tiêu hóa, cơ quan nội tạng

Sarcoma: ung thư xuất phát từ cơ, mỡ, xương hoặc mạch máu

U lympho: phát triển trong các tuyến hoặc hạch của hệ bạch huyết, một mạng lưới mạch, hạch và cơ quan (cụ thể là lá lách, amidan và tuyến ức) làm sạch chất lỏng cơ thể và tạo ra các tế bào bạch cầu chống nhiễm trùng hoặc tế bào lympho Khác với ung thư bạch cầu, u lympho là ung thư rắn

U tủy (Myeloma): ung thư bắt nguồn từ các tế bào plasma của tủy xương Các tế bào plasma có khả năng tạo ra các kháng thể khác nhau để đáp ứng với nhiễm trùng Myeloma là một loại ung thư máu

Bệnh bạch cầu (Leukemias): là ung thư của tủy xương (nơi sản xuất tế bào máu) Bệnh thường liên quan đến việc sản xuất quá mức lượng bạch cầu chưa trưởng thành

Các loại hỗn hợp: là loại ung thư mang hai hoặc nhiều đặc điểm của các loại ung thư nói trên

3. Phân loại theo cấp

Trang 9

Kết hợp các đặc điểm tế bào học (ví dụ, mức độ biệt hóa tế bào và sự hiện diện của loạn sản) và các quan sát hình thái - cấu trúc (ví dụ, số lượng phân bào và hoại tử) Cấp độ được biểu thị bằng số từ 1 đến 4 Cấp 1: Các tế bào biệt hóa tốt và sự bất thường nhẹ; Cấp 2: Các tế bào được phân biệt vừa phải và hơi bất thường; Cấp 3: Tế bào biệt hóa kém

và rất bất thường; Cấp 4: Các tế bào chưa trưởng thành, nguyên thủy và không phân biệt

4. Phân loại theo hệ thống TNM (Tumor Node Metastasis Staging System)

Đây là hệ thông phân loại ung thư theo giai đoạn của Ủy ban Ung thư Hoa Kỳ (AJCC)

T là viết tắt của Tumor, tức là khối u Với TX là khối u không thể đo được; T0 là không có dấu hiệu khối tu; T1, T2, T3, T4: đề cập đến kích thước và/hoặc mức độ của khối u chính, số sau chữ T càng cao, khối u càng lớn hoặc càng phát triển vào các mô lân cận, T có thể được chia nhỏ hơn nữa để cung cấp chi tiết hơn, chẳng hạn như T3a và T3b Kích thước khối u được đo bằng cm

N là viết tắt của Nodes, tức là hạch bạch huyết Hạch bạch huyết là những cơ quan nhỏ, hình hạt đậu giúp cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn Các hạch bạch huyết gần nơi ung thư bắt đầu được gọi là các hạch bạch huyết khu vực Các hạch bạch huyết ở các bộ phận khác của cơ thể được gọi là các hạch bạch huyết xa NX là không thể đánh giá được ung thư ở các hạch bạch huyết lân cận; N0: không có ung thư ở các hạch bạch huyết lân cận; N1, N2, N3: đề cập đến số lượng và vị trí của các hạch bạch huyết có chứa ung thư, số sau N càng cao thì càng có nhiều hạch bạch huyết chứa ung thư

M là viết tắt của Metastasis, nghĩa là di căn: cho biết bệnh ung thư

đã di căn đến các phần khác của cơ thể hay chưa Nếu ung thư vẫn chưa lan rộng, nó được xem là giai đoạn M0 Còn nếu ung thư đã lan rộng, nó được coi là giai đoạn M1

Khi hệ thống TNM mô tả bệnh ung thư của bạn, sẽ có các số sau mỗi chữ cái cung cấp thêm thông tin chi tiết về bệnh ung thư — ví dụ:

T4N3M1 hoặc T3N1M0

V – Chẩn đoán Ung thư

1 Xét nghiệm

Trang 10

Mức độ cao hoặc thấp của một số chất trong cơ thể của bạn có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư Vì vậy, xét nghiệm máu, nước tiểu hoặc các chất dịch cơ thể khác của bạn để đo các chất này có thể giúp bác sĩ chẩn đoán Tuy nhiên, kết quả phòng thí nghiệm không phải là dấu hiệu chắc chắn của bệnh ung thư Ngoài ra, có một số xét nghiệm liên quan đến việc xét nghiệm mẫu máu hoặc mô để tìm dấu hiệu khối u

2 Chẩn đoán bằng hình ảnh

Các xét nghiệm hình ảnh tạo ra hình ảnh của các khu vực bên trong cơ thể của bạn để giúp bác sĩ xem liệu có khối u hay không Những hình ảnh này có thể được thực hiện theo một số cách:

Chụp CT: sử dụng một máy X quang được liên kết với máy tính để chụp một loạt hình ảnh các cơ quan của bạn từ các góc độ khác nhau Những hình ảnh này được sử dụng để tạo ra hình ảnh 3-D chi tiết về bên trong cơ thể bạn qua đó bác sĩ có thể nhận thấy sự bất thường của các mô MRI: sử dụng một nam châm mạnh và sóng vô tuyến để chụp ảnh cơ thể của bạn theo từng lát Những lát cắt này được sử dụng để tạo ra hình ảnh chi tiết về bên trong cơ thể bạn, có thể cho thấy sự khác biệt giữa mô khỏe mạnh và mô không khỏe mạnh

Quét hạt nhân phóng xạ (radionuclide scan): sử dụng chất phóng xạ để chụp ảnh bên trong cơ thể Cách này thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư xương hoặc ung thư di căn đến xương và kiểm tra sự hấp thu glucose bất thường của tế bào ung thư

Siêu âm: sử dụng sóng âm thanh năng lượng cao mà mọi người không thể nghe thấy Các sóng âm thanh vọng lại các mô bên trong cơ thể bạn Máy tính sử dụng những tiếng vọng này để tạo ra hình ảnh của các khu vực bên trong cơ thể bạn

Chụp X quang: sử dụng liều lượng bức xạ thấp để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể bạn Công nghệ tia X sẽ đưa bạn vào vị trí và hướng chùm tia X đến đúng phần cơ thể của bạn Trong khi chụp ảnh, bạn sẽ cần phải đứng yên và có thể phải nín thở trong một hoặc hai giây

3 Kiểm tra sinh thiết

Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ cần làm sinh thiết để chẩn đoán ung thư Sinh thiết là một thủ tục trong đó bác sĩ loại bỏ một mẫu mô Một nhà nghiên cứu bệnh học xem xét mô dưới kính hiển vi và thực hiện các xét nghiệm khác để xem liệu mô có phải là ung thư hay không

Ngày đăng: 23/12/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w