Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật BVQLNTD, cũng như thực tiễn thực thi, áp dụng pháp luật BVQLNTD là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giả
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THƯ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢOVỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
******
NGUYỄN THỊ THƯ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu, dẫn chứng thể hiện trong luận án là trung thực và được chú thích
nguồn đầy đủ.
Tp.HCM, ngày 1 tháng 8 năm 2013
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thư
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTH : Bồi thường thiệt hại
BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
EU : (European Union) Liên minh Châu Âu
NTD : Người tiêu dùng
QPPL : Quy phạm pháp luật
ACCC : Ủy Ban Cạnh tranh và Tiêu dùng Australia
CI : Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (Consumers International) TPA : Luật hoạt động thương mại (Trade Practice Act)
VINASTAS : Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
EC : Cộng đồng Châu âu (European Community)
UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trang 5MỤC LỤC Trang
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6
1.1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 22
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 24
Chương 2:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
27
hệ thống pháp luật
48
2.3 Mô hình pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 50 2.3.1 Một số mô hình pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thế giới
50
2.3.2 Hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam
60
Trang 72.4 Cấu trúc nội dung pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
64
2.4.2 Trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ
71
2.4.4 Trách nhiệm của các tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng 78 2.4.5 Những biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
79
Chương 3:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
85
3.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 85
3.2 Thực tiễn thi hành pháp pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 8PHỤ LỤC
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người tiêu dùng, trước hết là con người, họ có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản Hơn nữa, NTD đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia, thế nhưng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thì người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu hơn Đó là tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, khả năng kiểm tra chất lượng hàng hóa, các khuyết tật
và các rủi ro liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, trong sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường Trong tương quan với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ chuyên nghiệp, họ luôn nằm ở vị thế yếu hơn so với nhà sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, NTD luôn và
có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại trong quan hệ tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quyền lợi của NTD ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng Vì nhu cầu lợi nhuận, đạo đức kinh doanh suy đồi, không ít nhà cung cấp đã lạm dụng ưu thế của mình để khai thác, bóc lột, lừa dối người tiêu dùng bằng rất nhiều hình thức: sản phẩm không đúng chất lượng, không đủ số lượng, quảng cáo gian dối, và hơn thế nữa, tính mạng, sức khỏe NTD đứng trước sự đe dọa bởi thực phẩm độc hại, sản phẩm không an toàn
Mặc dù Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011, nhưng cho đến nay quyền lợi của NTD vẫn đang và có nguy cơ tiếp tục bị vi phạm trầm trọng Luật BVQLNTD đã trao cho NTD Việt Nam nhiều “đặc quyền” hơn so với những quy định của Pháp lệnh BVQLNTD 1999 nhằm cân bằng vị thế bất bình đẳng giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong quan hệ tiêu dùng Đạo luật này quy định đầy đủ hơn so với Pháp lệnh BVQLNTD 1999, với sự bổ sung của nhiều quy định quan trọng như trách nhiệm sản phẩm, hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giao dịch chung, một số ngoại lệ khi giải quyết tranh chấp tại tòa án Tuy nhiên, vì nhiều lý
do khác nhau, Luật BVQLNTD năm 2010 vẫn chưa phải là một sản phẩm “hoàn hảo”, là một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi ích hợp pháp của NTD hiện nay
Một thực tế không thể phủ nhận rằng, các quy phạm pháp luật BVQLNTD
Trang 10thì nằm rải rác ở rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, còn nội dung thì chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ NTD khi quyền lợi của họ bị xâm phạm Các thiết chế Nhà nước và phi Nhà nước tỏ ra rất yếu kém, có vai trò khá mờ nhạt trong việc thực hiện chức năng của mình trong việc bảo vệ NTD và đặc biệt là để chuyển các quy định của hệ thống pháp luật BVQLNTD đang hiện hữu trở thành hiện thực
Trước tình hình đó, bên cạnh nhu cầu nâng cao “chất lượng” của bản thân pháp luật hiện hành về BVQLNTD, thì việc thông qua điều chỉnh pháp luật để tăng cường các khả năng và nhiệm vụ của các thiết chế BVQLNTD là nhu cầu cấp bách đặt ra hiện nay Điều này có ý nghĩa rất lớn không những đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn là điều kiện không thể thiếu được của một
xã hội văn minh, công bằng và nhân đạo Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn
đề lý luận về pháp luật BVQLNTD, cũng như thực tiễn thực thi, áp dụng pháp luật BVQLNTD là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật BVQLNTD trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
Để đạt được mục đích đã nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu có hệ thống nhằm làm rõ cơ sở lý luận người tiêu dùng, quan
hệ tiêu dùng, các quyền của người tiêu dùng, nghĩa vụ của các chủ thể khác trong hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
+ Nghiên cứu và làm sáng tỏ vai trò, vị trí của NTD, pháp luật BVQLNTD trong hệ thống pháp luật Việt Nam;
Trang 11+ Nghiên cứu so sánh sự ghi nhận quyền và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở một số quốc gia trên thế giới qua các thời kỳ lịch sử, những vấn đề pháp lý nảy sinh và từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam
+ Phân tích thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm ở Việt Nam
+ Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật BVQLNTD, qua đó nêu rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của chúng;
+ Phân tích, so sánh, đánh giá xu hướng vận động của pháp luật BVQLNTD hiện nay trên thế giới, đưa ra định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật BVQLNTD của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghiên cứu và đề xuất phương hướng, những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật BVQLNTD ở phương diện thực thi các quyền của người tiêu dùng
có hiệu quả khi tham gia vào các quan hệ tiêu dùng với các nhà sản xuất kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: là những nội dung pháp luật liên quan
đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD; thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam; kinh nghiệm thế giới trong xây dựng pháp luật BVQLNTD Những phán quyết của tòa án nước ngoài cũng thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án nhưng có thể được đề cập ở cấp độ tham khảo hoặc được sử dụng làm dẫn chứng cho những nghiên cứu so sánh Việc so sánh, đối chiếu quy phạm được giới hạn ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Mỹ, Canada, EU Đối với các nước đang phát triển, việc so sánh chú trọng tới pháp luật các nước nằm trong khu vực hay các nước có sự tương đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, văn hóa
- Phạm vi nghiên cứu:
Hoàn thiện pháp luật BVQLNTD là vấn đề rất lớn, có thể được phân tích ở nhiều mức độ, nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi một luận án không thể phân tích hết các vấn đề đó Như mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên thì bên cạnh việc đặt trọng tâm vào nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, luận án chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp, thống
Trang 12nhất, hợp lý và khả thi của Luật BVQLNTDvà các văn bản hướng dẫn sau một năm thực thi, trên cơ sở đó dự báo những vấn đề pháp lý sẽ phát sinh và phương hướng hoàn thiện Ngoài ra, luận án tập trung nghiên cứu một số quy định mang tính đặc thù của pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, góp phần giải quyết triệt để những điểm khuyết trong lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng của pháp luật BVQLNTD của Việt Nam.
Những nội dung liên quan đến thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật, luận án sẽ nghiên cứu nhưng giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Việc điều tra, khảo sát thực tế ở Việt Nam sẽ không bị giới hạn nhưng tuân thủ những nguyên tắc xã hội học trong lấy mẫu và điều tra điển hình
4 Những điểm mới của luận án
Thứ nhất: Trên cơ sở phân tích một cách có hệ thống khái niệm về NTD,
quan hệ tiêu dùng, pháp luật BVQLNTD; phân tích vị trí vai trò của NTD cũng như
sự cần thiết phải bảo vệ NTD; làm rõ bản chất của quan hệ tiêu dùng, pháp luật BVQLNTD, vị trí và vai trò của pháp luật BVQLNTD trong hệ thống pháp luật, từ
đó có thể giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề mang tính lý luận của pháp luật BVQLNTD Bên cạnh đó, luận án làm rõ nhu cầu điều chỉnh bởi pháp luật đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, xác định được nguyên tắc, định hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, đồng thời xác định được những nội dung không thể thiếu được coi là nội hàm mà lĩnh vực pháp luật này buộc phải có
Thứ hai: Luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và
toàn diện thực trạng pháp luật BVQLNTD của Việt Nam hiện hành Trên cơ sở đó chỉ ra sự khiếm khuyết, bất hợp lý cần sửa đổi, bổ sung của pháp luật BVQLNTD sao cho phù hợp với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường cũng như phù hợp với điều kiện văn hóa, xã hội và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Thứ ba: Luận giải và đề xuất cụ thể, toàn diện các giải pháp nhằm đáp ứng
được yêu cầu bảo vệ hữu hiệu người tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị xâm phạm khá nghiêm trọng như trong bối cảnh hiện nay; đưa ra định hướng, các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt nam hiện nay Những giải pháp này có được dựa trên sự phân tích, đánh giá một cách khoa học, toàn diện các
Trang 13quy định về BVQLNTD của Việt Nam hiện hành cũng như công tác thực thi pháp luật BVQLNTD sau một năm thực thi luật BVQLNTD cũng như xu hướng tất yếu phải hoàn thiện pháp luật BVQLNTD khi chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền
và hội nhập quốc tế
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Qua phân tích về tình hình nghiên cứu pháp luật BVQLNTD, có thể khẳng định rằng, luận án là công trình nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống và khá toàn diện những vấn đề mang tính lý luận nền tảng để làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện pháp luật BVQLNTD Những phân tích, kết luận và đề xuất mà luận án đưa ra đều trên cơ sở khoa học và thực tiễn, vì vậy, luận án không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn Là sự đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD, đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật BVQLNTD nói chung và đạo luật BVQLNTD nói riêng
6 Bố cục của luận án
Với những câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của luận án, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo, luận án được kết cấu gồm 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨUChương 2:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNGChương 3:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
Chương 4:
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề BVQLNTD trên thế giới chỉ thực sự được quan tâm vào những năm
60 của thế kỷ XX Khi mà tình trạng NTD bị xâm phạm các lợi ích kinh tế trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết mà nguyên nhân của nó không chỉ nằm ở việc độc quyền hoặc sự liên kết giữa các thương nhân [85,tr.28] Song song với sự ra đời của các đạo luật bảo vệ quyền lợi NTD thì các công trình nghiên cứu về vấn đề này cũng
“nở rộ” Tuy có “tuổi đời còn kiêm tốn”, nhưng các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD có số lượng không ít và thể hiện khá rõ sự chín chắn của mình
Những điển hình cho lĩnh vực nghiên cứu này là W David Slawson với
“Standard Form Contracts and Democratic Control of Lawmaking Power”, Vol 84
Harvard Law Review 529, 529 (1971) ở Mỹ; Biesel Manfred với „Die Entwicklung der Kaufrechtspraxis unter dem Einfluß der Allgemeinen Geschäftsbedingungen, insbesondere der Beschränkung der Käuferrechte“, Diss
Köln, Rechtswissenschaftliche Fakultät, 1960 ở CHLB Đức; “Notarielle
Verbrauchervertraege” của Britta Carmen Deimel, Nxb Dr Kovac, năm 2003.
Trong đó, tác phẩm “Notarielle Verbrauchervertraege” của Britta Carmen
Deimel, Nxb Dr Kovac, năm 2003, tác giả đã đề cập đến những vấn đề của Hợp đồng có công chứng theo điều 310 Bộ Luật Dân sự Đức Bên cạnh đó, tác giả giới thiệu về chỉ thị số 93-13/EWG của Ủy Ban Châu Âu ngày 5/4/1993 về những bảo lưu mang tính lạm dụng trong các hợp đồng tiêu dùng Theo đó, tác giả đã phân tích
về sự trùng hợp và khác nhau giữa chỉ thị này với Điều 310 Bộ Luật Dân sự Đức liên quan đến điều kiện giao dịch chung Cũng trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập đến yêu cầu cần phải minh bạch hóa các hợp đồng theo yêu cầu của chỉ thị 93-13/EWG của Ủy Ban Châu Âu Đây là tài liệu rất có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu hợp đồng nói chung và điều kiện thương mại chung nói riêng
Trang 15Các quốc gia phát triển đã lấy chính sách lấy NTD làm trung tâm phát triển kinh tế của họ, hàng loạt các đạo luật nhằm bảo vệ NTD được ban hành Trên cơ sở
đó, có khá nhiều nghiên cứu nhằm hoàn thiện việc điều chỉnh pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Qua khảo sát nhận thấy một số nghiên cứu quan trọng
sau đây như: Gerlach Johann Wilhelm với „Die AGB-Verhältnisse und die
bisherigen Erfahrungen mit dem Kontrollklageverfahren“, Münchener Kommentar
zum BGB, Band I, §§ 1-240, C.H Beck Verlag 1997; Bork Reinhard với
„Entwicklung der AGB-Kontrolle“, Tübingen 2001; Alice Broichmann với
„Unternehmenskaufverträge und AGB-Kontrolle“, Beck-Fachdienst Mergers & Acquisitions, Ausgabe 14/2007; K.Schmidt với “ Verbraucherschutz im BGB und
AGB- Kontrolle” , JuS 2006,1ff.
Theo đó, trong bài viết “ Verbraucherschutz im BGB und AGB- Kontrolle”
của K.Schmidt, tác giả đã đề cập vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD theo Bộ Luật dân sự của Đức Dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng thì các bên có quyền tự do thỏa thuận không bị hạn chế về nội dung trong hợp đồng Điều này xuất phát từ tư tưởng tự do trong thị trường, tự do trong thị trường là sự bảo vệ NTD tốt nhất Tuy nhiên, trong bối cảnh của những bất cân xứng về lực lượng (về khả năng đàm phán trong hợp đồng cũng như bất cân xứng về thông tin ) đã dẫn đến sự hạn chế về quyền tự do thị trường, từ đây xuất hiện nhu cầu bảo vệ NTD Vì vậy, cho đến năm 2001 (thời điểm cải cách Bộ Luật dân sự, mà theo đó, pháp luật về điều kiện giao dịch chung chưa được đưa vào Bộ Luật dân sự trước đó) Bộ Luật dân sự của Đức đã được bổ sung, nhà nước Đức đã ban hành một loạt những đạo luật bao gồm Luật về Điều kiện giao dịch chung, Luật về bán hàng tại nhà, Luật về bán hàng từ xa
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã trở thành xu thế toàn cầu, nhanh chóng lan tỏa đến tất cả các quốc gia trên thế giới Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Gralf-
Peter Calliess với “Coherence and Consistency in European Consumer Contract
Law: a Progress Report”, Frankfurt am Main, 2003; Sir John Vickers với
“Contracts and European consumer law: an OFT perspective”, Oxford 2005;
Aristides N Hatzis với “An Offer You Can’t Negotiate: Some Thoughts on the
Economics of Standard-Form Consumer Contracts” Athens 2006; Michael G Faure & Hanneke A.Luth với “Behavioural Economics in Unfair Contract Terms
Cautions and Considerations”, The Author(s) 2011; Friedrich Kessler “Contracts
Trang 16of Adhesion-Some Thoughts About Freedom of Contract”, Yale Law School 1943;
Willem van Boom and Marco Loos với “ Effective Enforcement of Consumer Law
in Europe Synchronizing Private, Public, and Collective Mechanisms”, January,
2008; Leon E Trakman với “Adhesion contracts and the twenty first Century
consumer“,2011; American Bar Association Central and East European Law
Initiative với “Concept Paper on Consumer Protection” November 25, 1992 Cụ
thể:
+ Trong tác phẩm “Behavioural Economics in Unfair Contract Terms
Cautions and Considerations”, hai tác giả Michael G Faure và Hanneke A.Luth đã
phân tích mối quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất, kinh doanh bằng phương pháp tiếp cận kinh tế truyền thống, dựa trên lý luận về hành vi kinh tế học, trên cơ sở đó, rút ra bài học để bảo vệ NTD Bên cạnh đó, tác giả còn xây dựng nhiều quan điểm liên quan đến chính sách bảo vệ NTD trên cơ sở liên hệ với chính sách bảo vệ NDT của Châu Âu Tuy nhiên, bài viết chủ yếu tập trung vào vấn đề những điều khoản gây hiểu nhầm, bất lợi và không công bằng trong hợp đồng tiêu dùng Theo tác giả, khiếm khuyết của thị trường là sự bất đối xứng thông tin, chi phí giao dịch, khả năng thương lượng giữa NTD và nhà sản xuất Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp để kiểm tra sự công bằng của các điều khoản trong hợp đồng Ví dụ: Quy định một hợp đồng được tự động gia hạn nếu NTD muốn tiếp tục sử dụng hàng hóa, dịch
vụ của nhà sản xuất, cung ứng đó, điều này sẽ giảm chi phí giao dịch cho NTD
+ Trong bài viết “Contracts of Adhesion-Some Thoughts About Freedom of
Contract” (Giao kết hợp đồng – Vài suy nghĩ về tự do hợp đồng) của Friedrich Kessler, tác giả có cái nhìn đa chiều và khá sâu sắc về vấn đề tự do hợp đồng Bài viết khẳng định, hợp đồng là công cụ không thể thiếu trong hoạt động của các doanh nghiệp, cho phép các bên thể hiện và thực hiện ý chí của mình Bên cạnh đó, ông đề cao vấn đề tự do hợp đồng, tự do thỏa thuận, và không thể gọi là hợp đồng nếu không có sự đồng ý của các bên Cũng trong bài viết này, Friedrich Kessler đã
đề cập đến hợp đồng mẫu do doanh nghiệp xây dựng Hiện nay, loại hợp đồng này xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực như vận chuyển, bảo hiểm, ngân hàng Hợp đồng mẫu thông thường loại bỏ hoặc kiểm soát những điều khoản bất lợi cho doanh nghiệp và việc sử dụng hợp đồng mẫu thường được thực hiện bởi những doanh nghiệp lớn, có thế lực và những doanh nghiệp độc quyền Tác giả đã nhận ra sự bất
Trang 17bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng mẫu, và NTD là bên gánh chịu sự thua thiệt Ông kêu gọi Pháp luật, Tòa án cần nổ lực để bảo vệ bên yếu thế hơn trong hợp đồng mẫu, bảo vệ công chúng chống lại sự lạm dụng tự do hợp đồng.
+ Tác giả Sir John Vickers với bài viết “Contracts and European consumer
law: an OFT perspective” Trong bài viết này, tác giả không đi sâu vào pháp luật
hợp đồng, mà dựa trên kinh nghiệm của OFT (The office of fair trading (OFT), tạm dịch là Văn phòng Thương mại công bằng) để giải quyết sự hài hòa hóa luật hợp đồng của các nước Châu âu trên cơ sở một loạt các chỉ thị của Cộng đồng Châu âu* Theo chỉ thị EC, các điều khoản trong hợp đồng phải đầy đủ, từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu, không cạm bẫy Các điều khoản không rõ ràng, không công bằng không có giá trị ràng buộc NTD Tác giả cho rằng thực hiện Chỉ thị EC giúp cho việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD ở các quốc gia thành viên tốt hơn Bởi lẽ, việc mua và bán hàng hóa không chỉ diễn ra ở mỗi quốc gia châu âu mà còn vượt qua biên giới Mà, pháp luật và cơ chế thực thi ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tạo điều kiện cho các
thương nhân sử dụng “ biên giới” như một lá chắn các hành vi lừa đảo của mình,
điều này dẫn đến khó thực thi việc bảo vệ NTD Tác giả kêu gọi và đánh giá cao sự hài hòa hóa pháp luật hợp đồng và pháp luật NTD của các nước Châu âu dựa trên chỉ thị của EC, với sự tham gia của nhiều quốc gia Châu Âu khác Điều này sẽ cải thiện nội dung pháp luật bảo vệ NTD cũng như giúp cơ quan nhà nước bảo vệ NTD thực thi và xử lý có hiệu quả các trường hợp xâm phạm lợi ích NTD và bảo vệ cả những doanh nghiệp chân chính trên khắp Châu âu
+ Hai tác giả Willem van Boom and Marco Loos với “ Effective
Enforcement of Consumer Law in Europe Synchronizing Private, Public, and Collective Mechanisms” đã có những phân tích sâu về lợi ích nhóm trong luật tiêu
dùng của Châu Âu và của từng quốc gia thành viên Phân tích sự liên quan của luật cạnh tranh không lành mạnh trong việc tìm ra các phương tiện hiệu quả cho việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Đồng thời tác giả cũng cho thấy mối quan hệ của việc thực thi luật cạnh tranh và việc thực thi những quy tắc của luật tiêu dùng
Cũng trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách một cách thỏa đáng vấn đề khiếu kiện của NTD Theo tác giả, những người tiêu dùng cá nhân đã không
* EC (European Community) Năm 1993 Cộng đồng Châu Âu được đổi tên thành Liên minh Châu Âu (EU - European Union)
Trang 18được trang bị một cách đầy đủ để thực thi các quyền hợp pháp của mình Họ đứng một mình trong trận chiến chống lại các công ty hay tổ chức vốn dĩ đã được trang bị đầy đủ với sự hỗ trợ và nguồn pháp lý tốt hơn nhiều Hơn nữa, khi khiếu nại để đòi quyền lợi của mình, người tiêu dùng gặp khó khăn về chi phí, thời gian Họ phải bỏ
ra một chi phí khá lớn cho khiếu kiện để đổi lấy khoản bồi thường nhỏ thiệt hại Đây chính là rào cản khiến người tiêu dùng ngại phải đối mặt với việc khiếu kiện khi quyền lợi bị xâm phạm Để giải quyết vấn đề này, tác giả nhấn mạnh cần tập hợp các khiếu nại của những người tiêu dùng cá nhân để giúp tạo nên sự cân bằng quyền lực, thứ mà những người tiêu dùng cá nhân đơn lẻ đang thiếu khi tiến hành khiếu nại, khiếu kiện Với quan điểm này, tác giả đã cổ súy cho những quy định của pháp luật về khiếu kiện tập thể, đây là vấn đề mà nhiều quốc gia còn e ngại và chưa được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước năm 1986, ở Việt Nam hầu như không có bất kỳ một công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Bởi lẽ, thuật ngữ NTD chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu bước chuyển của nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Cùng sự phát triển của kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các thương nhân, sự xuống cấp của đạo đức và lòng tham đối với khoản lợi nhuận kếch xù, quyền lợi ích của NTD bắt đầu bị xâm phạm ngày càng nghiêm trọng hơn
Có thể nói, “Bàn về tiêu dùng của Chủ nghĩa xã hội” của Trần Tri Hoằng,
Nxb Chính trị quốc gia, 1999 là công trình tiên phong nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về tiêu dùng Cuốn sách đã tổng kết thực tiễn tiêu dùng hơn 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ cải cách, mở cửa từ năm 1978 đến nay dựa trên cơ sở lý luận của C Mác- Ph ĂngGhen, V I Lê Nin về vấn đề tiêu dùng và tham khảo thành tựu lý luận về tiêu dùng trong kinh tế học phương Tây Trong cuốn sách này, ông đã trình bày năm vấn đề lớn: Quan niệm về tiêu dùng; hệ thống tiêu dùng; cơ cấu tiêu dùng; hành vi tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng Tác giả tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện về lý luận cơ bản, các quy luật vận hành, diễn biến, các quan hệ của tiêu dùng: giữa sản xuất với
Trang 19tiêu dùng, phân phối với tiêu dùng, trao đổi với tiêu dùng Ngoài những vấn đề mang tính lý luận về tiêu dùng, tác giả cũng đã đề cập đến một số quyền của NTD như: quyền được tìm hiểu; quyền được lựa chọn; quyền bảo đảm chất lượng, giá cả,
an toàn, cân đong; quyền sửa chữa, thay đổi, trả lại tiền và đòi bồi thường Quyền của NTD tuy chưa được đề cập và phân tích một cách đầy đủ, nhưng đây có thể xem là sự gợi mở cho các công trình sau, kế thừa và tiếp tục làm rõ hơn các vấn đề
lý luận liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD
Trong số những công trình mang tính tiên phong nghiên cứu vấn đề bảo vệ
quyền lợi NTD ở Việt Nam, không thể không nhắc đến “Tìm hiểu Luật bảo vệ
người tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của Viện
Nhà nước và Pháp luật biên soạn, Nxb Lao động, 1999 Cuốn sách này là tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với các học giả cũng như những độc giả trong nước quan tâm đến Luật bảo vệ quyền lợi NTD của một số quốc gia trên thế giới Bên cạnh việc giới thiệu Luật bảo vệ NTD của Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ấn Độ cũng như một số biện pháp bảo vệ NTD của các quốc gia Cuốn sách đã điểm qua hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam, mà cụ thể là Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam (VINASTAS) Cuốn sách đã nêu bật được vấn
đề khó khăn của NTD Việt Nam trước “cơn lốc” của kinh tế thị trường và sự “đổ bộ” ồ ạt của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa kém chất lượng, thực phẩm ô nhiễm Tuy chưa lý giải được tất cả các vấn đề ảnh hưởng xấu đến quyền lợi NTD, cũng như các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ NTD Nhưng cuốn sách đã “báo động” tình trạng NTD Việt Nam đang bị xâm hại, xác lập sự quan tâm của Nhà nước, xã hội đối với việc bảo vệ quyền lợi NTD
Như vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, cho thấy có không ít công trình nghiên cứu vấn đề này Tuy nhiên, đây là vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp lý khác nhau cũng như tính mới, tính độc đáo của Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Vì vậy, những công trình này có hướng tiếp cận, khai thác, nghiên cứu và nhận thức dưới những góc độ khác nhau như sau:
Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD
thông qua các quy định của pháp luật cạnh tranh Qua đó, đãkhẳng định quan điểm: pháp luật cạnh tranh là một phần của pháp luật bảo vệ NTD, bảo vệ quyền lợi NTD
Trang 20bằng pháp luật cạnh tranh là điều không thể thiếu trong bối cảnh hiện nay
+ Bài viết của PGS.TS Nguyễn Như Phát “Đối tượng điều chỉnh của pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 năm
2000 Trong bài viết của mình tác giả đã khẳng định, bên cạnh những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị thế thống lĩnh xâm hại đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh thì những hành vi xâm hại lợi ích của người tiêu dùng cũng phải là đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Bởi lẽ, các hành vi như can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng, khuyến mại gian dối, quảng cáo sai lệch không chỉ xâm hại đối thủ cạnh tranh mà còn trực tiếp xâm hại quyền lợi NTD Bài viết đặt nền tảng cho nhận thức mới về pháp luật bảo vệ NTD cũng như mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật bảo vệ NTD
và pháp luật cạnh tranh Như vậy, NTD không chỉ được bảo vệ bởi Luật bảo vệ NTD, mà còn được bảo vệ bởi nhiều chế định pháp luật khác nhau, trong đó có cả pháp luật cạnh tranh
+ Tác giả Nguyễn Như Phát, trong bài viết “Pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh”, bài đăng trong cuốn: "Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh ở
Việt Nam hiện nay", NXB Công an nhân dân, HN 2001 (tr 239-267) Trong đó, tác giả đã khái quát lịch sử hình thành của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về kiểm soát độc quyền, cũng như điểm qua hình thức thể hiện của pháp luật cạnh tranh của một số quốc gia Châu Âu như : Pháp, Đức, Italia và Anh Bài viết rất có giá trị khoa học và là đóng góp không nhỏ cho quá trình soạn thảo cũng như ban hành Luật Cạnh tranh ở nước ta Ngoài ra, bài viết đã thể hiện cái nhìn đa chiều và khá bao quát những hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm đến quyền lợi NTD Với một số quy định của Luật thương mại và những quy định của pháp luật về quảng cáo, vẫn chưa đủ sức để chống lại các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến quyền lợi NTD đang diễn ra khá nhức nhối trong thương trường hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đề nghị cần đưa những hành vi này vào Luật Cạnh tranh để bảo đảm hơn quyền lợi của NTD
+ Bài viết Thạc sĩ Ngô Vĩnh Bạch Dương, “Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2000
Theo tác giả, một trong những nguyên tắc cơ bản của tự do cạnh tranh là sự tự do hợp đồng, theo đó người tiêu dùng được tự do lựa chọn nhà cung cấp để mua hàng
Trang 21hoá, dịch vụ cho nhu cầu cá nhân Tuy nhiên việc sử dụng phổ biến các hợp đồng mẫu, hợp đồng soạn trước trong mua bán không thông qua các cuộc thương lượng, mặc cả , tất cả đều là sự tước đoạt đi của người tiêu dùng quyền tự do hợp đồng của họ Ngoài ra, người tiêu dùng bị buộc phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ mà không
có khả năng lựa chọn nào khác bởi lý do loại hàng hoá, dịch vụ đó chỉ do một thương gia độc quyền cung cấp Trong những trường hợp như vậy, quyền tự do khế ước đã không còn mang giá trị nhân văn của một quyền tự do cá nhân [15] Từ những nhận định trên, tác giả đề nghị nên quy định bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật cạnh tranh bên cạnh những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh Đồng thời cần có các quy định nghĩa vụ của các nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ phải tôn trọng những quyền cơ bản nhất của người tiêu dùng
Thứ hai: Nhóm công trình nghiên cứu khá sâu những vấn đề lý luận cơ bản
của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Có thể kể đến như Kỷ yếu “Hội thảo đẩy
mạnh công tác bảo vệ NTD ở Việt Nam”, Sáng kiến trong khuôn khổ dự án 7UP2
ngày 20/3/2006 do Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Thương mại chủ trì tại Hà Nội Kỷ
yếu Hội thảo khoa học “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế,
thực trạng và triển vọng ở Việt Nam”, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM ngày
16-17/11/2009 “Giáo trình luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Trường Đại
học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2012
Đặc biệt đề tài nghiên cứu cấp bộ Bộ thương mại, “Hoàn thiện pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, do TS Đinh Thị Mỹ Loan chủ nhiệm năm 2006 Có thể nói, đây là một trong
những đề tài khoa học cấp bộ đầu tiên nghiên cứu về vấn đề bảo vệ NTD Công trình này tập trung hầu hết những vấn đề mang tính cốt lõi liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD và khái quát một cách có hệ thống các quyền của NTD; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nghiã vụ của cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức xã hội bảo vệ NTD Đề tài nhìn nhận khá rõ những ưu điểm cũng như hạn chế của hệ thống pháp luật bảo vệ NTD nói chung và Pháp lệnh bảo vệ NTD 1999 nói riêng Bên cạnh đó, đề tài đã tìm hiểu và giới thiệu một số quy định của quốc tế về bảo vệ NTD như: Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về bảo vệ NTD; tổ chức quốc tế NTD (Consumer International) Ngoài ra, pháp luật bảo vệ NTD của một số quốc gia phát triển như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Canada,
Trang 22Australia cũng được đề tài xem xét, nghiên cứu Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam, đề tài đã đưa
ra nhiều kiến nghị về phương hướng và giải pháp rất có giá trị cho việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đây là một tài liệu rất có giá trị và hữu ích cho công tác nghiên cứu lập pháp cũng như khoa học pháp lý về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay
+ TS Đặng Vũ Huân với bài viết “Pháp luật và vấn đề bảo vệ người tiêu
dùng” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu
dùng tháng 1 năm 2005, bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ NTD theo kinh tế học Tác giả phân tích mối quan hệ kinh tế giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường, từ đó có thể thấy NTD giữ vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế Bài viết cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến quyền lợi của NTD chưa được bảo đảm Trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là do các quy định của pháp luật mang tính tổng quát, chung chung và chưa có cơ chế xử lý thích đáng đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị mang tính vĩ mô nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ NTD
+ TS Đinh Thị Mỹ Loan, “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam
- thực trạng và nhu cầu hoàn thiện”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước
và Pháp luật và Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức tháng 2/2008 Bài viết giới thiệu một cách tổng quan về các chế định pháp luật trong hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, trong đó Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đóng vai trò trung tâm Cũng trong bài viết này, tác giả đã phân tích những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quy định liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD Mà theo tác giả, các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về bảo vệ NTD cho đến nay đã lạc hậu, không cập nhật các yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt trong thời hội nhập, “hậu WTO” và thương mại điện tử Yêu cầu đặt ra cần một “hệ thống pháp luật” có hiệu quả và cơ chế hậu kiểm thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
+ Bên cạnh các bài viết và tham luận nói trên, một luận văn cũng có giá trị
tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài đó là luận văn Cao học về “Pháp luật
về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, năm 2007 của tác
giả Bùi Thị Long, năm 2007, Viện Nhà nước và Pháp luật Luận văn đã làm rõ khái
Trang 23niệm NTD theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 và trong pháp luật của một
số quốc gia khác; nội dung các quyền của NTD cũng như các nguyên tắc bảo vệ NTD Thực trạng của luận văn phản ánh khá chân thực và sâu sắc tình trạng xâm phạm quyền lợi NTD, có sức “đánh động” rất lớn đến nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ NTD Từ thực trạng đó luận văn đã đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc sửa đổi và thực thi pháp luật bảo vệ NTD
+ TS Nguyễn Đức Minh, “Mấy ý kiến về cơ chế bảo vệ người tiêu dùng ở
nước ta hiện nay” báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh
nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009 Bài viết đã đưa ra những lập luận rất sắc bén thể hiện sự cần thiết phải bảo vệ NTD, bảo vệ kẻ yếu Thực thi bảo vệ NTD chính là bảo vệ quyền con người, thể hiện giá trị của xã hội Trong bài viết, tác giả cho rằng cần phải phân định một cách rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của mỗi chủ thể trong việc bảo vệ NTD, tuy nhiên phải phát huy đồng thời khả năng và sức mạnh tổng hợp của
ba chủ thể: Nhà nước, NTD và xã hội Ngoài ra, bài viết còn đưa ra một số đề xuất nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của NTD, trong đó, chú trọng phòng ngừa vi phạm hơn là giải quyết hậu quả
+ PGS.TS Nguyễn Như Phát với bài viết “Một số vấn đề lý luận xung
quanh Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật Số 2/2010 Bài viết đã tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, góp ý đối với Dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi NTD Tác giả nêu và làm rõ một số hiện tượng pháp lý được ghi nhận trong Dự luật, bao gồm các vấn đề quan trọng như: Vị trí của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hệ thống pháp luật; Những vấn đề về ngoại lệ trong giao kết hợp đồng cũng như thủ tục giải quyết khiếu kiện của NTD; Kiểm soát điều kiện giao dịch chung; Trách nhiệm của nhà sản xuất do sản phẩm có khuyết tật; Khởi kiện tập thể và áp dụng thủ tục rút gọn Đây là một đạo luật chứa đựng nhiều vấn đề mới so với nhận thức pháp lý truyền thống và của số đông, vì vậy, có rất nhiều ý kiến tranh cãi Tuy nhiên, tác giả đã cổ súy cho những điểm mới này trên nguyên tắc bảo vệ tối đa lợi ích NTD Và nhằm tránh xung đột của hệ thống pháp luật đối với những ngoại lệ khi bảo vệ quyền lợi NTD, tác giả đề nghị nên đưa những ngoại lệ này vào Hiến pháp và Bộ luật tố dụng dân sự đang được nghiên cứu
Trang 24sửa đổi
Thứ ba: Nhóm công trình nghiên cứu thể hiện “sự quan tâm” đến thực trạng
các quyền cơ bản của người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ NTD Cụ thể như: Tô
Giang, Quyền lợi người tiêu dùng vẫn chưa được đảm bảo, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1/2005; “Bảo đảm quyền
của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định hướng XNCN ở nước ta hiện
nay”, kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người, chủ nhiệm đề tài
TS.Tường Duy Kiên, 2007; Ths Trần Thị Hoè, “Bảo đảm quyền được cung cấp
thông tin của người tiêu dùng ở nước ta hiện nay”, kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện
nghiên cứu quyền con người, 2007 ; Ths Hoàng Mai Hương, “Bảo đảm quyền
được bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng ở nước ta hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp
bộ của Viện nghiên cứu quyền con người, 2007; Ths Nguyễn Thị Báo “Trách
nhiệm của Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền của người tiêu
dùng” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người năm 2007; Ths
Hoàng Hùng Hải, “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay một số
kết quả và vấn đề đặt ra” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người
năm 2007; TS Nguyễn Duy Sơn, “Bảo đảm quyền được giáo dục của người tiêu
dùng ở Việt Nam hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con
người, 2007; Đoàn Văn Trường, “Những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng của Việt Nam”, Viện nghiên cứu khoa học thị trường và giá cả, Bộ Tài Chính,
2003; Ths Đỗ Hồng Thơm, “Tăng cường giáo dục, đào tạo, thông tin nâng cao
nhận thức của người tiêu dùng ở nước ta hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện
nghiên cứu quyền con người, năm 2007
Trong nhóm này, hầu hết tất cả các bài viết đều đề cập Pháp lệnh BVQLNTD 1999 ghi nhận cho NTD 8 quyền, các quyền này trùng với các quyền của NTD mà tổ chức Quốc tế NTD và Liên hiệp quốc công nhận đó là: quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn; quyền được lắng nghe; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được giáo dục về tiêu dùng và quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững Điều này cho thấy có sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, những quyền cơ bản này chỉ mới dừng lại ở mức “gọi tên” mà chưa phải quyền năng thực sự, để có thể sử dụng trong thực tiễn Có thể nói rằng,
Trang 25những quy định về quyền và trách nhiệm của NTD trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn mang tính “nghị quyết”, chưa thực sự đảm bảo cơ chế cho việc thực thi trên thực tế.
+ Trong bài viết “Bảo đảm quyền được cung cấp thông tin của người tiêu
dùng ở nước ta hiện nay”, kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con
người, 2007 Tác giả của Trần Thị Hòe điểm qua một vài quy định của pháp luật liên quan đến quyền được cung cấp thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ của NTD Tuy nhiên, quyền này của NTD trên thực tế không được tôn trọng bởi sự gian dối của các doanh nghiệp trong quảng cáo cũng như ghi nhãn hàng hóa Trên cơ sở đó, bài viết đã có vài kiến nghị mang tính vĩ mô nhằm khắc phục tình trạng nêu trên
+ Bài viết “Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng ở
nước ta hiện nay” của Hoàng Mai Hương đăng trong kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện
nghiên cứu quyền con người năm 2007 Trong bài viết, tác giả đã nhận thấy việc giải quyết khiếu nại và bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng còn chưa thỏa đáng NTD gặp rất nhiều khó khăn vì thời gian và khoản kinh phí rất lớn khi tham gia tố tụng Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại của NTD trong thực tế
+ TS Nguyễn Duy Sơn với bài viết “Bảo đảm quyền được giáo dục của
người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” đăng trong kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện
nghiên cứu quyền con người năm 2007 Bài viết đã nhìn nhận một cách thấu đáo
tình trạng không tương xứng về trình độ và khả năng của người tiêu dùng so với
nhà sản xuất trong việc xác định giá cả, chất lượng và xuất xứ của sản phẩm Bởi lẽ, NTD bị động, thiếu kiến thức tiêu dùng và hơi dễ tính Chính sự không hiểu biết về pháp luật là nguồn gốc gây ra những bất hạnh cho người tiêu dùng Vì thế, người tiêu dùng Việt Nam cần được bảo đảm quyền được giáo dục trên thực tế
Thứ tư, Nhóm các công trình nghiên cứu các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD
- một bộ phận cấu thành cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi NTD Trong đó, các bài
viết tiêu biểu như: “Quyền của người tiêu dùng và trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà
nước và Pháp luật và Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức tháng 2/2008; GS.TS Lê
Hồng Hạnh, “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế bảo vệ quyền lợi
Trang 26người tiêu dùng”, báo cáo tại hội thảo Bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm từ
pháp luật của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp tổ chức tại
TP.HCM tháng 7/2010; TS Phan Huy Hồng, “Vai trò của các tổ chức bảo vệ người
tiêu dùng ở Việt Nam”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật
và KAS tổ chức tháng 2/2008; PGS.TS Đinh Văn Thanh, “ Thủ tục xét xử rút gọn
trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Nhu cầu và định hướng lập pháp”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh
nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009;
+ Trong bài viết “Quyền của người tiêu dùng và trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng đã nêu bật vai trò của các cơ quan
quản lý Nhà nước trong việc bảo vệ NTD Đây là thiết chế cơ bản và quan trọng nhất, bởi lẽ, NTD bị xâm phạm ở hầu hết tất cả lĩnh vực quản lý của Nhà nước như quảng cáo, nhãn hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm Và nhà nước là chủ thể có trình độ, có phương tiện và có nguồn tài chính dồi dào để phát hiện, ngăn chặn sự xâm phạm này Bài viết đưa ra một số giải pháp giúp cơ quan quản lý Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn trong công tác bảo vệ NTD
+ Trong bài viết “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng”, báo cáo tại hội thảo Bảo vệ người tiêu dùng – kinh
nghiệm từ pháp luật của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp
tổ chức tại TP.HCM tháng 7/2010, GS.TS Lê Hồng Hạnh đã xác định các bộ phận của thiết chế bảo vệ NTD, trong đó, mỗi thiết chế có vị trí và vai trò khác nhau trong cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD Tuy nhiên, chúng vẫn có một điểm chung hiện nay khá yếu, kém Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật hiện hành, bài viết đề một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của các thiết chế Trong đó, nổi bật là việc bổ sung thủ tục tố tụng rút gọn của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp giữa NTD và nhà sản xuất, kinh doanh Cùng với quan điểm này,
PGS.TS Đinh Văn Thanh đã có bài viết “ Thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ án
dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Nhu cầu và định hướng lập pháp”,
báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009 Tác giả phân tích, luận giải sự cần thiết áp dụng thủ tục xét xử rút gọn
Trang 27trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD Điều này giúp NTD tiết kiệm thời gian, công sức cũng như tiền bạc khi tham gia tranh chấp với tổ chức sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi cho NTD “tiếp cận công lý”
+ TS Phan Huy Hồng có bài: “Vai trò của các tổ chức bảo vệ người tiêu
dùng ở Việt Nam”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật và
KAS tổ chức tháng 2/2008 Bài viết xác định tầm quan trọng của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD - là tổ chức xã hội, đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD theo quy định của pháp luật – trong công tác bảo vệ NTD hiện nay Bài viết xây dựng được cơ sở
lý luận và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD trong việc đảm bảo quyền lợi NTD Trên cơ sở đó, đề xuất một số vấn đề nâng cao năng lực của tổ chức này, mà trước hết cần phải luật hóa vai trò của các
tổ chức bảo vệ NTD
Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết đi sâu, làm sáng tỏ vị trí, vai trò, bản chất của các thiết chế bảo vệ NTD như Tòa án, Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức bảo vệ NTD và các đòi hỏi của thực tiễn nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi NTD
Từ đó kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những thiếu sót trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, góp phần đảm bảo sự công bằng trong xã hội Cụ
thể: “Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng” của TS Nguyễn Đức Minh báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà
nước và Pháp luật và KAS tổ chức tháng 2/2008; Ths Ngô Vĩnh Bạch Dương,
“Vấn đề nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh
nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại
TP.HCM ngày 16-17/11/2009; Tưởng Duy Lượng, “Vai trò của tòa án trong việc
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007, trang
29-34; TS Dương Anh Sơn, “ Thực trạng và hiệu quả áp dụng các chế tài hành chính
nhằm bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta hiện nay”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam,
do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM ngày 16-17/11/2009; Nguyễn Thị Phương
Châu, “Bảo vệ Người tiêu dùng thông qua phương thức giải quyết tranh chấp tại
Tòa án”, LV Thạc sĩ, Đại học Luật Tp.HCM, 2010; Phạm Quang Viễn, “Một số ý
kiến về việc thực thi các chế tài hành chính nhằm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Trang 28hiện nay”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức tháng 2/2008
Thứ năm, nhóm các công trình nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật bảo vệ NTD
của các quốc gia, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng cũng như hoàn thiện pháp luật BVQLNTD của Việt Nam Có thể kể đến như:
Chuyên đề “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh
nghiệm quốc tế”, tháng 8/2007 của Viện khoa học pháp lý; Tài liệu Hội thảo “Bảo
vệ người tiêu dùng- kinh nghiệm từ pháp luật của Đức và liên minh châu âu với Việt nam”, Bộ tư pháp tổ chức tại TP.HCM ngày 1-2/7/2010; Nguyễn Văn Thành,
“Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước, vũng lãnh thổ trên
thế giới và bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội- khoa Luật,
2011; Ths Nguyễn Thị Thanh Hải, “Bảo đảm quyền của người tiêu dùng: các quy
định quốc tế và kinh nghiệm quốc gia” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu
quyền con người, 2007; Chu Đức Nhuận, “Trách nhiệm sản phẩm”, Luận án tiến
sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, 2012
Các công trình này đều tập trung nghiên cứu pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, tuy mỗi công trình có hướng đi khác nhau trong lĩnh vực bảo vệ NTD cũng như học hỏi kinh nghiệm ở các quốc gia khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật bảo vệ NTD, mà đặc biệt là trong giai đoạn soạn thảo, ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam Một trong những công trình có giá trị
tham khảo cao đó là chuyên đề “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn
Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, tháng 8/2007 của Viện khoa học pháp lý Trong
chuyên đề này, bài viết “Pháp luật về bảo hành sản phẩm ở Canada” của tác giả
LS.Jannick Desforges đã cung cấp cho đọc giả thông tin lý thú và bổ ích về vấn đề bảo hành hàng hóa dịch vụ, nghĩa vụ thông báo, cảnh báo của nhà sản xuất theo
pháp luật Canada Hay trong bài viết “Vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng
trong công tác bảo vệ người tiêu dùng tại Canada” - cũng của tác giả LS.Jannick
Desforges -thông tin trong bài viết là kinh nghiệm quý giá giúp các nhà nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam xem xét, phân tích, đánh giá một cách thấu đáo, khoa học hơn đối với những quy định của pháp luật Việt Nam về vị trí, vai trò cũng như nghĩa vụ của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD Ngoài ra, LS.Jannick Desforges
Trang 29còn giới hiệu một số về kinh nghiệm của Canada trong việc khởi kiện tập thể của NTD Đây là vấn đề rất mới và khá xa lạ đối với pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam Vì vậy, bài viết là tài liệu tham khảo quý giá và hữu ích khi nghiên cứu
về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Một công trình đáng được nhắc đến, đó là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn
Thành về “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước, vũng lãnh
thổ trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam”, Đại học quốc gia Hà Nội- khoa Luật năm 2011
Công trình khá công phu trong việc tìm hiểu pháp luật bảo vệ NTD các quốc gia đang phát triển như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, các quốc gia phát triển và điển hình, các nền kinh tế mới như Mỹ, Úc, Cộng đồng các quốc gia, vùng lãnh thổ như Châu Âu, Canada (Bang Quebec), Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, v.v…Trên cơ sở quy định về các quyền cơ bản của NTD; Hành vi thương mại không công bằng và hợp đồng tiêu dùng của các quốc gia nói trên, tác giả đã phân tích đánh giá một cách khái quát ưu nhược điểm, thực trạng hệ thống pháp luật bảo
vệ NTD Việt Nam và đề ra yêu cầu và mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, nên tác giả chưa thể
đi sâu phân tích tất cả các vấn đề còn tồn tại trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD,
mà chỉ giải quyết một số vấn đề mang tính bức bách Tuy nhiên, đây cũng là một thành công không nhỏ của tác giả
Nhìn chung, việc phân nhóm các công trình nghiên cứu nói trên chỉ mang tính tương đối, bởi lẽ, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là tổng thể tất cả các chế định pháp luật nhằm mục đích BVQLNTD, chúng có mối liên hệ nội tại, gắn bó mật thiết với nhau Thế nên, khi nghiên cứu pháp luật BVQLNTD, ta không thể tách bạch hay rạch ròi từng vấn đề cụ thể liên quan đến việc đảm bảo quyền lợi NTD,
mà quyền lợi NTD có được bảo đảm hay không phụ thuộc vào tất cả các bộ phận của cơ chế pháp lý BVQLNTD Tuy nhiên, để giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu được dễ dàng và thuận lợi, nên tạm thời phân nhóm
Vì vậy, còn nhiều công trình không kém quan trọng nhưng chưa được phân nhóm
như : Bùi Nguyên Khánh, “Giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng”, báo cáo tại Tọa đàm khoa học Trách nhiệm của doanh nghiệp và quyền của
người tiêu dùng, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tháng 10/2012;
Trang 30Nguyễn Như Phát, “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2003; TS.Lê Minh Hùng, “Điều kiện thương
mại chung – nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ phương diện bảo vệ quyền lợi của NTD ở nước ta hiện nay”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
– kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ
chức tại TP.HCM tháng 11/2009 ; Th.S.Trần Văn Biên, “Bảo vệ quyền lợi NTD
trong giao kết hợp đồng điện tử qua Internet”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử,
tháng 11/2010; Th.S Đỗ Đình Lương,“Trách nhiệm sản phẩm – kinh nghiệm điều
chỉnh pháp luật của nước ngoài”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người
tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và
KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009; TS Vũ Hùng “Tăng cường hoạt động
phòng chống hàng giả bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng ở nước ta hiện nay”
kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người năm 2007
Trong đó, bài viết “Bảo vệ quyền lợi NTD trong giao kết hợp đồng điện tử
qua Internet” của Th.S Trần Văn Biên, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, tháng
11/2010 góp phần giải quyết nhu cầu bách thiết bảo vệ NTD trong việc mua hàng hóa, dịch vụ qua mạng Bài viết phản ảnh tình trạng hợp đồng điện tử do các thương nhân sử dụng đặt NTD vào thế bất lợi khi giao kết Tác giả đề nghị Dự thảo Luật bảo vệ NTD cần được quy định đầy đủ, chi tiết hơn về giao kết hợp đồng điện tử của NTD
Trong nhóm này, hai bài viết của Nguyễn Như Phát, “Điều kiện thương mại
chung và nguyên tắc tự do khế ước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/ 2003 và
“Điều kiện thương mại chung – nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ phương diện bảo
vệ quyền lợi của NTD ở nước ta hiện nay” của TS.Lê Minh Hùng đã nêu bật sự “bất
công” khi giao kết, thực hiện hợp đồng theo mẫu của thương nhân đối với NTD Vấn đề này tồn tại từ rất lâu trong nền kinh tế tập trung của Việt Nam, và khi chuyển sang kinh tế thị trường, dường như NTD và xã hội chấp nhận điều kiện thương mại chung, hợp đồng mẫu như một lẽ hiển nhiên Bài viết có cái nhìn sắc xảo và giúp các nhà nghiên cứu “nhận thức” lại sự không hợp lý, bất công của những điều kiện thương mại chung, hợp đồng mẫu mà thương nhân áp đặt cho NTD
1.1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 31Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam mà nghiên cứu sinh tiếp cận được, xin đưa ra đánh giá bước đầu như sau:
- Quyền lợi NTD và vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta chỉ được quan tâm nghiên cứu từ sau khi đất nước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường và đặt biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế T rong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quyền lợi của người tiêu dùng ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng Nhu cầu bảo vệ NTD xuất hiện đồng thời với khá nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh các nhau Có thể thấy phần lớn các công trình khoa học pháp lý về lĩnh vực này được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật hoặc tham luận trong các Hội thảo quốc gia
và quốc tế Do đó vẫn chưa thể giải quyết một cách thỏa đáng, hệ thống tất cả các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ NTD Nhìn chung các công trình trên chỉ đề cập đến một số hoặc một khía cạnh nào đó của vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Chưa luận giải và đề xuất cụ thể và toàn diện các giải pháp nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ hữu hiệu người tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị vi phạm khá nghiêm trọng như trong bối cảnh hiện nay
- Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là lĩnh vực còn non trẻ so với lịch sử phát triển kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, Pháp lệnh bảo
vệ quyền lợi NTD mới ban hành và thực hiện từ năm 1999 Tuy nhiên, pháp lệnh này trong quá trình thực hiện bộc lộ nhiều bất cập, đã được nhiều công trình khoa học pháp lý phân tích và chỉ rõ Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được ban hành năm
2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 thay thế cho Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, với sứ mệnh lớn lao là khắc phục những bất cập, hạn chế của các quy định trước và đảm bảo quyền lợi cho NTD Tuy nhiên, hiện nay vì nhiều lý do khác nhau, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD vẫn chưa bộc lộ tính “ưu việt” như mong đợi của các nhà làm luật cũng như NTD Hiện nay, chưa có công trình khoa học ở cấp độ tiến sĩ nào nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD sau một năm thực hiện Luật Bảo vệ quyền lợi NTD; cũng như chỉ ra những “điểm yếu”, hạn chế của pháp luật BVQLNTD, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp
Trang 32nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu pháp luật BVQLNTD ở góc độ lý luận, đánh giá thực trạng, dự báo và
đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD sau khi Luật BVQLNTD được thực thi là cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã thực hiện trước đây
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Một số cơ sở lý thuyết được sử dụng trong luận án:
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng về chính sách phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo sự phát triển bền vững trong sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới
+ Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo vệ con người, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay
+ Lý thuyết về các quyền cơ bản của người tiêu dùng với tư cách là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Lý thuyết này có những cách tiếp cận khác nhau đứng từ phía người tiêu dùng, tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh và ở góc độ của Nhà nước
+ Lý thuyết về bảo vệ kẻ yếu trong mối tương quan với kẻ mạnh nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội Đây là những lý thuyết có ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng của các quốc gia, kể cả Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận án
để đánh khách quan sự hoàn thiện của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Theo đó, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát, phương pháp lịch sử cụ thể…Để hoàn thành mục đích nghiên cứu thì có sự kết hợp giữa các phương pháp trong từng phần của luận án, phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp
Trang 33được sử dụng nhiều nhất trong luận án Đối với mỗi mục, mỗi chương cụ thể trong luận án, sẽ được sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo khác nhau (xem phụ lục
số 2)
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
NTD là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế mỗi quốc gia Bảo vệ quyền lợi NTD và hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và không ngừng thực hiện Việc nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật BVQLNTD nhằm đảm bảo công bằng xã hội và phải phù hợp với đặc thù của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 được ban hành trên cơ sở thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD trước đây Trước và trong khi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ban hành đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện pháp luật bảo vệ NTD ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có góc độ pháp lý Tuy nhiên, từ sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được ban hành cho đến nay, chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về sự khiếm khuyết, bất cập cũng như khả năng thực thi của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, để
từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay Với thực trạng tình hình nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài
“Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” làm
luận án nghiên cứu Luận án được triển khai trên cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng phần và trong giới hạn nghiên cứu để đạt được mục đích chung của luận án
Trang 35Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG 2.1 Quan niệm về người tiêu dùng
2.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
2.1.1.1 Người tiêu dùng theo pháp luật các nước
“Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất” [9, tr.1640] Tiêu dùng là một trong những hoạt động cơ bản và tự nhiên của con người, “Tiêu dùng là một hoạt động tác động đến một vật bằng cách sử dụng nó, là việc sử dụng một vật bằng cách làm cạn kiệt vật đó” [158, tr.312] Như vậy, tiêu dùng gồm hai loại, tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống Trong quá trình sản xuất, con người cần phải sử dụng một số nguyên liệu và sử dụng các công
cụ lao động để tạo ra sản phẩm Đây chính là tiêu dùng cho nhu cầu sản xuất, loại này được tiến hành trong quá trình sản xuất, gồm có quá trình sản xuất và quá trình liên quan trực tiếp đến sản xuất Tiêu dùng cho đời sống là sự tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt bảo đảm cho con người tồn tại và phát triển [27, tr.7] Vậy, thuật ngữ người tiêu dùng (NTD) ở đây cần được hiểu như thế nào, bao gồm cả tiêu dùng cho mục đích sinh hoạt và tiêu dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh hay NTD chỉ là tiêu dùng cho mục đích sinh hoạt
Người tiêu dùng (consumer) là khái niệm khá rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau và không đồng nhất
- Dưới góc độ kinh tế: Người tiêu dùng là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu
thụ của cải, vật chất được tạo ra bởi nền kinh tế Như vậy, NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua quá trình sử dụng chúng [85, tr.7] Có thể nói, trong mọi nền sản xuất của tất cả các quốc gia, người tiêu dùng là đối tượng được hướng tới của mọi doanh nghiệp Người tiêu dùng quyết định nhóm ngành, hàng được sản xuất, định hướng đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp trong thị trường
- Dưới góc độ pháp lý: Thuật ngữ người tiêu dùng chỉ xuất hiện với tư cách
là chủ thể pháp luật khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra
đời Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, người tiêu dùng là đối tượng được bảo vệ theo
Trang 36luật bảo vệ người tiêu dùng.
Người tiêu dùng là các khái niệm cơ bản và rất quan trọng Là chủ thể của quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Là đối tượng trọng tâm được bảo vệ của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Thế nên, nội hàm của khái niệm này cần được xác định một cách rõ ràng, chính xác làm cơ sở cho việc quy định các nội dung liên quan khác trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Đặc biệt, xuất phát từ đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là thiết lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc dân luật truyền thống nhằm khắc phục những bất lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo, sự công bằng và bảo vệ kẻ yếu Chính vì vậy, NTD phải là kẻ yếu, kẻ cần được pháp luật bảo vệ Xuất phát từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào được gọi là người tiêu dùng là một vấn đề hết sức quan trọng, tránh sự lạm dụng của những kẻ “không yếu” giành lợi thế bất chính với bên kia dưới danh nghĩa NTD Hơn nữa, điều này làm mất ý nghĩa cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ NTD của nhà nước ta [85, tr.14], tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của nhà nước vào các quan hệ dân sự Ngoài ra, việc xác định nội hàm người tiêu dùng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật bảo vệ quyền lợi NTD
Đạo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Ấn Độ ngày 24/12/1986
[162] quy định Người tiêu dùng: “là bất kỳ người nào mua bất kỳ loại hàng hóa
nào hoặc thuê hay sử dụng bất kỳ dịch vụ nào bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởng lợi từ dịch vụ khác với người mua hàng hóa hoặc thuê
sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà có được hàng hóa hoặc sử dụng dịch
vụ như vậy để bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích thương mại nào”.
Ngoài ra, khái niệm NTD của Ấn Độ còn quy định rõ trong trường hợp mua hàng hay thuê sử dụng dịch vụ nói trên đã thanh toán, hứa trả, hoặc trả một phần và hứa trả một phần, hoặc dưới bất kỳ phương thức thanh toán trả chậm nào thì người
đó đã được coi là NTD Từ quy định này có thể thấy luật chỉ rõ việc một người được coi là NTD ngay cả khi họ chưa thanh toán hoặc thanh toán một phần hàng hóa dịch vụ và điều này không giải phóng các trách nhiệm của nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ đối với NTD theo các quy định tại Luật bảo vệ Người tiêu dùng
Luật bảo vệ NTD của Liên Xô (cũ) định nghĩa NTD là “công dân sử dụng,
Trang 37mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”.
Luật tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân” [93]
NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử dụng sản phẩm phục vụ mục đích cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh doanh [158, tr.311] NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích cuối cùng là tiêu dùng hoặc sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình [159, tr.3]
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Quebec- Canada quy định: người tiêu dùng là những cá nhân sử dụng hàng hóa dịch vụ mà không phải là thương nhân sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì mục đích kinh doanh Tuy nhiên việc “sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ” không phân biệt rõ là phát sinh trực tiếp từ hợp đồng mua hàng hóa dịch vụ hay là thụ hưởng các hàng hóa dịch vụ đó từ người khác
Khái niệm Người tiêu dùng theo quy định của Luật bảo vệ Người tiêu dùng Đài Loan là những ai tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng Như vậy chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu là bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là để tiêu dùng Về căn cứ xác lập giao dịch, từ phân tích quy định này có thể hiểu rằng Người tiêu dùng bao gồm cả người tham gia vào các giao dịch và những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ người khác như thụ hưởng, nhận tặng cho,…
Luật bảo vệ NTD của Thái Lan năm 1979 định nghĩa: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”
Khái niệm Người tiêu dùng theo Luật bảo vệ Người tiêu dùng của Malaysia tương đối chi tiết về mục đích sử dụng nhưng chỉ nói tới khái niệm người (person) mà không dùng từ cụ thể là thể nhân hay cá nhân như các nước nói trên Việc quy định thiếu rõ ràng như vậy có khả năng dẫn tới hai cách hiểu khác nhau, một là chỉ bao gồm
cá nhân và hai là bao gồm cả thể nhân và pháp nhân Về cơ sở xác lập giao dịch, theo quy định nói trên của luật thì Người tiêu dùng không chỉ là người trực tiếp mua sản
Trang 38phẩm hay thuê dịch vụ mà bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa dịch vụ không phụ thuộc vào hợp đồng giữa họ với nhà cung cấp.
Về mục đích của việc sử dụng hàng hóa của Người tiêu dùng, tương tự như pháp luật của các nước trên, Luật bảo vệ Người tiêu dùng Malaysia quy định Người tiêu dùng là người không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc dùng hàng hóa dịch
vụ vào mục đích cung cấp lại vì mục đích thương mại; tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất; hoặc trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý, các hàng hóa và tài sản gắn liền với đất khác Về mục đích tiêu dùng vào quá trình sản xuất, đây là một loại trừ tương đối rộng vì nó bao gồm cả hàng hóa được sử dụng làm đầu vào của quá trình sản xuất và có thể là sản phẩm phụ trợ cho quá trình sản xuất
Luật bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc định nghĩa: NTD có nghĩa là những
ai sử dụng hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp cho mục đích sử dụng hàng ngày hoặc sản xuất, theo quy định trong Nghị định của Tổng thống Như vậy, về chủ thể, khái niệm NTD Hàn Quốc sử dụng thuật ngữ “là những ai” cho nên khái niệm này có thể dẫn đến cách hiểu NTD là cá nhân và/hoặc cả pháp nhân Quan hệ tiêu dùng giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh, hàng hóa dịch vụ phát sinh từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp mà không chỉ rõ là phát sinh trực tiếp từ hợp đồng hay bao gồm cả những người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đó không từ hợp đồng Về mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ, bao gồm cho sử dụng hàng ngày (daily use) và cả sản xuất, tuy nhiên, Nghị định của Tổng thống sẽ quy định cụ thể vấn đề này
Khái niệm Người tiêu dùng, theo Chỉ thị của Châu Âu, được xác định dựa vào các tiêu chí sau: (i) là bất kỳ cá nhân nào: theo tiêu chí này người tiêu dùng được xác định là một cá nhân, một con người bất kỳ nào; (ii) mua hàng theo hợp đồng: Đây là tiêu chí xác định cơ sở phát sinh quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các bên; (iii) mục tiêu
sử dụng không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp Như vậy NTD không bao gồm pháp nhân và không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh
Tóm lại, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng các nước có quan điểm không giống nhau về NTD, tuy nhiên đa số các quốc gia giới hạn người tiêu dùng là các cá
Trang 39nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp và cơ sở xác lập quan hệ tiêu dùng thông qua quan hệ mua bán hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ
2.1.1.2 Điều kiện là người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam
Người tiêu dùng là khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam và trong cả khoa học pháp lý, sự tồn tại của khái niệm này chỉ thật sự được quan tâm và biết tới khi nền kinh tế thị trường hình thành và phát triển Cũng giống như pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các nước, một trong những khái niệm cơ bản và quan trọng nhất là NTD Xác định khái niệm NTD để xác định đối tượng trọng tâm được bảo vệ của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD ngày 27/4/1999
thì "NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh
hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức"
Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, tuy
nhiên, nội hàm khái niệm NTD vẫn không thay đổi “Người tiêu dùng là người mua,
sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,
mà không sử dụng vào mục đích tiêu dùng cho sản xuất hoặc kinh doanh Có thể thấy, quan niệm NTD theo pháp luật Việt Nam cũng khá tương đồng so với thông lệ quốc tế ngoại trừ chủ thể có thể trở thành NTD bao gồm cả tổ chức [85, tr.11]
2.1.1.3 Tiêu chí trở thành người tiêu dùng
Trang 40Như đã phân tích ở trên, khi xác định một chủ thể bất kỳ có thể xem là NTD
và được bảo vệ bởi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD phải đồng thời thỏa mãn các yếu tố sau:
- Về chủ thể:
Hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của một số ít quốc gia, trong đó có Việt Nam quy định NTD là cá nhân, gia đình, và cả tổ chức Điều này liệu có hợp lý không khi lý do, mục đích ra đời của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là nhằm xác lập nguyên tắc công bằng trong giao dịch, sử dụng hàng hóa dịch vụ giữa bên yếu thế và các doanh nghiệp Và cũng khó có thể cho rằng tổ chức cũng là bên yếu thế, kém hiểu biết, thiếu thông tin, không có khả năng tài chính nên cần được bảo vệ và hưởng những “đặc quyền” như mỗi cá nhân đơn lẻ Rõ ràng, tổ chức là một tập hợp người có bộ máy, cơ cấu chặc chẽ, có sự hiểu biết trong nhiều lĩnh vực nhất định, khả năng tiếp cận, xử lý thông tin kể cả tiềm lực kinh tế tốt hơn nhiều so với cá nhân đơn lẻ Chính vì vậy không lý do gì, tổ chức lại có thể trở thành người tiêu dùng yếu thế cần được bảo vệ một cách đặc biệt bởi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong mối quan hệ với tổ chức sản xuất, kinh doanh khác Như vậy, pháp luật
đã tạo điều kiện cho kẻ “không yếu” giành lợi thế bất chính với bên kia dưới danh nghĩa NTD Hơn nữa, điều này làm mất ý nghĩa cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ NTD, can thiệp quá sâu và không cần thiết vào các quan hệ dân
sự Ngoài ra, tham chiếu quy định của Hội đồng Châu Âu theo chỉ thị 93/13/EEC
năm 1993 tại Điều 2 thì “người tiêu dùng được xác định là con người tự nhiên”
Quy định này được các thành viên EU kế thừa và tiếp tục ghi nhận trong luật bảo vệ quyền lợi NTD của mình
Xuất phát từ đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là thiết lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc dân luật truyền thống nhằm khắc phục những bất lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo sự công bằng và bảo vệ kẻ yếu Chính vì vậy, chủ thể trở thành NTD phải là kẻ yếu, là con người tự nhiên
- Về mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ góp phần quyết định một chủ thể trở thành NTD Hầu hết pháp luật bảo vệ NTD các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích thương mại hoặc nghề