1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an

178 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 8,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012 cho rằng các trường ĐH cần được Nhà nước giao vốn và bảo toàn phát triển vốn, được quyết định việc sử dụng tài sản, huy động vốn, góp vốn liên doanh, liên

Trang 1

- -

NGUYỄN XUÂN HIỆP

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

- -

NGUYỄN XUÂN HIỆP

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

Mã số : 62.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS VŨ NHỮ THĂNG

2 PGS, TS DƯƠNG ĐĂNG CHINH

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận án “Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành Công an” là

công trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn thành Những kết quả trình bày trong Luận án chưa công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong Luận án này đều nêu rõ xuất xứ, tác giả và được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Xuân Hiệp

Trang 4

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI

CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 18

1.2.1 Khái niệm chính sách và chính sách tài chính đối với cơ sở giáo

1.3 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI MỘT SỐ CƠ SỞ GIÁO DỤC

ĐẠI HỌC NGÀNH AN NINH, CẢNH SÁT TRÊN THẾ GIỚI VÀ

1.3.1 Chính sách tài chính đối với một số cơ sở giáo dục đại học

1.3.2 Bài học kinh nghiệp về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ

SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN VIỆT NAM 67

2.1 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

2.1.2 Quy mô và ngành nghề đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học

2.2 THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ

2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG AN 118

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NGÀNH

3.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH

SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

3.2.1 Một số quan điểm hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở

3.2.2 Một số định hướng nhằm hoàn thiện chính sách tài chính đối với

Trang 6

3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI

3.3.1 Giải pháp tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục

3.3.2 Nhóm giải pháp về khai thác, huy động nguồn tài chính cho các

3.3.3 Nhóm giải pháp về chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài

3.4 CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN THÀNH CÔNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 1.2: Chi NSNN cho GDĐH bình quân một SV so với GDP-đn của

Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả huy động các nguồn tài chính của các CSGDĐH

Bảng 2.10: Cơ cấu các nội dung chi kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH

Bảng 3.1: Định hướng quy mô học viên và phát triển mở rộng của các

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

Hình 2.3: Cơ cấu các nguồn kinh phí thuộc NSNN của các CSGDĐH ngành

Hình 2.4: Tương quan giữa tốc độ tăng NSNN cấp cho các CSGDĐH với

tốc độ tăng ngân sách chi an ninh, SV ĐH hệ chính quy ngành

Hình 2.7: Các hình thức cấp phát kinh phí thường xuyên cho các CSGDĐH

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến sự phát triển KTXH Trong thời đại toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng của KHCN, nhất là công nghệ thông tin như hiện nay, thì GD nói chung và GDĐH nói riêng được coi là tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển GD một cách đúng đắn, thích hợp với đặc điểm văn hóa, trình độ KTXH và nhu cầu của thị trường sức lao động, hội nhập thành công vào quá trình toàn cầu hóa được coi là ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách công của tất cả các nước Khẳng định vai trò to lớn của GD đối với

sự phát triển KTXH của đất nước, Nghị quyết TW 4 khóa VII và Nghị quyết TW2 khóa VIII, Nghị quyết TW6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam đã khẳng định: cùng với KHCN, GD là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho

GD là đầu tư chiều sâu, đầu tư cho sự phát triển bền vững của cá nhân và đất nước

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương 8 khóa XI

về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT một lần nữa khẳng định quan điểm chỉ đạo:

“GDĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho GD là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KTXH”

Để thực hiện mục tiêu phát triển GD thì yếu tố đầu tiên không thể thiếu là cần

có nguồn lực tài chính đảm bảo Tuy nhiên, không phải cứ chi nhiều tiền thì sẽ có nền

GD chất lượng tốt, mà vấn đề quan trọng đặt ra cho tất cả các quốc gia là trong phạm

vi giới hạn khả năng các nguồn lực tài chính hiện có, làm thế nào để nâng cao hiệu quả khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính trong XH cho

GD, qua đó thúc đẩy GD phát triển

Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định, thì toàn XH cần phải quan tâm tới việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở trình độ cao đẳng, ĐH và sau ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển của đất nước Nước ta hiện vẫn

là nước nghèo, các nguồn lực dành cho phát triển KTXH nói chung, GDĐH nói riêng còn rất hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp

Trang 11

hóa, hiện đại hóa là rất lớn Trong những năm qua, mặc dù NSNN còn khó khăn, song Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc đầu tư cho GDĐT và tỷ trọng chi NSNN cho GD đạt đến 20% tổng chi NSNN Tuy nhiên, dù quy mô đào tạo tăng nhanh, đặc biệt là GDĐH, nhưng chất lượng đào tạo còn chưa đáp ứng được yêu cầu của XH, còn nhiều yếu kém, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn tài chính Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực này Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo tại các CSGDĐH ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu

Để nâng cao chất lượng đào tạo ĐH và phát triển toàn diện GDĐH đòi hỏi phải thực hiện có kết quả chương trình cải cách GDĐH Đến lượt nó, cải cách GDĐH đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính lớn và có chính sách tài chính đúng đắn đối với lĩnh vực GDĐH Điều đó đặt ra vấn đề cấp thiết là làm thế nào để có chính sách tài chính thích hợp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài chính hạn hẹp cho phát triển GDĐH nước ta GDĐH ngành Công an với mục tiêu đào tạo nguồn lực cán bộ có trình độ cao đẳng, ĐH và sau ĐH cho công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự XH của đất nước cũng không nằm ngoài thực trạng đó của nền GDĐH nước nhà Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách tài chính đối với các CSGDĐH nói chung và các CSGDĐH ngành Công an nói riêng đang là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết đối với các nhà nghiên cứu, đồng thời mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất to lớn Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu

“Hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành Công an”

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chính sách tài chính đối với CSGDĐH nói chung đã được giới nghiên cứu và các nhà quản lý rất quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Dưới các góc độ khác nhau, những công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả Nhìn chung có thể phân chia các kết quả nghiên cứu liên quan đến chính sách tài chính đối với các CSGDĐH theo các nội dung chính như sau:

2.1 Những vấn đề mang tính tổng thể về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học

- Về phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các CSGDĐH:

+ Dưới góc nhìn tổng quát chung về HH công cộng nói chung, Joseph E Stiglitz

(1995) (trong cuốn Kinh tế học công cộng, phần II với tiêu đề lý thuyết về chi tiêu

Trang 12

công cộng) đã bàn về các vấn đề lý thuyết chung về HH công cộng và HH công cộng

do tư nhân sản xuất, cung cấp; sản xuất công cộng và bộ máy hành chính; phương thức hợp đồng sản xuất, cung cấp HH, DV công cộng giữa Nhà nước và tư nhân Đây

là những vấn đề lý luận cơ bản, làm nền tảng cho việc nghiên cứu, phát triển lý luận

về chính sách tài chính cho CSGDĐH nói chung và quyền tự chủ của các CSGDĐH nói riêng

+ Dưới góc nhìn đi sâu vào bản chất thực sự của quyền tự chủ, World Bank (2012) cho rằng bản chất của tự chủ là việc Chính phủ ngày càng rút bớt vai trò trong quản lý thường nhật, cho phép các trường ĐH được tự quyết định con đường đi của mình, tự do quyết định về cơ chế quản lý, quản trị nội bộ, với những cơ chế khuyến khích định hướng thị trường tối ưu hiện có Đồng ý với quan điểm này và đi sâu phân tích thêm dưới góc độ về quản lý tài chính, PGS.TS Phùng Xuân Nhạ và cộng sự

(2013) trong bài tham luận Đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục đại học

tiên tiến, tự chủ (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học,

Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính tổ chức, tháng 11 năm 2012) cho rằng việc Nhà nước giảm cấp kinh phí thường xuyên để các trường

ĐH tự cân đối như hiện nay tại Việt Nam là giao quyền tự chủ tài chính là chưa hoàn toàn đúng với bản chất của vấn đề Đồng thời, các tác giả cho rằng ở trạng thái tự chủ hoàn toàn về lý thuyết, các trường sẽ được tự chủ tất cả các yếu tố tác động tới nguồn thu và việc chi tiêu nguồn tài chính

+ Dưới góc nhìn có tính đột phá mạnh mẽ trong tư duy, GS.TS Nguyễn Đình

Phan (2012) trong bài báo Nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hóa - hiện đại hóa (Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 128, tháng 8 năm

2012) cho rằng trong cơ chế thị trường, GDĐH là một DV đặc biệt và CSGDĐH cần được coi như một công ty - “một thực thể được thành lập theo luật pháp và hoạt động

vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, do Chính phủ hay tư nhân sở hữu hoặc kiểm soát” Cùng chung góc nhìn này và có những phân tích cụ thể hơn, Phạm Chí Thanh

(2011) (“Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam”,

Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân), TS Nguyễn Trường Giang

(2013) trong bài tham luận Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào

tạo ĐH, thực hiện mục tiêu công bằng hiệu quả (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP,

Trang 13

Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các trường ĐH cần được Nhà nước giao vốn và bảo toàn phát triển vốn, được quyết định việc sử dụng tài sản, huy động vốn, góp vốn liên doanh, liên kết; TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) trong bài

tham luận Cơ chế phân bổ ngân sách cho đại học công lập: hiện trạng và khuyến nghị (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính

- Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng các trường cần được cho phép sở hữu và tự quyết về việc sử dụng tài sản và đi vay; Lê

Phước Minh (2005) (Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam,

Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng) đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận

về các chiến lược tăng thu nhập, giảm chi phí và tính toán CPĐV, tỷ lệ thu hồi trong

đầu tư trong GDĐH tương tự như một doanh nghiệp; Bùi Tiến Hanh (2007) (Hoàn

thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam, Luận án

Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề nghị thí điểm cơ chế cổ phẩn hóa nhằm chuyển các CSGD công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp

+ Dưới góc nhìn có tính thực tế hơn đối với GDĐH nước ta hiện nay, TS Lê

Xuân Trường (2012) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp

giáo dục đại học và cao đẳng công lập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính,

Học viện Tài chính) cho rằng quyền tự chủ ở mức độ cần phải vừa đảm bảo sự quản

lý của Nhà nước vừa phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo, cụ thể: thủ trưởng các CSGDĐH được quyết định về số lượng, cơ cấu và nhân sự các đơn vị trực thuộc; biên chế và tuyển dụng cán bộ, GV; được phân cấp bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn

vị thuộc và trực thuộc; quyết định cử người tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế; quyết định mức học phí trên cơ sở nguyên tắc bù đắp chi phí và tuân thủ mức trần học phí quy định Đồng thời, tác giả cũng cho rằng để xử lý vấn đề mức độ phân cấp, tự chủ hợp lý và hạn chế khả năng lạm quyền, cần phải thực hiện 04 biện pháp Biện

pháp thứ nhất là phân loại lợp lý các đơn vị này, ngoài việc phân loại theo 3 nhóm

(NSNN tài trợ 100%; NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và một phần kinh phí thường xuyên; NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và không tài trợ kinh phí thường xuyên), còn phải phân theo theo lĩnh vực khoa học và ngành nghề đào tạo; theo đối tượng sử dụng nguồn nhân lực (lĩnh vực khoa học cơ bản, sư phạm; các trường thuộc Bộ Quốc phòng và

Bộ Công an, nên xếp vào nhóm không tự chủ tài chính, tức là 100% kinh phí NSNN

Trang 14

cấp) Biện pháp thứ hai là xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực phù hợp Biện pháp thứ ba là tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và kiểm soát của các cơ quan chức năng nhà nước Biện pháp thứ tư là tăng cường thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tuy nhiên, việc quan niệm không tự chủ đồng nghĩa với việc 100% kinh phí NSNN cấp của TS Lê Xuân Trường (2012) chưa phản ánh đúng với bản chất của tự chủ

+ Bằng việc tổ chức một cuộc điều tra thăm dò ý kiến, Lương Văn Hải (2011)

(Vai trò Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học công lập Việt

Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân) đưa ra kết luận:

quyền tự chủ về quyết định mức lương là thấp nhất với 34% ý kiến cho rằng các trường không có quyền này; quyền tự chủ về quyết định mức thu học phí là rất thấp với 18% ý kiến cho rằng các trường không có quyền và quyền tự chủ về mức thu từ hoạt động DV

là khá cao với 46% ý kiến cho rằng các trường đã có đầy đủ quyền hạn

- Về phương thức quản lý nguồn tài chính từ NSNN cấp cho các CSGDĐH:

+ Về phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, TS Nguyễn Trường Giang (2013) cho rằng cần thực hiện quản lý NSNN theo đầu ra gắn với hệ thống định mức kinh tế

kỹ thuật, các kết quả đánh giá, kiểm định độc lập về chất lượng đào tạo Đồng thời, thực hiện chính sách Nhà nước đặt hàng đối với những ngành đào tạo cho nhu cầu sử dụng của Nhà nước và người học phải cam kết chấp nhận sự phân công của Nhà nước Đồng ý với quan điểm này, TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo

(2013) trong bài tham luận Đổi mới chính sách tài chính đối với các cơ sở đại học

công lập gắn với tăng trưởng bền vững (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài

chính, tháng 11 năm 2012) đi vào phân tích cụ thể hơn các tiêu chí làm căn cứ phân

bổ NSNN cho các CSGDĐH theo đầu ra, gắn với các mục tiêu công bằng, hiệu quả, nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo Đồng thời, kiến nghị Nhà nước cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đầu ra, tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo,

+ Về lộ trình thực hiện phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, Bùi Tiến Hanh

(2007) (Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở

Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đề xuất áp dụng khuôn khổ

chi tiêu trung hạn, theo đó cần dự toán đầy đủ mọi nguồn tài chính sẵn có (NSNN và

Trang 15

ngoài NSNN) cho phát triển GD từng năm và trung hạn 03 năm theo kiểu cuốn chiếu

TS Trịnh Đình Dũng (2013) trong bài tham luận Một số vấn đề nổi lên qua nghiên

cứu bước đầu về chi tiêu NSNN cho GDĐH ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội,

UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) đưa ra đề xuất muộn nhất là giữa kế hoạch

5 năm (2016 - 2020) chuyển sang quản lý NSNN cho GDĐH theo đầu ra và khuôn khổ chi tiêu trung hạn (3 - 4 năm theo cách cuốn chiếu)

+ Dưới góc nhìn thiên về các điều kiện, biện pháp cụ thể nhằm áp dụng phương thức quản lý NSNN theo đầu ra, TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) cho rằng để chuyển sang thực hiện phương thức quản lý NSNN theo đầu ra cần xây dựng những yêu cầu về kết quả đào tạo, xây dựng hệ thống kế toán và hệ thống lưu trữ hồ

sơ SV để ước lượng thống nhất về CPĐV hàng năm và yêu cầu các trường ĐH phải

áp dụng hệ thống kế toán này cũng như báo cáo dự toán CPĐV hàng năm Để phát huy hiệu quả và đảm bảo công bằng, TS Lê Xuân Trường (2012) cho rằng trước mắt định mức phân bổ NSNN cần xây dựng sao cho đảm bảo đủ chi phí tiền lương và các chi phí hoạt động thường xuyên khác, ưu tiên khối kỹ thuật, nông, lâm, y, dược; về lâu dài cần áp dụng phương thức quản lý NSNN theo kết quả đầu ra Theo đó, các trường phải trình lên Bộ GDĐT và chính quyền chiến lược phát triển với những mục tiêu cụ thể và kế hoạch để đạt được mục tiêu; các cơ quan quản lý chỉ kiểm soát chặt chẽ kế hoạch và kết quả cuối cùng Như vậy, thay vì quản lý các khoản chi tiêu theo khoản mục đầu vào, cơ quan quản lý nhà nước sẽ kiểm soát kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ được giao làm cơ sở quyết toán NSNN và giao NSNN giai đoạn sau Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các điều kiện áp dụng phương thức này gồm: (i) các trường phải có cơ chế kiểm soát đủ mạnh (kiểm soát nội bộ, từ bên trong, theo đầu ra, kết quả, kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ thay bằng kiểm toán nội bộ

và kiểm toán hoạt động; có quy chế chi tiêu nội bộ có hiệu lực); (ii) có cơ chế ràng buộc trách nhiệm chặt chẽ trong sử dụng NSNN; (iii) xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động và kết quả đầu ra (thông qua tổ chức kiểm định, khảo thí chất lượng; kiểm soát nội bộ; người học; tổ chức độc lập) Trong giai đoạn đầu trước khi phương thức này được áp dụng triệt để, nên kết hợp cách phân bổ theo đầu vào hiện nay (số lượng SV tuyển sinh, số lượng giáo viên) và một phần dựa trên đầu ra, kết quả (số lượng, chất lượng SV tốt nghiệp, sự phù hợp của việc đào tạo với nhu cầu XH, )

Trang 16

+ Dưới góc nhìn khác có tính tổng hợp hơn, Phạm Chí Thanh (2011) đi vào so sánh, đánh giá về quản lý chi NSNN theo phương thức đầu vào và đầu ra dựa trên 05 tiêu chức (cơ sở lập dự toán, quản lý dự toán chi, kiểm soát chi, đánh giá kết quả chi, quyền của đơn vị) và đi đến kết luận là phương thức quản lý theo đầu ra và kết quả cuối cùng giúp tăng cường hiệu quả, hiệu lực chi NSNN; đặc biệt các tác động của các đầu ra, kết quả cuối cùng đối với phát triển KTXH được phân tích, đánh giá và dự báo ngay từ khi các khoản chi NSNN chưa được thực hiện (trong quá trình xây dựng dự toán NSNN)

- Về hiệu quả đầu tư cho GDĐH:

+ Đặng Văn Du (2004) (Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho

đào tạo đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính) đã đề xuất

các giải pháp nâng cao hiệu quả theo 02 nhóm gồm: thứ nhất, hiệu quả trong, đó là

việc trả lương cho GV theo số lượng và chất lượng lao động, hạ tỷ lệ SV/GV, đầu tư

cơ sở hạ tầng, giáo trình tài liệu, ; thứ hai, hiệu quả ngoài, đó là từng bước thực hiện

công bằng trong GDĐH, trong đó mức học phí/1SV/năm = Tổng chi thường xuyên năm/số SV bình quân năm; phân bổ kinh phí thường xuyên từ NSNN cho trường ĐH phải được coi là khoản kinh phí để thực hiện đơn đặt hàng và thực hiện cơ chế đấu thầu; gắn kết giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

+ Dưới góc nhìn thiên về chính sách, TS Phạm Vũ Thắng (2013) trong bài Kết

quả nghiên cứu xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học Việt Nam và khuyến nghị về chính sách tài chính GDĐH Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP,

Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cũng cho rằng các yếu tố chất lượng (tỷ lệ GV/SV, diện tích sàn/SV) có ảnh hưởng cùng chiều đến CPĐV trong GDĐH và khi thay đổi chính sách hoặc thực thi chính sách theo hướng nâng cao chất lượng GDĐH cần có chính sách tài chính mới nhằm tăng nguồn lực tài chính cho GDĐH

+ Dưới góc nhìn tổng quát hơn, TS Lê Xuân Trường (2012) đã xây dựng được các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư chung cho GDĐH (tỷ lệ SV có việc làm trong một khoảng thời gian nhất định sau khi tốt nghiệp; số lượng, tỷ lệ SV tốt nghiệp các hạng; tỷ lệ SV tham gia các hoạt động khoa học; số lượng và tỷ lệ các công trình NCKH SV đoạt giải; số lượng và tỷ lệ SV đoạt giải các cuộc thi olympic các môn học trên tổng SV; số lượng các phát minh, sáng chế của cán bộ, giáo viên được công nhận bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức quốc tế; số lượng các trích dẫn khoa học

Trang 17

được sử dụng trong nghiên cứu; số lượng các ấn phẩm khoa học được công bố; số lượt các nhà khoa học của trường ĐH được mời tham dự các hội thảo khoa học quốc

tế hoặc mời giảng tại các trường ĐH trên thế giới) Đồng thời, tác giả còn đề xuất các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính áp dụng riêng đối với 03 nhóm trường ĐH,

cụ thể: các tiêu chí đánh giá gắn với mục tiêu cụ thể của từng nguồn (áp dụng đối với nhóm 1 - NSNN tài trợ 100%); tỷ lệ thu nhập còn lại sau thuế và bù đắp chi phí; số thu nhập bình quân tăng thêm của người lao động có được từ hoạt động cung cấp DV (áp dụng với nhóm 1 và nhóm 2 - NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và một phần kinh phí thường xuyên); các chỉ tiêu liên quan đến trích lập các quỹ và thu nhập tăng thêm (áp dụng đối với nhóm 3 - NSNN tài trợ kinh phí xây dựng ban đầu, kinh phí đầu tư phát triển và không tài trợ kinh phí thường xuyên)

2.2 Về chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học

- Về việc phân bổ NSNN cho GDĐH:

+ Lê Phước Minh (2005) đã hệ thống hóa về lý luận và đưa ra các mô hình lý thuyết, các cách thức kết hợp trong thực tế các mô hình lý thuyết này để hình thành nên các phương thức phân bổ, cấp phát NSNN cho GDĐH tại các nước Đồng thời,

đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH nước ta như cải tiến công thức phân bổ NSNN nhằm tăng hiệu quả đầu tư NSNN cho GDĐH

+ Trên góc độ quản lý vĩ mô, Bùi Tiến Hanh (2007) đề xuất ưu tiên đầu tư

ĐH trọng điểm quốc gia Dưới góc nhìn nhấn mạnh đến quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng NSNN của các CSGDĐH, Arthur M.Hauptman (2010)

trong bài Tài chính cho giáo dục đại học: Xu hướng và Vấn đề (Website:

http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=316) cho rằng yếu tố trọng tâm trong trách nhiệm giải trình

là cần chuyển sang áp dụng phương thức “cung cấp tài chính theo hoạt động” và

“chiến lược dựa vào thị trường”

- Về cải tiến cơ cấu nguồn tài chính:

+ Với mục tiêu nâng cao hiệu quả các nguồn tài chính từ NSNN, TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo (2013) cho rằng cần đổi mới cơ cấu chi NSNN cho GDĐH trên cơ sở tăng chi đầu tư XDCB, giảm dần chi cho bộ máy và hoạt động thường xuyên

Trang 18

+ Dưới góc nhìn rộng hơn, Phạm Chí Thanh (2011) cho rằng cần phải từng bước chuyển đổi sang cơ chế hạch toán đủ chi phí đào tạo, người học phải đóng đủ chi phí; Nhà nước không cấp kinh phí thường xuyên, trước mắt tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; khi có điều kiện phù hợp tiến tới việc Nhà nước không cấp kinh phí trực tiếp cho các trường

- Về việc thu học phí GDĐH:

+ Dựa trên quan điểm coi học phí là nguồn thu của NSNN và là khoản tiền bù đắp sự thiếu hụt mà NSNN không đủ trang trải cho nhà trường, Trần Xuân Hải

(1999) (Giải pháp tạo vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo trong giai đoạn hiện

nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Tài chính - Kế toán) đề

xuất tăng cường thu hồi chi phí cá nhân đối với GDĐH (tức là tăng học phí), Bùi Tiến Hanh (2007) đề nghị tăng tỷ lệ thu hồi chi phí thông qua chính sách học phí (mức học phí cần dựa trên chi phí cần thiết để bảo đảm hoạt động GD đạt mức chuẩn chất lượng cần thiết và phù hợp với khả năng đóng góp của người học)

+ Tuy nhiên, dưới góc nhìn mới (coi học phí là giả cả của DV GDĐH), TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo (2013), Phạm Chí Thanh (2011), TS Lê Xuân Trường (2012), đề nghị chuyển đổi chính sách học phí hiện nay sang thực hiện chính sách giá DV dạy học Phân tích sâu hơn về quan điểm này, PSG.TS Nguyễn Ngọc Vũ

(2013) trong bài tham luận Thực trạng tình hình thí điểm tự chủ tài chính ở các

CSGDĐH - Một số vấn đề đặt ra (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính,

tháng 11 năm 2012) cho rằng đối với các ngành có khả năng XH hóa cao, các trường được tự xây dựng mức thu học phí trên cơ sở từng bước tính toán đầy đủ chi phí đào tạo, tiến tới nguyên tắc lấy thu đủ bù đắp chi phí đào tạo; GS.TS Trần Thọ Đạt (2013)

trong bài tham luận Một số nội dung cơ bản đề xuất đổi mới cơ chế hoạt động theo

hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Kỷ yếu Hội

thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách

của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng cần giao cho các trường được chủ động quyết định các mức học phí theo nguyên tắc đủ bù đắp chi phí thường xuyên, sau đó tiến tới bù đắp cả các chi phí khác trong hoạt động phát triển của

trường; PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt (2013) trong bài tham luận Đánh giá tình hình

thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

(Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính

- Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng mức học phí cần xác định dựa trên chất lượng của các trường, tránh cào bằng như hiện nay

và được điều chỉnh theo những biến động của nền kinh tế; mức học phí được tính toán dựa trên chi phí đầu vào và quyết định mức thu học phí đủ để bù đắp chi phí hoạt động thường xuyên và có tích lũy; TS Vũ Nhữ Thăng và Ths Hoàng Thị Minh Hảo (2013) cho rằng học phí cần tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo, bước đầu tính đủ chi phí tiền lương, chi phí hoạt động thường xuyên trên cơ sở khung giá Nhà nước quy định, tiến tới bao hàm cả chi phí khấu hao và việc xây dựng theo hướng thị trường; TS Phạm Vũ Thắng (2013) cho rằng quy định về mức học phí không nên cứng mà nên linh hoạt, có thể theo mức lương cơ bản (là hệ số trong công thức học phí)

+ Cũng với quan điểm coi học phí là giá cả của DV GDĐT và chính sách học phí cần tiến gần hơn với các nguyên tắc thị trường, TS Lê Xuân Trường (2012) cho rằng cần trao cho các trường quyền định mức học phí và mức học phí có sự khác biệt giữa các trường do phụ thuộc vào nhu cầu của XH và chất lượng đào tạo; trong điều kiện trước mắt do những hạn chế về công tác quản lý và thị trường lao động, cần có giới hạn trần học phí, song phải nghiên cứu kỹ để trần học phí đảm bảo cho các trường thu hồi được chi phí bỏ ra, đảm bảo đời sống người lao động, cán bộ, giáo viên, các chi phí trang thiết bị, cơ sở vật chất; về lâu dài, khi công tác quản lý nhà nước tốt và thị trường lao động lành mạnh, thì học phí ĐH không giới hạn trần + Với cách tiếp cận coi học phí như là thu nhập của doanh nghiệp, Phạm Chí Thanh (2011) cho rằng học phí phải bù đắp đủ các chi phí hoạt động của trường (như tiền lương giáo viên, chi phí quản lý, vật tư tiêu hao, chi phí khấu hao) theo 02 giai đoạn: (i) đủ bù đắp các khoản chi phí thường xuyên (chưa tính khấu hao tài sản); (ii)

đủ bù đắp toàn bộ chi phí dạy học (bao gồm cả chi phí khấu hao)

+ Mặc dù đồng ý về việc chuyển sang cơ chế giá DV GDĐH, song PGS.TS

Phạm Ngọc Dũng, Ths Chử Thị Hải (2012) trong bài Đổi mới cơ chế tài chính đối với

các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay (Tạp chí Nghiên cứu Tài

chính kế toán số 09(110) - 2012) cho rằng Nhà nước cần quy định khung giá theo từng cấp học, bậc học, ngành học; đối với hoạt động đào tạo theo nhu cầu và đặt hàng của XH, được thu mức học phí tăng thêm tương ứng với phần giá trị DV gia tăng so với tiêu chuẩn quy định

Trang 20

- Về việc XH hóa các nguồn lực cho GDĐH:

+ Trần Xuân Hải (1999) cho rằng cần huy động nguồn vốn từ nội bộ CSĐT thông qua các hợp đồng cung cấp DV GDĐT, NCKH, khuyến khích sự đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân,

+ TS Lê Xuân Trường (2012) tổng kết được thành hai phương thức thực hiện

XH hóa các nguồn lực cho GDĐH, cụ thể: thứ nhất, liên kết giữa trường với các

doanh nghiệp, tổ chức (người sử dụng lao động) thông qua hỗ trợ học bổng, kinh phí đào tạo và đặt ra yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của SV để trường có định hướng đào tạo phù hợp và lựa chọn những SV giỏi, trao đổi các cán bộ tham gia một số nội dung

giảng dạy; thứ hai, huy động từ đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường thông qua góp

vốn cổ phần

+ GS.TS Hoàng Văn Châu (2013) trong bài tham luận Tự đảm bảo kinh phí

trường ĐH ngoại thương và đề xuất cơ chế tài chính (Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội,

UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012) cho rằng đối với các chương trình đào tạo, cung cấp DV theo nhu cầu XH, các mức thu và khoản thu được xây dựng dựa trên cơ

sở thỏa thuận, đảm bảo cân đối các khoản chi và có tích lũy

2.3 Về chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học

- Về việc phân phối, sử dụng nguồn tài chính đối với các CSGDĐH thực hiện

chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm hiện nay ở nước ta: Bùi Tiến Hanh (2007) đề nghị

bỏ quy định giới hạn trần về tổng thu nhập hàng năm trả cho người lao động trong các CSGD công lập thực hiện cơ chế tự chủ; cụ thể hóa quy định về trách nhiệm của CSGD công lập trong việc tự bảo đảm nguồn thực hiện điều chỉnh chế độ tiền lương theo quy định của Chính phủ, quyết định mức chi quản lý và hoạt động nghiệp vụ

- Về CPĐV trong GDĐH: dựa trên các tính toán của các chuyên gia WB về mối tương quan giữa CPĐV và GDP-đn, GS Phạm Phụ (2012) trong bài Đổi mới căn bản

về tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam (Http://www.vncold.vn) đã vận dụng vào

tính toán CPĐV hợp lý của GDĐH nước ta vào năm 2011 khoảng 1.200 USD và so sánh với CPĐV thực tế năm 2010 là 550 USD (bao gồm kinh phí từ NSNN phân bổ và tiền đóng góp từ học phí) để đưa ra kết luận CPĐV của GDĐH Việt Nam hiện quá thấp, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách tài chính cho GDĐH nước ta

Trang 21

trong những năm tới theo hướng: tăng học phí lên khoảng 3,5 lần hiện nay (khoảng 750

- 800 USD/năm), kết hợp với phát triển chương trình cho SV vay vốn và dành tỷ lệ thích hợp nguồn vốn vay quốc tế cho chương trình này, chuyển từ phương thức cấp phát NSNN cho SV thông qua CSGDĐH sang cấp trực tiếp cho SV thông qua “Phiếu trợ cấp GD” TS Phạm Vũ Thắng (2013) đã tính toán và khẳng định CPĐV thực tế GDĐH Việt Nam rất thấp so với mặt bằng quốc tế và CPĐV hợp lý (giá năm 2010) được ước lượng theo 3 kịch bản thấp, trung bình, cao theo 08 nhóm ngành, trong đó: (i) nhóm ngành cao nhất (Y dược) là 18,09 triệu đồng, 31,10 triệu đồng, 47,35 triệu đồng; (ii) nhóm ngành thấp nhất (Kinh tế và Luật) là 7,80 triệu đồng, 13,41 triệu đồng, 20,42 triệu đồng; (ii) trung bình là 11,6 triệu đồng, 19,945 triệu đồng, 30,365 triệu đồng Đồng thời, tác giả khẳng định rằng tốc độ tăng CPĐV hợp lý để chuyển từ chất lượng thấp đến chất lượng trung bình và chất lượng cao (với tỷ lệ lạm phát giả định là 5%) như sau:

(i) Kịch bản thay đổi chậm, để đạt mức chất lượng trung bình vào năm 2025, đòi hỏi tốc độ tăng CPĐV hàng năm của mỗi nhóm ngành trong khoảng từ 8,9% (ngành

Y dược) đến 14,8% (Công nghệ và Kỹ thuật)

(ii) Kịch bản thay đổi trung bình, để đạt mức chất lượng trung bình vào năm

2020, đòi hỏi tốc độ tăng CPĐV hàng năm của mỗi nhóm ngành trong khoảng từ 10,9% (ngành Y dược) đến 20,0% (ngành Công nghệ và Kỹ thuật)

(iii) Kịch bản thay đổi nhanh, để đạt mức chất lượng trung bình vào năm 2015, đòi hỏi tốc độ tăng trưởng CPĐV hàng năm của mỗi nhóm ngành từ 17,02% (Y dược) đến 37,09% (Công nghệ và Kỹ thuật)

- Về chế độ chi NCKH:

+ Để nâng cao hiệu quả việc sử dụng nguồn NSNN chi cho NCKH, phù hợp với

xu thế phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các CSGDĐH, GS.TS Trần Thọ Đạt (2013) đã kiến nghị cho phép các trường ĐH triển khai áp dụng quy chế quản lý kinh phí NCKH và các DV tư vấn theo hướng giảm các thủ tục hành chính, khoán chi tiêu để tăng tính chủ động của chủ nhiệm đề tài, dự án

+ Dưới góc nhìn rộng hơn, Bùi Tiến Hanh (2007) cho rằng cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế hợp đồng, đấu thầu đối với các đề tài NCKH; TS Nguyễn Ngọc Anh và các đồng sự (2013) cho rằng phân bổ ngân sách cho NCKH ở các trường nên dựa trên cơ chế đấu thầu cạnh tranh, kinh nghiệm và năng lực nghiên cứu của các ứng

Trang 22

viên, phương pháp nghiên cứu, sáng kiến trong các đề xuất dự án, triển vọng về lợi ích quốc gia và tiềm năng có thể công bố ấn phẩm quốc tế

Đánh giá chung về các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu của Luận án:

Dưới nhiều giác độ khác nhau, các bài báo, tham luận khoa học, đề tài NCKH, luận án tiến sĩ gần đây đã đi vào phân tích khá toàn diện các nội dung của chính sách tài chính đối với các CSGDĐH Trong đó đã gợi mở nhiều vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an như việc thay đổi tư duy về quan niệm GDĐH là một loại HH, DV và Nhà nước cấp kinh phí cho GDĐH (hệ chính quy) cần được quan niệm là việc Nhà nước thanh toán kinh phí đào tạo theo đơn đặt hàng của Nhà nước,

áp dụng đấu thầu, giao hợp đồng đặt hàng đào tạo và cung cấp DV NCKH; đổi mới phương thức quản lý NSNN theo hướng chuyển từ quản lý theo các yếu tố đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra; cần tăng cường tự chủ tài chính cho các CSGDĐH;

XH hóa các nguồn tài chính từ liên doanh, liên kết, cung cấp DV cho nhu cầu XH; phương pháp xác định CPĐV, Tuy nhiên, các gợi mở này liên quan nhiều hơn đến

hệ ĐH dân sự, liên kết đào tạo vừa làm vừa học và cung cấp các DV khác cho nhu cầu XH, chưa đi vào phân tích và đề xuất các giải pháp về chính sách tài chính cụ thể, phù hợp với đặc thù trong hoạt động của các CSGDĐH ngành Công an như:

- Đa số các ngành nghề đào tạo của các CSGDĐH ngành Công an đều là các ngành đặc thù, tính XH hóa thấp, rất khó để tìm được cơ sở GDĐH ngành dân sự có thể đáp ứng được Vì vậy, Bộ Công an tiếp tục tài trợ 100% kinh phí cho hoạt động đào tạo của các CSGDĐH ngành Công an, chi phí ăn ở, sinh hoạt, học tập cho SV (đảm bảo các yếu tố đầu vào) và đảm bảo các yếu tố đầu ra (bố trí công tác cho SV tốt nghiệp) là phù hợp Song cũng cần có sự thay đổi quan niệm, trong đó cần coi đây

là đơn đặt hàng theo nhu cầu của Bộ Công an đối với các CSGDĐH và phương thức cấp kinh phí không thể áp dụng giống như cấp phát kinh phí cho các đơn vị sử dụng ngân sách thông thường trong ngành Công an mà cần coi như là hình thức Bộ Công

an thanh toán kinh phí theo hợp đồng, đơn đặt hàng cho các CSGDĐH

- Các CSGDĐH ngành Công an hiện vẫn được coi là đơn vị dự toán sử dụng NSNN thông thường trong ngành Công an và chưa được áp dụng mô hình đơn vị SN công lập như đối với các CSGDĐH ngành GD và các ngành dân sự khác Vì vậy,

Trang 23

mặc dù chính sách tài chính đối với các đơn vị này được Bộ Công an nghiên cứu đổi mới khá nhiều (như tăng cường phân cấp, giao quyền tự chủ, ), song mức độ phân cấp, giao quyền tự chủ vẫn còn rất hạn chế, không thể theo kịp chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đang áp dụng đối với các đơn vị SN công lập trong ngành GD và các ngành dân sự khác và yêu cầu thực tế đòi hỏi trong quản trị các CSGDĐH ngành Công an hiện nay

- Chính do mô hình đơn vị sử dụng ngân sách thông thường, nên quá trình lập

dự toán, phân bổ NSNN cho các CSGDĐH ngành Công an dựa trên các yếu tố đầu vào và sự thương lượng với cơ quan tài chính của Bộ Công an hiện đang áp dụng mang nặng tính bao cấp, không khuyến khích việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí được cấp Mặc khác, các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Bộ Công an cũng chưa ban hành suất chi phí đào tạo hàng năm (CPĐV) làm cơ sở để xây dựng dự toán, phân bổ và cấp phát, quản lý được khoa học, chặt chẽ Đồng thời,

do chưa ban hành suất chi phí đào tạo hàng năm nên thực tế ngành Công an chưa triển khai chế độ thu hồi chi phí đào tạo đối với SV, cán bộ được thụ hưởng kinh phí đào tạo, song lại không phục vụ trong ngành Công an đủ thời gian theo yêu cầu

- Các CSGDĐH ngành Công an chưa được tự chủ trong khai thác, huy động và phân phối, sử dụng nguồn thu học phí hệ liên kết vừa làm vừa học Đây là hệ đào tạo theo nhu cầu của Công an các đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Công an (không phải chỉ tiêu đào tạo do Bộ Công an giao và đảm bảo kinh phí đào tạo), song Bộ Công an quy định cụ thể về mức học phí, nội dung chi tiêu, nên gây khó khăn cho các CSGDĐH ngành Công an trong việc huy động và sử dụng nguồn này phục vụ cho phát triển SN GDĐT của mình, cũng như chưa phù hợp với nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa người học và Nhà nước đối với hệ đào tạo này

- Hiện nay Bộ Công an đã vận dụng các quy định của Chính phủ trong việc sắp xếp trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, di dời các trường ĐH ra ngoại thành và phương thức đầu tư theo hợp đồng BT để triển khai thực hiện dự án xây dựng trường ĐHKTHC Hiện dự án đã hoàn thành giai đoạn I, song quá trình triển khai thực hiện đã nảy sinh nhiều khó khăn, bất cập đòi hỏi cần nghiên cứu, đánh giá và có kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm sớm hoàn thiện chính sách này, từ đó giúp cho việc khai thác, huy động có hiệu quả nguồn vốn của các nhà đầu tư cho thực

Trang 24

hiện thành công các dự án đầu tư xây dựng cơ sở mới cho các trường ĐH ngành Công an đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Giáo viên trong các CSGDĐH ngành Công an và Quân đội hiện nay chưa được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo theo quy định của Chính phủ Mặt khác, đa số các lực lượng Công an hiện nay đã được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp đặc thù, tiền ăn nặng nhọc, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm, thì chế độ tiền lương, phụ cấp của giáo viên trong các CSGDĐH ngành Công an hiện còn khá thấp, chưa có tác dụng khuyến khích, động viên đội ngũ giáo viên yên tâm công tác

- Tiền thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản, sau khi trừ đi chi phí liên quan (trừ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất) theo quy định của Nghị định số 106 thì Bộ Công an được sử dụng theo quy định của pháp luật về NSNN, song đến nay vẫn chưa

có quy định cụ thể về phân cấp cho các đơn vị dự toán quản lý, sử dụng, nên trên thực

tế các CSGDĐH ngành Công an (cũng như các đơn vị dự toán khác) đều nộp toàn bộ vào kho bạc nhà nước

Tóm lại, có thể khẳng định từ trước tới nay chưa có công trình khoa học nào đi

vào nghiên cứu tổng quan chung về chính sách tài chính đối với GDĐH ngành Công

an và việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả là không trùng lắp

với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm: (i) Tổng kết và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về vai trò của GDĐH đối với phát triển KTXH và chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an; (ii) Phân tích, đánh giá về tình hình thực hiện các chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an trong những năm vừa qua, trong đó tập trung vào chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính và chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính đối với các đơn vị này; (iii) Trên cơ sở định hướng phát triển hệ thống GDĐH ngành Công an đến năm 2020; những đánh giá về tình hình thực hiện các chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an những năm vừa qua để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính đối với các CSGDĐH ngành Công an trong những năm tới (từ nay đến năm 2020)

Trang 25

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, luận án cần tập trung vào việc hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách tài chính đối với CSGDĐH nói chung, phân tích thực trạng về chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an Việt Nam để rút ra được những những ưu điểm, kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập, cũng như các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó Qua đó luận án đề xuất được các giải pháp nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập nhằm hoàn thiện chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an Việt Nam trong những năm tới Nói một cách khác, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá các cơ sở lý luận và thực tiễn để nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Nội hàm khái niệm và các bộ phận cấu thành của chính sách tài

chính đối với CSGDĐH là gì? Để phát huy vai trò thúc đẩy sự phát triển của GDĐH, thì chính sách tài chính đối với CSGDĐH phải đáp ứng các yêu cầu gì?

Câu hỏi 2: Cơ sở lý luận cho sự hình thành các nguồn tài chính cho CSGDĐH?

Làm thế nào để tăng cường khai thác, huy động các nguồn tài chính cho GDĐH và đảm bảo việc phân phối, sử dụng các nguồn tài chính hợp lý, hiệu quả?

Câu hỏi 3: Chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an nước ta trong

những năm vừa qua có những đặc điểm đặc thù nào?

Câu hỏi 4: Chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an nước ta trong

những năm vừa qua có những kết quả và hạn chế gì?

Câu hỏi 5: Các giải pháp để phát huy kết quả, khắc phục hạn chế của chính sách

tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an trong thời gian tới?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính đối với các CSGDĐH, bao gồm chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính và chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu về chính sách tài chính đối với các CSGDĐH

- Về không gian và thời gian: trên cơ sở vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc tế

để phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công

an Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 - 2013 để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn

Trang 26

thiện chính sách tài chính đối với các CSGDĐH ngành Công an trong những năm tới (từ nay đến năm 2020) Việc chọn nghiên cứu thực trạng chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an trong giai đoạn từ năm 2006 - 2013 là xuất phát từ lý do sau: mặc dù Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực thi hành kể từ năm ngân sách 2004, song đối với lĩnh vực đặc thù như ngành Công an, Quốc phòng, thì đến năm ngân sách 2006 các quy định mới của Luật NSNN năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh mới được thực hiện đầy đủ trong thực tế Mặt khác, cũng từ năm 2006, các CSGDĐH ngành GDĐT, các ngành dân sự bắt đầu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị SN công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu chính sách tài chính đối với CSGDĐH ngành Công an trong giai đoạn này sẽ đảm bảo tính toàn diện, điển hình và

có điều kiện so sánh, đánh giá tốt nhất

5 Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề, đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, tính logic và tính thực tiễn

- Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế như phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp diễn giải, phương pháp so sánh, đồ thị hóa,

- Lý luận của kinh tế học và kinh tế học công cộng được sử dụng như là một công cụ quan trọng để đánh giá, luận giải những cơ sở lý luận cho việc hình thành các nguồn tài chính cho các CSGDĐH

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 03 chương (136 trang):

Chương 1: Những lý luận cơ bản về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục

đại học (49 trang)

Chương 2: Thực trạng về chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học

ngành Công an Việt Nam (50 trang)

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục

đại học ngành Công an (37 trang)

Trang 27

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1.1 Nhận thức về giáo dục đại học

Nghiên cứu lịch sử phát triển của XH loài người cho thấy GD là hiện tượng XH đặc trưng của XH loài người, nảy sinh, phát triển cùng với XH loài người và trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu và không bao giờ mất đi trong các giai đoạn phát triển của XH Những hiểu biết và kinh nghiệm về tự nhiên - XH mà con người tích lũy được trong cuộc sống chính là những tri thức Quá trình con người truyền bá, tiếp thu những tri thức đó chính là GD Cùng với sự phát triển không ngừng của XH, thông qua quá trình lao động sáng tạo và chinh phục tự nhiên, tri thức của con người tích lũy được liên tục phát triển cả về số lượng và chất lượng Theo đó, nội dung, phương pháp, hình thức của GD cũng có sự biến đổi, phát triển không ngừng và hình thức GD theo trường, lớp bắt đầu xuất hiện, phát triển nhằm phổ biến, truyền bá những tri thức cho người học một cách hiệu quả nhất GD theo trường, lớp là hình thức tổ chức GD có tính tổ chức cao, tri thức truyền bá cho người học có tính hệ thống và hướng đến mục đích đã định trước

Trong chuyên luận tổng hợp của Hội đồng Jacques Delors “Học tập - một kho

báu tiềm ẩn” đã nói đến những biến đổi to lớn của XH ở mức độ toàn cầu khi đi vào

thế kỷ XXI và khẳng định: “GD là con át chủ bài để đưa nhân loại tiến lên”; “học tập

suốt đời là chìa khóa đáp ứng thách thức của thế kỷ XXI” và xác định triết lý của GD

trong thời đại mới là “lấy học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, xây dựng 4 trụ cột của GD là “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm

người” với mục tiêu hướng tới một “XH học tập” [74, tr.19]

“Học để biết” nghĩa là bằng cách kết hợp một cơ sở văn hóa chung đủ rộng với

khả năng làm việc sâu trên một số lượng nhỏ chủ đề; coi trọng học cách học nhằm tận dụng các cơ hội do GD suốt đời mang lại, hơn là học một hệ kiến thức chuyên biệt Do

đó, người học phải hiểu cách nắm vững các công cụ sử dụng kiến thức và cách rèn

luyện khả năng phê phán, tìm tòi và tất nhiên cả trí nhớ “Học để làm” là nhằm nắm

được không những một kỹ năng nghề nghiệp, mà rộng hơn là ứng dụng kiến thức hay

học “kỹ năng sống”, những kinh nghiệm về XH hoặc về lao động bằng cách phát triển

Trang 28

GD kiểu xen kẽ giữa học tập và lao động “Học để cùng sống với nhau” là bằng cách

làm sao hiểu được người khác thông qua việc đặt mình vào địa vị người khác và bằng

sự cam kết làm việc với nhau lâu dài, sự cảm nhận tính phụ thuộc lẫn nhau trong thực hiện những công việc chung và chuẩn bị giải quyết những xung đột với tinh thần tôn

trọng những giá trị của sự đa phương, đa dạng, hiểu biết lẫn nhau “Học để làm người”

là nhằm phát huy tốt hơn và hoàn thiện nhân cách của con người; sẵn sàng hành động với một khả năng ngày càng gia tăng về các mặt tự chủ, suy xét và trách nhiệm cá nhân; khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi người

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, (2002), thì GD có hai nghĩa: (i)“GD là

quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống XH, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - XH của loài người”; (ii) “GD là hệ thống các biện pháp, các tổ chức đào tạo và GD của một nước” [58, tr.120]

Theo nghĩa rộng, GD được hiểu là sự truyền bá và lĩnh hội tri thức để hình thành, phát triển những phẩm chất và năng lực của con người Như vậy, theo nghĩa này hoạt động GD có thể được thực hiện ở các CSGD thuộc hệ thống GD quốc dân thông qua các trường, lớp và các chương trình GD cụ thể hoặc ở gia đình, tổ chức XH, cộng đồng dân cư,

Theo nghĩa hẹp và gắn với hệ thống GD quốc dân, thì GD được hiểu là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động, các quan hệ giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm mà XH loài người đã tích lũy được trong lịch sử từ đó giúp họ phát triển một cách toàn diện các phẩm chất và năng lực của bản thân Như vậy, theo nghĩa hẹp thì GD là hoạt động GD được thực hiện ở các CSGD thuộc hệ thống GD quốc dân và được tổ chức một cách chặt chẽ, chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp GD,

Đi đôi với khái niệm GD, người ta thường nói tới khái niệm đào tạo Theo Từ

điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, (1995), thì “Đào tạo là quá trình tác động đến một

con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển XH, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [57, tr.735] Như vậy,

Trang 29

thực chất hệ thống GD quốc dân được chia thành hai khối là GD và đào tạo Trong đó,

GD nhằm để trang bị cho người học vốn kiến thức phổ thông cơ bản nhất về tự nhiên,

XH để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực nội tại của mỗi cá nhân, giúp cho người học có thể tiếp tục học lên những bậc học cao hơn, mang tính chuyên môn, nghề nghiệp sâu hơn, để từ đó thích nghi với cuộc sống XH, tham gia quá trình lao động sản xuất Đào tạo nhằm trang bị cho con người một cách có hệ thống các tri thức chủ yếu

về chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo, nhằm giúp cho con người có vốn kiến thức phù hợp để thực hiện các nghề nghiệp, nhiệm vụ chuyên môn nhất định

Trong nền KTTT, bản chất của GD chính là một loại DV với đầy đủ tính chất kinh tế như các HH, DV khác bởi vì quá trình sản xuất DV GD đòi hỏi sự tiêu hao các nguồn lực khan hiếm, nên nó cần đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí tiết kiệm nhất Đồng thời, GD là một lĩnh vực DV đặc biệt (DV bù đắp hoặc không vụ lợi) với 4 đặc

tính cơ bản: tính không hiện hữu; tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc; tính không

ổn định về chất lượng; tính không lưu giữ được [56, tr.36]

Hệ thống GD quốc dân là bộ phận quan trọng nhất của một nền văn hóa, liên quan chặt chẽ đến trình độ văn minh, sự phát triển KTXH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, sự ổn định chính trị của mỗi quốc gia và bao gồm các cấp học, trình độ đào tạo sau: GD mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo); GD phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông); GD nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); GDĐH (trình độ cao đẳng, ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ)

Tuy có thể có những tên gọi khác nhau, song thực chất hệ thống GD của các nước thường được chia thành: (i) khối GD gồm GD mầm non và GD phổ thông với mục tiêu

là trang bị vốn kiến thức phổ thông cơ bản nhất về tự nhiên, XH cho người học; (ii) khối đào tạo gồm GD nghề nghiệp và GDĐH với mục tiêu chủ yếu là đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp cho người học

Hiểu một cách phổ biến nhất, thì GDĐH là GD bậc ba hay GD sau trung học và là bậc học sau cùng của hệ thống GD quốc gia, nhằm đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư và cán bộ chuyên môn kỹ thuật, quản lý

ở các trình độ khác nhau GDĐH có các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, GDĐH không phải là hàng hóa đơn thuần mà là hàng hóa đặc biệt:

người thầy - người cung cấp DV GDĐH mặc dù có nhu cầu thu hồi chi phí đã bỏ ra, song không phải là người kinh doanh trong lĩnh vực GDĐH Người học cũng không

Trang 30

phải là người mua DV GDĐH đơn thuần Họ không thể đòi hỏi nội dung và cách thức cung cấp DV hoàn toàn theo ý mình, mặc dù họ có quyền đòi hỏi chất lượng GDĐH tốt hơn và chấp nhận nộp học phí cao hơn

Thứ hai, GDĐH có tính nền tảng chặt chẽ: các cấp học, loại hình đào tạo trong

GDĐH có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trình độ đào tạo cao đẳng, ĐH là nền tảng của trình độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ Loại hình đào tạo chính quy, tập trung là trung tâm, nền tảng cho các loại hình đào tạo khác Muốn có một nền GDĐH tốt phải quan tâm đến tất cả các cấp học, các loại hình đào tạo và khi đánh giá chất lượng của một CSGDĐH cụ thể thì không thể quy mọi kết quả đạt được cũng như hạn chế, yếu kém hoàn toàn là do CSGDĐH đó

Thứ ba, GDĐH có tính kế thừa theo thời gian chặt chẽ: đặc điểm này xuất phát từ

quy luật nhận thức của con người là mức độ nhận thức đi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao GDĐH phải đảm bảo sự chuyển tiếp, kế thừa, bổ sung và phát triển tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trong cuộc sống của các thế hệ trong một cộng đồng, một XH, một quốc gia và toàn cầu

Thứ tư, chất lượng GDĐH không ổn định và rất khó đo lường: sản phẩm của

GDĐH là con người sau quá trình đào tạo, tốt nghiệp và chất lượng chỉ được bộ lộ ra trong quá trình lao động, sản xuất nhờ mang lại chất lượng, hiệu quả công việc cao hơn

so với trước quá trình đào tạo Nhưng không chỉ đơn thuần như vậy, chất lượng của sản phẩm GDĐH không chỉ phụ thuộc vào chất lượng GDĐH của CSGDĐH mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: đặc điểm cá nhân mỗi người, cách thức sử dụng, môi trường lao động, sản xuất của người sử dụng lao động, Muốn đánh giá chất lượng GDĐH cần sử dụng nhiều tham số, nhiều chỉ số trực tiếp và gián tiếp và có phương pháp loại trừ tác động của những biến số khác đến chất lượng nguồn nhân lực thì việc đánh giá mới chính xác, toàn diện

Tổ chức cung cấp DV GDĐH được gọi là CSGDĐH và căn cứ hình thức sở hữu

có thể phân chia các CSGDĐH thành: CSGDĐH công lập, CSGDĐH tư thục CSGDĐH công lập là CSGDĐH thuộc sở hữu của Nhà nước và do Nhà nước tài trợ, quản lý, điều hành Trong CSGDĐH công lập, nguyên tắc tập trung hóa và thống nhất

về chính trị chi phối toàn bộ trong hoạt động và quản lý CSGDĐH, quy mô và nội dung, chất lượng đào tạo Hoạt động của các CSGDĐH công lập chủ yếu được tài trợ

bằng nguồn tài chính từ NSNN CSGDĐH tư thục là các CSGDĐH thuộc sở hữu của

Trang 31

các tổ chức, cá nhân và do các tổ chức, cá nhân tài trợ, quản lý, điều hành Nhà nước cũng có thể tài trợ một phần kinh phí cho hoạt động của CSGDĐH tư thục

Nước ta cũng xác định GDĐH gồm các trình độ đào tạo: cao đẳng, ĐH, thạc sĩ và tiến sĩ [68, tr.1] và CSGDĐH là các trường cao đẳng, ĐH, học viện, ĐH vùng, ĐH quốc gia, viện NCKH được phép đào tạo trình độ tiến sĩ và được phân thành hai loại: (i) CSGDĐH Việt Nam và CSGDĐH có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó CSGDĐH Việt Nam gồm CSGDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước và CSGDĐH tư thục thuộc

sở hữu của tổ chức XH hoặc cá nhân, do tổ chức hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; (ii) CSGDĐH có vốn đầu tư nước ngoài gồm CSGDĐH có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài và CSGDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước [69, tr.3]

Để phù hợp với mục đích nghiên cứu, trong luận án này nghiên cứu sinh quan niệm: (i) GD theo nghĩa là GD gắn với hệ thống GD quốc dân, tức là GD bao gồm cả GDĐT và được thực hiện ở các CSGD thuộc hệ thống GD quốc dân một cách chặt chẽ,

có tổ chức, chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp GD nhất định; (ii) GDĐH là một bộ phận của GDĐT và bao gồm các trình độ đào tạo cao đẳng, ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học với phát triển kinh tế - xã hội

Theo Calvin B.T Lee (1968), thì GDĐH có ba mục tiêu cơ bản là truyền tải, mở rộng và áp dụng kiến thức; để đạt mỗi mục tiêu trên cần thực hiện ba nhiệm vụ là giảng dạy, nghiên cứu và DV công cộng, trong đó có liên quan đến vô số các chương trình, mục tiêu trung gian và các chức năng chính của GDĐH [94, tr.1]

Dưới tác động của toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của KHCN, sự xuất hiện kinh tế tri thức, GDĐH ngày nay đang có những biến đổi mang tính cách mạng và

có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển KTXH, cụ thể:

1.1.2.1 Giáo dục đại học góp phần trực tiếp tạo nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cho phát triển kinh tế

GDĐH góp phần trực tiếp tạo nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn kỹ thuật

- yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Hay nói cách khác, GDĐH góp phần quan trọng nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI) và không ngừng làm gia tăng giá trị, đóng góp có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Các học thuyết kinh tế đều thống nhất cho rằng để phát

Trang 32

triển kinh tế cần có ba nguồn lực cơ bản: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài

chính Trong nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò cơ bản,

quyết định sản lượng tạo ra Trong nền kinh tế công nghiệp, ví trí hàng đầu thuộc về nguồn tài chính Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của KHCN, toàn cầu hóa sâu rộng và sự xuất hiện của kinh tế tri thức, thì vai trò quyết định thuộc về nguồn vốn con người (nguồn nhân lực) và chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực luôn được coi là vấn đề ưu tiên trong chiến lược phát triển KTXH của mỗi quốc gia

1.1.2.2 Giáo dục đại học góp phần nâng cao năng suất lao động và lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội

Với việc nâng cao trình độ và khả năng thành thạo của người lao động, GDĐH góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mức độ ảnh hưởng của GDĐH đối với năng suất lao động được tính bằng cách so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi

cá nhân đó trải qua một khóa học ĐH với chi phí của khóa ĐH đó Kết quả so sánh này gọi là tỷ suất lợi nhuận XH khi đầu tư vào GDĐH Vào những thập niên cuối của thế

kỷ trước, người ta ước tính được suất thu lợi bình quân đầu tư GDĐH khoảng 15 - 20%

về mặt cá nhân và 10 -15% về mặt XH; riêng về suất thu lợi cá nhân từ GDĐH ở các nước mới nổi rất cao, chẳng hạn như: Hồng Kông: 25,7% (1976), Malaysia: 34,5% (1978), Singapore: 25,4% (1966), Brazil: 28,2% (1989), [66, tr.4] Đối với GD nói chung, theo tính toán của các nhà kinh tế học, tỷ suất lợi nhuận XH đạt từ 8 - 10% [64], cao hơn so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của XH đầu tư cho các lĩnh vực khác trong dài hạn

Theo WB (2008), suất thu lợi của GDĐH là khá cao đối với các nước có thu nhập trung bình và thấp như Bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1: Suất thu lợi của GDĐH

STT Nhóm thu nhập/đầu người năm Thu nhập bình quân

đầu người năm (USD)

Suất thu lợi

Trang 33

Sứ mệnh của GDĐH không chỉ là dạy nghề nghiệp cho con người mà đặc biệt còn phải dạy cho họ tư duy kinh doanh, biết tự tìm và tạo việc làm với mục tiêu là hướng vào phát triển con người, hình thành những năng lực cơ bản mà thời đại mới đòi hỏi thông qua phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và đánh giá chất lượng GDĐH

1.1.2.3 Giáo dục đại học góp phần truyền bá, sáng tạo những tri thức mới thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển xã hội

Thông qua nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo ở trình độ cao về KHCN, GDĐH góp phần sáng tạo ra những tri thức mới và truyền bá, chuyển giao những tri thức mới cho nhân loại Do đó, GDĐH có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phồn thịnh của nền kinh tế tri thức, sự thịnh vượng của nhân loại hiện tại cũng như trong tương lai

John Maynard Keynes (1936) trong cuốn sách “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất

và tiền tệ” đã cho rằng: “Muốn thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, cần phải giải quyết việc làm cho đại đa số nhân dân Muốn vậy, cần phải đầu tư chiều sâu, phát triển kỹ thuật, phát triển GD” [56, tr.14]

Manuel Castell (1991) cho rằng GDĐH góp phần quan trọng vào việc bảo tồn các

nền văn hóa và tri thức nhân loại, tái tạo hoặc phản biện ý thức hệ chi phối của quốc gia; lựa chọn những người ưu tú giới thiệu cho đất nước; sáng tạo ra kho tàng tri thức mới Không chỉ cải thiện sự lựa chọn cá nhân sẵn có cho tất cả mọi người, GDĐH còn

tạo ra lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, biết chắt lọc và áp dụng các tri thức thu được từ kết quả của các công trình NCKH vào sản xuất, đời sống; góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống cho mọi người và xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo thông qua việc trang bị cho người học những tri thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống Liên Hợp quốc xác định GD nói chung và GDĐH nói riêng là quyền con người [53, tr.227-237] và là phương tiện phát triển riêng của mỗi cá nhân; phương tiện để xây dựng nền văn hóa, chia sẻ truyền thống, cung cấp sức mạnh cho XH và khả năng cạnh tranh của cá nhân cũng như toàn XH

GDĐH đóng vai trò XH quan trọng trong thúc đẩy hòa hợp dân tộc, mở đường đi lên cho mỗi công dân trong SN công danh của mình; cung cấp các diễn đàn thảo luận rộng rãi mang tính phản biện và tư vấn về phát triển KTXH cho các cấp chính quyền,

các nhà doanh nghiệp Ngoài ra, GDĐH còn có vai trò: “(i) thăm dò và phê phán, dự

báo, tuyên đoán, cảnh báo và ngăn chặn; (ii) sử dụng năng lực trí tuệ và uy tín đạo đức của nhà trường ĐH để bảo vệ, truyền bá tích cực những giá trị được phổ biến thừa

Trang 34

nhận; (iii) thực hiện đầy đủ sự tự do hàn lâm, học thuật và bảo vệ sự tự quản trong khi phải có trách nhiệm công khai với XH; (iv) góp phần xác định và xử lý những vấn đề

có hại cho phúc lợi của cộng đồng, quốc gia và XH toàn cầu” [74, tr.39]

Các kết quả nghiên cứu cho thấy người nghèo chủ yếu là nông dân với số năm đi học ít, khả năng tiếp cận thông tin và kỹ năng chuyên môn hạn chế Gần 90% người nghèo có trình độ học vấn ở mức trung học cơ sở hoặc thấp hơn Trình độ học vấn thấp làm tăng độ sâu của nghèo, đói và tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ học vấn tăng lên Các gia đình nghèo thường rơi vào vòng luẩn quẩn: trình độ học vấn thấp, kỹ năng nghề nghiệp thấp và thu nhập thấp Họ không thể tăng thu nhập để đầu tư vào GD, nhất

là GDĐH Với sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, thì cơ chế luẩn quẩn này càng hoạt động mạnh và nghèo đói càng kéo dài Khi không có các yếu tố hỗ trợ, người nghèo không thể vay được vốn để tài trợ cho hoạt động tích luỹ vốn con người Do đó, giới hạn trong khả năng đi vay có thể là giới hạn đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Một số nhà kinh tế lập luận rằng trong trường hợp như thế, việc cung ứng GD cơ bản miễn phí (tiểu học và trung học cơ sở) hay tạo ra các chương trình tín dụng công (để giúp người nghèo thanh toán chi phí nâng cao kỹ năng) có thể gia tăng phúc lợi cho nền kinh tế Giá trị XH của những khoản đầu tư này rất rõ ràng, nó tạo ra ngoại ứng tích cực (bởi vì đem lại lợi ích cho toàn XH), đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế đang ở trạng thái dừng tăng lên và làm giảm chênh lệch giàu nghèo [61, tr.227]

Người nghèo có thu nhập thấp một phần do năng lực và kinh nghiệm làm việc thấp (thông qua GDĐT có thể giải quyết được vấn đề này), một phần do bị phân biệt đối xử trên thị trường lao động (thông qua GDĐT có thể cải thiện được vấn đề này) Tuy nhiên, hiệu ứng giảm nghèo của GDĐT chỉ được phát huy trong khoảng thời gian dài sau khi kết thúc khóa học Nhà kinh tế học người Mỹ, Schultz T.W cho rằng các nguồn lực đầu tư vào GDĐT hôm nay chỉ có thể dẫn đến giảm nghèo trong một khoảng thời gian sau khi năng lực của những người được GDĐT tăng lên và mang lại lợi ích từ thu nhập kiếm được, nâng cao khả năng tự tìm, tự tạo việc làm và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của gia đình

Bằng việc mang lại kỹ năng, kiến thức và quan điểm nhận thức XH đúng đắn, GDĐT chính là nhân tố quyết định việc nâng cao khả năng tham gia thị trường lao động của lực lượng lao động nghèo, góp phần tạo lập công bằng XH trong lao động Công bằng hưởng thụ DV GDĐT và công bằng trong tham gia thị trường lao động góp phần

Trang 35

đem lại công bằng trong phân phối thu nhập Một XH có thể đầu tư vào các công dân của mình thông qua các khoản chi cho GD và GD tiểu học phổ cập không mất tiền là cách thức chủ yếu để tái phân bổ nguồn lực có lợi cho người nghèo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

chỉ rõ: “Không có GD, không có cán bộ thì cũng không nói gì tới kinh tế, văn hóa Trong

việc đào tạo cán bộ, GD là bước đầu, tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang” và tri

thức tạo nên sức mạnh của một quốc gia, “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “vì lợi

ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người” [62, tr.85]

1.1.2.4 Giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm của phát triển con người, xã hội, nhân loại

Để đối mặt với thách thức của toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay, GD nói chung và GDĐH nói riêng phải đứng ở trung tâm của sự phát triển vừa của con người, vừa của cộng đồng và được coi là con át chủ bài để nhân loại tiến lên đi tìm một thế giới công bằng, tốt đẹp hơn GDĐH có sứ mạng giúp cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tài năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo Muốn vậy, hệ thống GDĐH phải mềm dẻo hơn, tạo ra sự đa dạng về các ngành học và những kênh liên thông giữa các loại hình GDĐH khác nhau hoặc giữa những kinh nghiệm nghề nghiệp

và việc liên tục được GD Sự mềm dẻo đó có thể góp phần làm giảm bớt sự thất bại trong học tập, đang gây ra sự lãng phí to lớn về nguồn nhân lực Với những cải tiến đáp ứng những nhu cầu về phát triển trí tuệ và sự thực thi một mô hình phát triển bền vững, phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, hệ thống GDĐH có thể góp phần làm bớt đi sự trầm trọng của nạn thất nghiệp hoặc những bất bình đẳng trong phát triển Với lý do trên, quan niệm về học suốt đời phải được ủng hộ rộng rãi [74, tr.33]

GDĐH phải phục vụ tất cả mọi người có khả năng trong mọi giai đoạn của cuộc đời và hiện nay đã vượt qua giới hạn của GDĐH “tinh hoa” và đang dần tiến tới “đại chúng”, “phổ cập” Theo cách phân chia được chấp nhận rộng rãi trên thế giới của học giả Mỹ, Martin Trow: nếu một nước có tỷ lệ độ tuổi ĐH (tức là tỷ lệ SV ĐH so với thanh niên ở độ tuổi 18 đến 21) dưới 15% thì nền GDĐH đó còn trong giai đoạn

“cho số ít người” (elitist), khi tỷ lệ đó vượt 15% thì nền GDĐH đó bước vào giai

đoạn “đại chúng” (mass), còn khi tỷ lệ đó vượt quá 50% thì GDĐH là “phổ cập”

(universal) Với cách phân chia đó, theo báo cáo năm 1994 của WB, các nước OECD

có tỷ lệ này đạt tới 51%; còn theo báo cáo GD của UNESCO năm 1995, riêng ở Bắc

Mỹ tỷ lệ này đạt 82% vào năm 1992; các nước có thu nhập trung bình đạt 21%; các

Trang 36

nước có thu nhập thấp chỉ đạt 6% Theo các chuyên gia kinh tế và GD thì “GDĐH

cho số ít người chỉ phù hợp với nền kinh tế nông nghiệp, GDĐH đại chúng tương thích với nền kinh tế công nghiệp, còn GDĐH phổ cập mới đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức” [74, tr.20]

GDĐH có vai trò xây dựng mối liên kết trong và ngoài cộng đồng ĐH, bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc, là đỉnh cao của tri thức quốc gia, là cửa ngõ để văn hóa và khoa học kỹ thuật, công nghệ của quốc gia đến với thế giới và ngược lại

Do đó, hội nhập quốc tế về GDĐH đang là một xu thế ngày càng mạnh mẽ giữa các nước trong một khu vực, châu lục và toàn thế giới GDĐH hiện đã di chuyển qua biên giới giữa các quốc gia thông qua hợp tác phát triển, trao đổi tri thức và bây giờ đang

hướng tới các mục tiêu thương mại

1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.2.1 Khái niệm chính sách và chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học

Bất kỳ một hoạt động nào của con người có ý thức, của một tập thể, một tổ chức hay nói rộng ra là của một XH đều nhằm đạt một mục tiêu cụ thể nào đó Việc mục tiêu này có đạt được hay không, không chỉ phụ thuộc vào ý chí tự thân, những tiềm năng và năng lực nội tại của mỗi cá nhân hay XH, mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu

tố khách quan bên ngoài Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động, người ta thường có các giải pháp, chiến lược, sách lược, kế hoạch, phương pháp hoặc những cách thức xác định nhằm thực hiện bằng được các mục tiêu đã vạch ra Muốn vậy, mỗi cá nhân, tổ chức hoặc XH phải có một chuỗi chương trình hay một tập hợp các nguyên tắc hành động định trước để hướng dẫn thực hiện và đó được gọi là chính sách

Do chính sách là một công cụ có tính ước lệ và không rõ ràng, hàm chứa nhiều nội dung phức tạp được biểu hiện dưới nhiều góc độ, khía cạnh và diễn ra theo những chiều hướng khác nhau, nhưng có liên quan và tác động qua lại với nhau, nên rất khó

có thể đưa ra một định nghĩa chính xác, duy nhất về chính sách

Một cách thông thường, theo nghĩa hẹp, người ta hiểu chính sách là “phương thức

hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại” [49, tr.20] hay chính sách là “chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - XH” [86, tr.155]

Trang 37

Theo nghĩa rộng, thuật ngữ chính sách được hiểu bao hàm không chỉ những biện pháp cụ thể, mà còn các chủ trương lớn, đường lối hoặc phương hướng chiến lược của

tổ chức, quốc gia, thể hiện quan điểm, thái độ ứng xử trong quá trình xử lý các vấn đề trong nước, quốc tế Chính sách được xác định như là một đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó [1, tr.23]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, (1995), thì “chính sách là những

chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”[57, tr.475]

Giáo trình chính sách KTXH của Trường ĐH Kinh tế quốc dân định nghĩa:

“chính sách KTXH là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của XH” [52, tr.22]

Chính sách tài chính là một bộ phận của chính sách KTXH và là “tiêu chuẩn xử

lý quan hệ phân phối tài chính theo lợi ích của giai cấp thống trị” [84, tr.635] Trong

luận án này, tác giả quan niệm: chính sách tài chính là hệ thống các quan điểm, các

mục tiêu, các giải pháp trong việc khai thác, huy động và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính đảm bảo thực thi chính sách và chiến lược phát triển KTXH trong từng thời kỳ

Có nhiều cách phân loại chính sách tài chính, chẳng hạn:

Thứ nhất, theo phạm vi hoạt động (hay theo nội dung của chính sách), có thể

chia thành:

(i) Chính sách tài chính quốc gia:

Chính sách tài chính quốc gia là các phương hướng, biện pháp cơ bản về tài chính được Nhà nước ban hành để thực hiện thống nhất đường lối, chính sách tạo vốn, phân phối và sử dụng nguồn vốn, điều tiết quan hệ tích lũy - tiêu dùng, nhằm kích thích phát triển sản xuất, đảm bảo lợi ích KTXH của các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân

cư, ổn định thị trường, thực hiện công bằng trong phân phối các nguồn tài chính và phát triển thị trường tài chính Chính sách tài chính quốc gia là chính sách quản lý vĩ

mô quan trọng, bao gồm hệ thống các chính sách về thu ngân sách, chi ngân sách (chi

Trang 38

đầu tư, chi thường xuyên); vay nợ, viện trợ; chính sách tiền tệ - tín dụng, bảo hiểm, tài chính doanh nghiệp, tài chính đối ngoại, tiết kiệm, tài chính dân cư và quản lý các nguồn vốn, tài sản quốc gia về phương diện tài chính

(ii) Chính sách tài chính của một địa phương, ngành, lĩnh vực, tổ chức:

Chính sách tài chính của một địa phương, ngành, lĩnh vực, tổ chức là chính sách của một địa phương, ngành, lĩnh vực hoặc một tổ chức (trừ tổ chức là doanh nghiệp) nhằm huy động và sử dụng các nguồn tài chính phục vụ cho mục tiêu hoạt động trong phạm vi địa phương, ngành, lĩnh vực, tổ chức mình Chính sách tài chính của một địa phương, ngành, lĩnh vực, tổ chức vừa có tính độc lập (được quyền chủ động trong khai thác, huy động và phân phối, sử dụng nguồn tài chính tại địa phương, ngành, lĩnh vực,

tổ chức mình), vừa có tính phụ thuộc (chịu sự tác động của chính sách tài chính quốc gia và phải tuân thủ các quy định, chế độ tài chính quốc gia thống nhất)

(iii) Chính sách tài chính của một doanh nghiệp:

Chính sách tài chính của một doanh nghiệp là hệ thống các biện pháp nhằm thực hiện quá trình thu, chi tài chính của doanh nghiệp và bao gồm chính sách đảm bảo các khoản chi phí cho các nguồn lực đầu vào (tiền lương, tiền thuê hoặc tiền sử dụng đất, lãi vay, chi phí kinh doanh và tiêu thụ, ), các khoản thu nhập từ bán HH, DV, các khoản thuế và nghĩa vụ đóng góp khác

Thứ hai, theo sự vận động của các nguồn tài chính, chính sách tài chính có thể

phân chia thành:

(i) Chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính:

Chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính là hệ thống các quan điểm, các mục tiêu định hướng, các biện pháp để tạo lập các nguồn tài chính, hình thành lên các quỹ tài chính của quốc gia (NSNN), quỹ tài chính của một tổ chức (ngân sách của địa phương, ngành, ), quỹ tài chính doanh nghiệp (ngân sách của doanh nghiệp) Trên giác độ quốc gia và vùng, địa phương, thuế là nguồn thu chủ yếu và có xu hướng ngày càng tăng lên cả số tuyệt đối và tương đối trong tổng nguồn thu của NSNN

(ii) Chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính:

Chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính là việc xây dựng và áp dụng các

giải pháp, biện pháp, công cụ để phân bổ và sử dụng nguồn tài chính thu được cho các nhu cầu khác nhau, thông qua các công cụ như đầu tư, tiền lương, tiền thưởng, học

Trang 39

bổng, bảo hiểm, trợ cấp, các khoản chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới, tích lũy, các khoản từ phân phối kết quả hoạt động tài chính,

Những quan niệm trên về chính sách và chính sách tài chính dựa trên các góc độ khác nhau và mục đích khác nhau Tuy nhiên, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, luận án này nghiên cứu chính sách tài chính dựa trên tiêu chí phân chia chính sách tài chính theo sự vận động của các nguồn tài chính và bao gồm các chính sách bộ phận sau: chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính và chính sách phân phối, sử dụng nguồn tài chính

Như vậy, chính sách tài chính đối với CSGDĐH trong luận án này được tác giả

quan niệm là hệ thống các quan điểm, các mục tiêu, các giải pháp trong việc khai thác,

huy động và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính cho các CSGDĐH đảm bảo thực thi chính sách và chiến lược phát triển GDĐH trong từng thời kỳ Chính sách tài

chính đối với CSGDĐH được xác định gồm các yếu tố sau:

Thứ nhất, mục tiêu của chính sách: nhằm đẩy mạnh phát triển GDĐH theo chính

sách và chiến lược phát triển GDĐH, đáp ứng các nhu cầu về các DV GDĐH cho phát triển KTXH của đất nước trong từng thời kỳ

Thứ hai, chủ thể của chính sách: Nhà nước là chủ thể của chính sách tài chính đối

với CSGDĐH Nhà nước và các cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, ban hành các chính sách để tác động, quản lý tài chính đối với CSGDĐH

Thứ ba, đối tượng của chính sách: chính sách tài chính đối với CSGDĐH thể

hiện dưới hình thức là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính nhằm quy định, hướng dẫn áp dụng cho các đối tượng chính sách, bao gồm các CSGDĐH và các đối tượng có liên quan đến việc sử dụng các DV GDĐH do các CSGDĐH cung cấp và khuyến khích các chủ thể khác tham gia vào các hoạt động tài trợ, đầu tư cho các hoạt động của các CSSGDĐH

Thứ tư, các giải pháp của chính sách: các giải pháp (hay các biện pháp, phương

pháp và công cụ) mà Nhà nước sử dụng để tác động nhằm đạt được mục tiêu chính sách trong những điều kiện cụ thể về không gian và thời gian xác định, chủ yếu bao gồm: các quy định trình tự, thủ tục và phương thức khai thác, huy động NSNN, học phí, phí lệ phí, các nguồn tài trợ, viện trợ và các nguồn tài chính hợp pháp khác cho CSGDĐH; các chế độ ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ cho các CSGDĐH và các đối tượng chính sách, các đối tượng cần được khuyến khích hưởng thụ các DV GDĐH; các chế

Trang 40

độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN và các nguồn tài chính ngoài NSNN cho hoạt động của CSGDĐH,

Thứ năm, các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định và thực thi chính sách:

- Các yêu cầu thực tế về phát triển GDĐH trong từng thời kỳ là nhân tố đầu tiên, quan trọng nhất và ảnh hưởng mạnh nhất đến việc hoạch định và thực thi chính sách tài chính đối với CSGDĐH Bởi vì việc hoạch định và thực thi chính sách tài chính là nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả việc khai thác, huy động và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính trong XH đáp ứng các nhu cầu về tài chính cho CSGDĐH trong từng thời kỳ

- Cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước bao gồm các cơ chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan các lĩnh vực KTXH và an ninh, quốc phòng, nhất là các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan phát triển lĩnh vực GDĐH, phát triển kinh

tế, XH và tài chính, ngân sách trong từng thời kỳ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định và thực thi chính sách tài chính đối với CSGDĐH Cơ chế, chính sách, pháp luật luôn có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong từng giai đoạn cho phù hợp với thực tế và những định hướng, đường lối chiến lược phát triển KTXH nói chung của đất nước Chính sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong cơ chế, chính sách, pháp luật trong từng thời kỳ đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định và thực thi chính tài chính sách tài chính đối với CSGDĐH

- Khả năng hình thành nguồn tài chính là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến việc hoạch định và thực thi chính sách tài chính đối với CSGDĐH Bởi vì, chính sách tài chính đối với CSGDĐH được hoạch định và thực thi phải bám sát khả năng và tiềm lực kinh tế của đất nước nói chung, từng ngành, địa phương nói riêng có như vậy mới đảm bảo tính khả thi trong thực tế thực hiện Chẳng hạn ở nước ta trong những năm gần đây khi nền kinh tế đã có tốc độ phát triển ấn tượng, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, Do đó, khả năng chi trả của các bậc phụ huynh cũng gia tăng và Nhà nước đã thực hiện khá thành công chính sách tăng học phí ĐH, đi đôi với việc thực hiện chính sách ưu đãi về học phí, hỗ trợ tín dụng cho các SV nghèo và tiếp tục tăng đầu tư từ NSNN cho các ngành học có khả năng XH hóa thấp, giảm dần đầu tư từ NSNN cho các ngành học có khả năng XH hóa cao Đồng thời, Nhà nước cũng cho phép các CSGDĐH được thực hiện liên doanh, liên kết với các CSGDĐH nước ngoài nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài cho lĩnh vực GDĐH, thúc đẩy GDĐH nước ta

Ngày đăng: 21/12/2021, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
15. Bộ Công an (2007), Quyết định số 1546/2007/QĐ-BCA(E11) ngày 06 tháng 12 năm 2007 ban hành “Quy định về định mức xây dựng và dự toán kinh phí hoạt động khoa học và công nghệ trong Công an nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1546/2007/QĐ-BCA(E11) ngày 06 tháng 12 năm 2007 ban hành “Quy định về định mức xây dựng và dự toán kinh phí hoạt động khoa học và công nghệ trong Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2007
27. Bộ Tài chính (2006), Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (ban hành kèm theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), Nxb Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (ban hành kèm theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2006
49. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2007), Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính sách kinh tế xã hội
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2007
50. Trịnh Tiến Dũng (2012),“Một số vấn đề nổi lên qua nghiên cứu bước đầu về chi tiêu NSNN cho GDĐH ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học”, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, UNDP, Bộ Tài chính, tháng 11 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề nổi lên qua nghiên cứu bước đầu về chi tiêu NSNN cho GDĐH ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học”
Tác giả: Trịnh Tiến Dũng
Năm: 2012
52. Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (1999), Chính sách kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế - xã hội
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
53. Phạm Minh Hạc (2000), Tổng kết 10 năm (1990 - 2000) xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm (1990 - 2000) xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
54. Arthur M.Hauptman (2010), Tài chính cho giáo dục đại học: Xu hướng và vấn đề, địa chỉ truy cập: http://chrd.edu.vn/site/vn/?p=316 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính cho giáo dục đại học: Xu hướng và vấn đề, địa chỉ truy cập
Tác giả: Arthur M.Hauptman
Năm: 2010
55. Học viện Tài chính (2012), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học và cao đẳng công lập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học và cao đẳng công lập
Tác giả: Học viện Tài chính
Năm: 2012
56. Nguyên Văn Hộ (2001), Kinh tế học giáo dục, http://www.ebook.edu.vn, địa chỉ truy cập: http://www.tailieu/xem-tailieu/kinh-te-hoc-giao-duc.1180962.htlm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học giáo dục
Tác giả: Nguyên Văn Hộ
Năm: 2001
57. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 1995
58. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
59. Nguyễn Văn Ly (2010), Quản lý chất lượng đào tạo đại học trong các học viện, trường Công an nhân dân, Luận án Tiến sĩ quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng đào tạo đại học trong các học viện, trường Công an nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Ly
Năm: 2010
61. C.Mác và Ph.Ănghen (2001), Ănghen toàn tập, tập 48, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ănghen toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ănghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2001
64. Lê Phước Minh (2005), Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Lê Phước Minh
Năm: 2005
65. Nguyễn Đình Phan (2012), "Nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa", Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 128, tháng 8 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Năm: 2012
66. Phạm Phụ (2012), Đổi mới căn bản về tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam, Phần I, địa chỉ truy cập: Http://www.vncold.vn/Modules/CMS/Upload/10/YKien_BinhLuan/120814_1/DoiMoiTaiChinh1Vw55.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản về tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam, Phần I
Tác giả: Phạm Phụ
Năm: 2012
98. Website: http://people.howstuffworks.com/police-academy1.htm 99. Website: https://www.newcops.co.nz/application-process/faqs Link
100. Website: http://www.allentownpa.gov/Government/DepartmentsBureaus/Police/ PoliceAcademy/tabid/147/Default.aspx Link
101. Website: http://policelink.monster.com/training/articles/3295-police-academy-self-sponsorship-jump-start-your-career Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Suất thu lợi của GDĐH - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.1 Suất thu lợi của GDĐH (Trang 32)
Bảng 1.2: Chi NSNN cho GDĐH bình quân một SV so với GDP-đn - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.2 Chi NSNN cho GDĐH bình quân một SV so với GDP-đn (Trang 42)
Bảng 1.3: Chi NSNN cho GDĐH Việt Nam (2007 - 2010) - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.3 Chi NSNN cho GDĐH Việt Nam (2007 - 2010) (Trang 43)
Bảng 1.4: Tình hình chi GD ở các nước EU năm 2001 - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.4 Tình hình chi GD ở các nước EU năm 2001 (Trang 44)
Bảng 1.6: Tình hình thu học phí GDĐH Việt Nam (2001 - 2008) - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.6 Tình hình thu học phí GDĐH Việt Nam (2001 - 2008) (Trang 53)
Hình 1.1: Mối quan hệ CPĐV = f(GDP-đn) - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Hình 1.1 Mối quan hệ CPĐV = f(GDP-đn) (Trang 60)
Bảng 1.8: Tỷ lệ chi phí GD cho một học sinh (SV) một số nước - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 1.8 Tỷ lệ chi phí GD cho một học sinh (SV) một số nước (Trang 62)
Bảng 2.1: Số lượng SV ĐH trong các CSGDĐH ngành Công an năm 2012 - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 2.1 Số lượng SV ĐH trong các CSGDĐH ngành Công an năm 2012 (Trang 82)
Bảng 2.3: Trình độ đội ngũ cán bộ, GV trong các CSGDĐH ngành Công an - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 2.3 Trình độ đội ngũ cán bộ, GV trong các CSGDĐH ngành Công an (Trang 83)
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả huy động các nguồn tài chính   của các CSGDĐH ngành Công an từ năm 2006 - 2012 - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả huy động các nguồn tài chính của các CSGDĐH ngành Công an từ năm 2006 - 2012 (Trang 88)
Hình 2.2: Cơ cấu nguồn tài chính huy động của các CSGDĐH ngành Công an - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Hình 2.2 Cơ cấu nguồn tài chính huy động của các CSGDĐH ngành Công an (Trang 89)
Hình 2.3: Cơ cấu các nguồn kinh phí thuộc NSNN - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Hình 2.3 Cơ cấu các nguồn kinh phí thuộc NSNN (Trang 90)
Bảng 2.5: Kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH ngành Công an - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Bảng 2.5 Kinh phí thường xuyên của các CSGDĐH ngành Công an (Trang 91)
Hình 2.4: Tương quan giữa tốc độ tăng NSNN cấp cho các CSGDĐH với tốc độ - Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện chính sách tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học ngành công an
Hình 2.4 Tương quan giữa tốc độ tăng NSNN cấp cho các CSGDĐH với tốc độ (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm