1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay

118 39 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa
Người hướng dẫn TS. Hoàng Văn Thành
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Luật
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử .... 81 Trang 7 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Chú giải BVQLNTD

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

KHOA LUẬT -o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Mã sinh viên : 22A4060065

Giảng viên hướng dẫn : TS Hoàng Văn Thành

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2023

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

KHOA LUẬT -o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Mã sinh viên : 22A4060065

Giảng viên hướng dẫn : TS Hoàng Văn Thành

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam hiện nay” là một công

trình nghiên cứu độc lập, được tiến hành công khai dựa trên sự cố gắng nỗ lực của bản thân, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, khoa học của giảng viên hướng dẫn: TS Hoàng Văn Thành, không có bất cứ sự sao chép của người khác Tất cả những sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho khóa luận đều được trích dẫn đầy đủ và ghi rõ nguồn gốc rõ ràng Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn khách quan và trung thực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các nội dung trong đề tài

Hà Nội, Ngày 19 tháng 05 năm 2023

Nguyễn Thị Mai Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất trong quãng đời mỗi người sinh viên Khóa luận tốt nghiệp là tiền đề nhằm trang bị cho chúng em những kỹ năng nghiên cứu, những kiến thức quý báu trước khi lập nghiệp, đồng thời cũng là sự đánh dấu cho mốc thời gian quan trọng nhất cuộc đời sinh viên - khoảnh khắc mà hành trình 4 năm đại học bản thân em đều mong đợi nhưng tới khi đến thì lại chẳng muốn rời xa- thời điểm sắp phải rời xa Học viện Ngân hàng đã 4 năm gắn bó Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn thầy TS Hoàng Văn Thành- Phó trưởng phòng Tổ chức cán bộ Học viện Ngân Hàng đã tận tình giúp đỡ, định hướng cách tư duy và cách làm việc khoa học Đó là những góp ý hết sức quý báu không chỉ trong quá trình thực hiện khóa luận này mà còn là hành trang tiếp bước cho em trong quá trình học tập và lập nghiệp sau này

Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô khoa Luật- Học viện Ngân hàng đã tận tình chỉ dạy và trang bị cho em những kiến thức cần thiết trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường, làm nền tảng cho em có thể hoàn thành được khóa luận này

Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, tập thể lớp K22LKTE, những người luôn sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ cũng như tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 6

1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 6

1.1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6

1.1.2 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 8

1.1.3 Những yếu tố tác động đến bảo vệ quyền lợi trong giao dịch thương mại điện tử 15

1.1.4 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 16

1.2 Khái quát pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 17

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 17

1.2.2 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 19

1.2.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử 20

1.2.4 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở một số quốc gia trên thế giới 23

Trang 6

CHƯƠNG 2 27

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 27

2.1.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 27

2.1.2 Đánh giá chung về thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 48

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 54

2.2.1 Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 54

2.2.2 Đánh giá chung về thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 64

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3 70

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 70

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 70

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 71

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay 75

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN CHUNG 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 1

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVQLNTD Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng CCT&BVNTD Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng CTMĐT&KTS Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số

Trang 8

Bảng 2.2.1c: Thống kê các trở ngại khi mua sắm trực tuyến của người tiêu

dùng (theo kết quả khảo sát)

58

Bảng 2.2.1d: Thống kê những hành vi bị xâm phạm của NTD khi mua

sắm trực tuyến ( theo kết quả khảo sát nhanh)

60

Bảng 2.2.1d: Thống kê phản ứng NTD sau khi bị xâm phạm quyền lợi

(theo kết quả khảo sát nhanh)

63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau đại dịch Covid-19, nền kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều chuyển biến, đặc biệt dịch bệnh đã khiến cho thói quen tiêu dùng của người dân có nhiều thay đổi và

mở ra nhiều cơ hội cho các phương thức kinh doanh trên nền tảng công nghệ số “Theo

số liệu của cơ quan quản lý cho thấy, nước ta hiện đang có khoảng 75 triệu người dùng Internet và nhiều NTD sẵn sàng với dịch vụ kỹ thuật số Năm 2020 tại Việt Nam,

có khoảng 49,3 triệu NTD tham gia mua sắm trực tuyến” (Duy Vũ, 2022) Những con

số trên đã cho thấy số người sử dụng mạng Internet nhằm mua sắm online là khá cao

và có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt sau đại dịch covid-19 Vì vậy, có thể coi các giao dịch TMĐT ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống của người dân, bởi nó vừa đem lại nhiều thuận lợi cho các giao dịch tiêu dùng nhưng đồng thời cũng đem đến nhiều sự bất cập như: lợi dụng TTCN để chiếm đoạt tài sản,… và đặc biệt là tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng trên môi trường mạng thời gian qua đã tăng

rõ rệt Cụ thể, “Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong năm 2022 CTMĐT&KTS đã phối hợp với Tổng cục Quản lý thị trường gỡ bỏ 1.663 gian hàng với 6.437 sản phẩm

vi phạm; chặn 5 website có dấu hiệu lợi dụng TMĐT để kinh doanh hàng giả, hàng nhái và hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ Tổng mức xử phạt cho các hành vi gian lận TMĐT là 222 triệu đồng Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo trong 2- 3 năm tới, tỷ lệ gian lận trên TMĐT sẽ chiếm 50 - 60% so với tổng thể các hình thức gian lận thương mại nói chung” (Ánh Ngọc, 2023) Trong khi đó, Luật BVQLNTD năm 2010 đang

thiếu vắng những quy định phù hợp với những mô hình kinh doanh có yếu tố mới trong điều kiện chuyển đổi số Trên thực tế hiện nay, việc BVQLNTD trong giao dịch TMĐT còn khá nhiều khó khăn, do lỗi của các chủ thể kinh doanh, do sự thiếu hiểu biết của NTD và đặc biệt thiếu cơ sở pháp lý Có thể thấy tuy đã có một số văn bản đề cập đến TMĐT nhưng chưa có văn bản nào quy định cụ thể về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT như quyền, nghĩa vụ của NTD; trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức kinh

Trang 10

doanh khi tham gia giao dịch TMĐT; chế tài xử lý và phương thức giải quyết tranh chấp… Trước tình hình này đòi hỏi cần xây dựng một cơ chế pháp lý hoàn thiện và đầy đủ về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT

Chính những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp của mình Qua đây, người viết muốn mang đến một cái nhìn khái quát về những vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong các giao dịch TMĐT, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BVQLNTD trong các giao dịch TMĐT tại Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan công trình nghiên cứu

Các đề tài liên quan đến vấn đề BVQLNTD nói chung và đặc biệt là BVQLNTD trong giao dịch TMĐT nói riêng, tuy không có quá nhiều mới mẻ nhưng được các nhà chuyên gia, nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Minh

Hà (2018), “Thực trạng pháp luật về BVQLNTD trong TMĐT ở Việt Nam” Hay Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Ngọc Quyên (2022), “Pháp luật về BVQLNTD trong TMĐT ở Việt Nam hiện nay”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Văn Thùy Linh(2022), “Pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch mua bán hàng hoá ở nền kinh tế số”

Ngoài ra còn có một số bài viết khác trên các tạp chí, báo như: bài viết “Bàn về vấn đề bảo vệ TTCN của NTD trong TMĐT” của tác giả Nguyễn Thu Hằng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2019 Hay bài viết “Hoàn thiện Luật BVQLNTD” của TS

Phan Thị Lan Hương được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12

(460), tháng 6/2022; bài viết của tác giả Phí Mạnh Cường “Pháp luật bảo vệ NTD trong TMĐT” trên Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 08/2020

Trang 11

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những phân tích cụ thể về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT Tuy nhiên trên thực tế những công trình nghiên cứu liên quan đến BVQLNTD trong giao dịch TMĐT còn khá ít nên chưa thể cập nhật được tình hình thực tiễn và thực thi pháp luật Trên cơ sở các bài nghiên cứu trên, người viết một mặt có sự kế thừa, chọn lọc vấn đề khoa học lý luận hợp lý, mặt khác cố gắng tìm hiểu vấn đề ở khía cạnh mới, tập trung vào các quy định PLVN về BVQLNTD, đặc biệt là trong giao dịch TMĐT trên tinh thần kết hợp việc phân tích, so sánh và tổng hợp các QĐPL hiện hành

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm hướng đến mục đích sau: (i) khái quát cơ sở lý luận về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT; (ii) Phân tích, đánh giá được thực trạng những QĐPL về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT; (iii) Thực tiễn áp dụng QĐPL hiện nay và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT tại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu có hệ thống, khoa học các vấn đề mang tính lý luận về

BVQLNTD trong các giao dịch TMĐT bao gồm: (i) Khái quát về BVQLNTD ; (ii) Khái niệm, đặc điểm, các mô hình về giao dịch TMĐT; (iii) Các nội dung pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT; (iv) Pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT tại một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam;…

Thứ hai, phân tích thực trạng các QĐPL hiện hành và đánh giá thực tiễn thi

hành pháp luật hiện nay dựa trên các nội dung như: (i) Quyền của NTD; (ii) Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh; (iii) Xử lý vi phạm pháp luật; (iv) Phương thức giải quyết tranh chấp;… Qua đó chỉ ra những ưu, nhược điểm, trong việc BVQLNTD trong giao dịch TMĐT tại Việt Nam hiện nay

Trang 12

Thứ ba, xây dựng các giải pháp chung, đề xuất hoàn thiện QĐPL về BVQLNTD

trong giao dịch TMĐT tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề về lý luận, pháp lý cùng với các văn bản pháp luật, các quy định; quan điểm xung quanh vấn đề BVQLNTD giao dịch TMĐT ở một số nước trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

giao dịch TMĐT giữa NTD với thương nhân chủ yếu thông qua các PTĐT được NTD

sử dụng phổ biến như mạng lưới Internet

Về thời gian: Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu kể từ thời điểm Luật Giao dịch

điện tử 2005 ra đời và có hiệu lực đến nay Ngoài ra, tác giả cũng thu thập số liệu trong thời gian gần đây về việc BVQLNTD trong giao dịch TMĐT nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá chính xác về thực trạng vấn đề nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Leenin cùng với những quan điểm của Đảng và Nhà nước về hội nhập và phát triển kinh tế đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như:

Tại chương 1, người viết đã sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, bình luận khi nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT Tại chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp thống kê và nghiên cứu xã hội học khi khái quát và đánh giá thực trạng QĐPL và thực tiễn thi hành pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT,…

Trang 13

Tại chương 3, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích và tổng hợp khi đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện QĐPL và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT,

6 Ý nghĩa nghiên cứu

các QĐPL và một số bất cập trong các QĐPL liên quan đến BVQLNTD trong giao dịch TMĐT

BVQLNTD trong giao dịch TMĐT, đề tài đưa ra định hướng, một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện QĐPL và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế Bên cạnh đó, khóa luận này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và những người nghiên cứu về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành hành pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

1.1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau và chưa có sự thống nhất nhất định về khái niệm NTD Nếu xét dưới góc độ kinh tế, cụ thể là theo từ điển Kinh

tế học hiện đại định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, các cá nhân và nhóm cá nhân” (David D Pearce, 1999)

Xét dưới góc độ pháp lý, cụ thể theo pháp luật Trung Quốc mặc dù không có điều

khoản giải thích cụ thể về khái niệm NTD nhưng tại Điều 2 Luật BVQLNTD năm

1993 quy định:“Trường hợp người tiêu dùng, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật” Nếu hiểu theo cách này, pháp luật Trung

Quốc quy định NTD chỉ là cá nhân (thể nhân) Hay theo tại Điều 3 Luật Bảo vệ NTD

Thái Lan quy định: “NTD là người mua hàng hóa, dịch vụ hoặc được chào mua hàng hoặc dịch vụ từ một người kinh doanh, bao gồm người thực sự sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ có nguồn gốc từ kinh doanh mặc dù người này không trực tiếp trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ đó” Như vậy theo pháp luật Thái lan NTD

bao gồm cả thể nhân và pháp nhân vì NTD ở đây là những người sử dụng hàng hóa dịch vụ vào mục đích tiêu dùng và sử dụng vào mục đích thương mại Còn theo PLVN,

tại Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Người tiêu dùng là người mua,

Trang 15

sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”, tức NTD là cá nhân, tổ chức không nhằm mục đích lợi nhuận Bên cạnh đó, Bản Dự thảo Luật BVQLNTD (sửa đổi) 6.7-21/2/2013 cũng đưa ra khái niệm: "NTD là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức và không vì mục đích thương mại" (Khoản 1, Điều 3)

Qua các khái niệm về “người tiêu dùng” trên có thể chia ra thành hai cách hiểu

khác nhau về NTD Cụ thể, một là, NTD là cá nhân (thể nhân) (theo cách hiểu của

pháp luật Trung Quốc) Tuy nhiên cách hiểu này có điểm hạn chế vì trong trường hợp các pháp nhân hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận như các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội,… họ cũng như những NTD mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm

mục đích tiêu dùng cho tổ chức, vì vậy họ cũng cần được pháp luật bảo vệ Hai là, NTD gồm cả cá nhân và pháp nhân (Thái Lan, Việt Nam) Nếu hiểu theo cách hiểu

này, đã khắc phục được hạn chế theo cách hiểu thứ nhất tuy nhiên có vẻ nội hàm của

nó có vẻ hơi rộng

Như đã nói ở trên, NTD theo quy định của nước ta sẽ được hiểu theo cách thứ hai Theo đó, NTD không chỉ gồm cá nhân mà còn có các tổ chức nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận hay mục bán lại để sinh lời Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được xác định một cách cụ thể, rõ ràng tư cách của NTD bởi trong các trường hợp xác định mục đích tiêu dùng của các tổ chức nhưng lại có mục đích chủ yếu là kinh doanh…

“Ngoài ra, trong khái niệm NTD sử dụng dấu phẩy giữa hai động từ “mua” và “sử dụng”, càng gây khó khăn hơn cho việc phân định chủ thể là “NTD” giữa “người mua”

và “người sử dụng” Câu hỏi đặt ra là dấu phẩy ở đây có nghĩa là muốn coi là “người tiêu dùng” thì “người mua” đồng thời phải là “người sử dụng” (hai hành động liên tục

do cùng một chủ thể thực hiện) hay pháp luật thừa nhận hai đều là NTD (chỉ cần “mua” hoặc “sử dụng” đều được) Có thể thấy rằng, đây là một định nghĩa chưa thực sự rõ ràng, có thể gây hiểu lầm rằng pháp luật chỉ bảo vệ người mua mà không bảo vệ người dùng từ chối mua hàng hóa đó” (Cao Xuân Quảng, 2020) Có thể thấy, mặc dù mỗi phạm trù, mỗi lĩnh vực lại có những cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung đều có một

Trang 16

cách hiểu cơ bản, đều đưa ra NTD là người có hành vi mua, sử dụng dịch vụ, hàng hóa

để phục vụ các hoạt động sinh hoạt, tiêu dùng

quan hệ mua bán là điều rất cần thiết Bởi muốn kinh tế phát triển thì cần đẩy mạnh việc tiêu dùng và đảm bảo mong muốn của NTD được đáp ứng Không những vậy, NTD khi tham gia giao dịch TMĐT với thương nhân sẽ gặp nhiều bất lợi như: yếu thế

về thông tin; yếu thế về khả năng đàm phán; giá cả; các điều kiện giao dịch; yếu thế về khả năng chịu các rủi ro phát sinh từ quá trình tiêu dùng hàng hóa, do đó trở thành đối tượng được bảo vệ Tuy nhiên Luật BVQLNTD lại chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào về “BVQLNTD” Vì vậy, dưới góc nhìn của tác giả, BVQLNTD có thể hiểu là việc đảm bảo quyền cho người mua, sử dụng dịch vụ, hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức, gia đình, cá nhân

1.1.2 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại

mặc dù nó đã xuất hiện khá lâu từ trước đó Cụ thể theo Ủy ban TMĐT của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm

Trang 17

(cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet" (Wikipedia, Bách khoa toàn thư mở, TMĐT) Bên cạnh đó,, theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến) Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công" (Wikipedia, Bách khoa toàn

thư mở, TMĐT)

Còn ở PLVN, cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định:

“Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” Theo đó tại khoản 17 Điều 3 Luật kế toán 2015 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” Quan điểm này của PLVN cho thấy TMĐT là hoạt động nhằm

mục đích sinh lời và tiến hành nhiều hoạt động khác nhau thông qua các PTĐT Ngoài

ra có thể tiến hành toàn bộ hoặc một bộ quy trình chứ không nhất thiết phải tiến hành toàn bộ quy trình bằng PTĐT

Dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, hiện nay mọi người giao tiếp, trao đổi thông qua mạng lưới Internet ngày càng nhiều Và đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của lĩnh vực TMĐT Qua đó, có thể thấy TMĐT đã trở thành công cụ giao dịch nổi tiếng của nhiều công ty thương mại lớn trên thế giới và giúp các công ty với khách hàng trao đổi giao dịch hiệu quả và thuận lợi hơn Các hoạt động giao dịch này bao gồm: mua bán, quảng cáo, đặt hàng, thanh toán, giao hàng… tiến hành trên nền tảng điện tử Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào về giao dịch TMĐT, vì vậy có thể hiểu đơn giản về khái niệm này như

sau: Giao dịch TMĐT là việc mua, bán dịch vụ, hàng hóa, được thực hiện toàn bộ hoặc

Trang 18

một phần hoạt động bằng PTĐT thông qua việc kết nối với hệ thống mạng lưới Internet, mạng viễn thông di động, mạng mở khác,… Như vậy, có thể thấy giao dịch

TMĐT là một hình thức kinh doanh trực tuyến diễn ra trên các trang mạng Internet Và các cửa hàng bán sản phẩm trên các kênh TMĐT là các cửa hàng online Mô hình kinh doanh TMĐT được coi như một trong những giải pháp giúp kinh tế quốc gia phát triển mạnh mẽ

b) Đặc điểm

TMĐT với tư cách là một phương thức tiến hành hoạt động thương mại mới xuất hiện và kế thừa các đặc tính chung của loại hình thương mại truyền thống Tuy nhiên, TMĐT lại có những đặc điểm khác biệt cơ bản, cụ thể giao dịch thông qua PTĐT Và cũng chính sự khác biệt này đã tạo nên những nét đặc trưng riêng của giao dịch TMĐT

Một là, các bên khi thực hiện giao dịch trong TMĐT không trực tiếp tiếp xúc với

nhau Có thể thấy, từ khi mạng Internet xuất hiện việc trao đổi thông tin ngày càng

được mở rộng với số lượng người dùng tăng mạnh trên phạm vi toàn thế giới Những người dùng đó có thể là cá nhân, tổ chức hoặc người quen biết trước đó hay thậm chí chưa từng quen biết nhau Họ gặp gỡ nhau qua những chợ ảo trên mạng để thực hiện khảo sát hàng và mua bán Khác với giao dịch bằng phương thức truyền thống các bên phải trực tiếp liên hệ với nhau và ký kết hợp đồng thì đối với các giao dịch TMĐT, việc giao kết hợp đồng được tiến hành gián tiếp thông qua hệ thống mạng lưới Internet Theo hình thức giao dịch này, dữ liệu của một phần hoặc toàn bộ giao dịch xuất hiện dưới dạng điện tử và được lưu trữ trong các thiết bị như ổ cứng, máy chủ, Do đó mà giờ đây các bên tham gia vẫn có thể thực hiện giao dịch một cách bình thường mà không cần gặp mặt trực tiếp Nếu theo giao dịch truyền thống, sẽ tốn chi phí và khá nhiều thời gian cho hai bên gặp mặt trực tiếp thì đối với giao dịch TMĐT không cần gặp mặt trực tiếp mà vẫn thực hiện được tất cả các công đoạn từ việc tìm kiếm khách hàng, giới thiệu, đàm phán, ký kết,… do đó tiết kiệm được chi phí, thời gian,…

hiện sẽ không bị giới hạn Sở dĩ nói như vậy là bởi vì phạm vi hoạt động của thị trường

Trang 19

trong TMĐT là thị trường phi biên giới Chỉ cần thông qua Internet, mọi người ở tất cả các nước trên khắp toàn cầu đều có thể liên lạc với nhau và không cần di chuyển tới bất

kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào giao dịch, giúp cho các đối tượng kinh doanh có thể nhanh chóng tiếp cận được với NTD và các nhà cung ứng hay thậm trí là các đối tác

truyền thống, các chủ thể cơ bản gồm hai bên là bên bán và bên mua nhưng đôi khi xuất hiện nhiều hơn, tuy nhiên các chủ thể chủ yếu tham gia với tư cách là các bên của hợp đồng Còn đối với hoạt động TMĐT có ít nhất ba chủ thể tham gia, ngoài hai chủ thể cơ bản, còn có bên cung cấp dịch vụ mạng, thanh toán, cơ quan chứng thực, cơ quan bảo mật thông tin Có thể thấy bên thứ ba trong giao dịch TMĐT kể trên tuy không tham gia trực tiếp nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo giá trị pháp lý và tính hiệu quả cho các giao dịch TMĐT

Bốn là, các chủ thể cần có trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin Sở dĩ nói

vậy là vì TMĐT được tiến hành thông qua việc sử dụng phần mềm công nghệ, kĩ thuật hiện đại Vì vậy dù có thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động của TMĐT thì các bên vẫn cần có một sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực này nhằm mang lại kết quả cao khi sử dụng và tránh những sai sót, nhầm lẫn

c) Các mô hình về giao dịch TMĐT

Theo thống kê hiện nay trên thế giới mô hình giao dịch TMĐT bao gồm 9 loại

mô hình như: B2B (Doanh nghiệp với Doanh nghiệp); B2C (Doanh nghiệp với Khách hàng); B2E (Doanh nghiệp với Nhân viên); B2G (Doanh nghiệp với Chính phủ); G2B (Chính phủ với Doanh Nghiệp); G2G (Chính phủ với Chính phủ); G2C (Chính phủ với Công dân); C2C (Khách hàng với Khách hàng); C2B (Khách hàng với Doanh nghiệp) Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi quốc gia về điều kiện kinh tế- xã hội mà việc lựa chọn

mô hình giao dịch điện tử cũng khác nhau Cụ thể, ở Việt Nam có 3 mô hình giao dịch TMĐT chủ yếu như sau:

Trang 20

Thứ nhất, mô hình B2B, có thể hiểu đơn giản là TMĐT giữa các doanh nghiệp

Hiện nay, mô hình này được rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn bởi những lợi ích của nó như giảm chi phí về việc nghiên cứu thị trường, marketing hiệu quả, độ nhận diện cao, tăng cơ hội hợp tác giữa nhiều doanh nghiệp với nhau, tạo ra thị trường đa dạng mặt hàng và các bên tham gia Mô hình này đã hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp nhất

là kinh doanh quốc tế Có thể kể đến mô hình TMĐT B2B điển hình ở Việt Nam như Alibiba.com – đây cũng được coi là website hàng đầu thế giới, đã xây dựng lên những khu chợ TMĐT với mục đích tạo một môi trường và kết hợp hàng nghìn doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn

TMĐT giữa các doanh nghiệp và NTD hay nói cách khác đây là việc mua bán giữa doanh nghiệp với NTD trên mạng Internet Ở Việt Nam, B2C có các dạng sau: Website TMĐT; Sàn giao dịch TMĐT; Website khuyến mại trực tuyến; Website đấu giá trực tuyến Có thể kể đến những công ty kinh doanh thành công trên thế giới theo mô hình này là Amazon.com, Best Buy, AliExpress… hay nhà bán lẻ trực tuyến độc quyền bao gồm BigC, Elise, HoangPhuc, Bibomart… Tiết kiệm chi phí bán hàng chính là hiệu quả được mô hình này đem lại tới các doanh nghiệp, chỉ cần xây dựng website TMĐT

có khả năng tiếp xúc được lượng khách hàng khổng lồ qua Internet, không mất tiền thuê mặt bằng, người bán hàng,… Không những vậy, NTD cũng sẽ thoải mái hơn trong việc lựa chọn sản phẩm hay thực hiện mua hàng với các thao tác nhanh chóng, sản phẩm được giao tới tận nhà, không mất thời gian đi lại

Thứ ba, mô hình C2C - Khách hàng với Khách hàng - TMĐT giữa các cá nhân và

NTD với nhau Đây là mô hình kinh doanh có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và ngày càng phổ biến Cụ thể, đây là các Website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên mạng và một số hoạt động của mô hình C2C như: hoạt động đấu giá (mua hàng); giao dịch trao đổi (không sử dụng tiền tệ); giao dịch hỗ trợ (bảo trì, thanh toán trung gian…); Bán tài sản ảo (điển hình nhất là game online) Hiện nay, Việt Nam có các website hoạt động theo mô hình C2C như chodientu.com; heya.com.vn; 1001shoppings.com; Sendo.vn

Trang 21

hoặc Shopee,… Qua đây, có thể thấy hoạt động của mô hình này vừa mới mẻ vừa tiện lợi khi cá nhân có thể bán cho cá nhân, cá nhân bán trở thành người kinh doanh các mặt hàng mà không cần phải trở thành pháp nhân

1.1.2.2 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

a) Khái niệm

Có thể thấy, BVQLNTD, đặc biệt là trong giao dịch TMĐT đang là việc được xã hội quan tâm, bởi đối với một đất nước, NTD có vai trò rất lớn Sở dĩ nói vậy là vì, niềm tin của NTD chính là “kim chỉ nan” vô cùng quan trọng của mọi chủ thể kinh doanh Nhưng hiện nay lại chưa có định nghĩa chính thức hay một cách giải thích cụ

thể về “bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử” Vậy nên dưới góc nhìn và cách hiểu của tác giả về “BVQLNTD là việc đảm bảo quyền người mua, sử dụng dịch vụ, hàng hóa nhằm thỏa mãn như cầu tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức, cá nhân và gia đình” kết hợp với “Giao dịch TMĐT là việc mua, bán dịch

vụ, hàng hóa, được tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động bằng PTĐT” Có thể hiểu “BVQLNTD trong giao dịch TMĐT” là việc đảm bảo quyền cho người mua, sử

dụng dịch vụ, hàng hóa nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của tổ chức, gia đình, cá nhân thông qua PTĐT có kết nối mạng,…

b) Đặc điểm

Thứ nhất, NTD nói chung và đặc biệt trong giao dịch TMĐT là cá nhân Hiện

nay, có hai luồng ý kiến đưa ra, cụ thể: một là, NTD là cá nhân; hai là, NTD là các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, NTD chính là cá nhân Sở dĩ nói như vậy là vì, (i) NTD được hưởng sự ưu tiên nhiều hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong giao dịch với thương nhân bán dịch vụ, hàng hóa Xuất phát từ việc NTD thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng, hạn chế này thể hiện rõ

ràng ở các cá nhân đơn lẻ hơn so với tổ chức; (ii) “pháp luật bảo vệ NTD được đặt ra

để hỗ trợ luật dân sự và thương mại để khắc phục những hạn chế của quyền tự do kế

Trang 22

ước khi không có sự cân xứng về điều kiện kinh tế, trình độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luật BVQLNTD không thay thế pháp luật dân sự, thương mại” (Nguyễn Ngọc Quyên, 2022)

Thứ hai, việc mua hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt “Đa số các nước đều không chấp nhận các giao dịch tiêu

dùng vì mục đích thương mại hoặc nghề nghiệp Điều này hết sức hợp lý vì đây là phạm điều chỉnh của pháp luật thương mại hoặc dân sự Vì vậy, cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành NTD khi việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng,

sinh hoạt”.(Cao Xuân Thắng, 2020) Hay nói cách khác, “mục đích sinh hoạt, tiêu dùng

ở đây có nghĩa là NTD mua dịch vụ, hàng hóa để sử dụng cho các nhu cần của cá nhân mình, gia đình mình Mục đích sinh hoạt, tiêu dùng không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp”

(Nguyễn Thị Vân Anh (2014), Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tr.12)

Thứ ba, hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của giao dịch và không bị pháp luật cấm

Trước hết, dịch vụ, hàng hóa thuộc đối tượng được phép lưu thông và không thuộc danh mục bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật Hơn nữa, hàng tiêu dùng là hàng hóa sử dụng với mục đích cuối cùng là để tiêu dùng chứ không phải sản xuất ra các sản phẩm khác Cụ thể như, mặt hàng thiết yếu hàng ngày của NTD như đồ ăn, thức uống, thuốc, hay các dịch vụ như: chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí,… được coi là đối tượng đương nhiên của giao dịch với NTD

Thứ tư, phương thức thực hiện thông qua các giao dịch TMĐT hay nói cách khác thông qua các PTĐT có kết nối mạng Khác với giao dịch theo phương thức

truyền thống, với phương thức thông qua giao dịch TMĐT này, NTD có thể tham gia các giao dịch mọi nơi, bất kỳ khoảng thời gian nào Hơn nữa việc giao dịch giữa bên mua và bên bán sẽ không cần phải gặp mặt trực tiếp mà sẽ thực hiện các giao dịch hay trao đổi thông tin qua các PTĐT có kết nối internet Hay nói cách khác, về bản chất hoạt động, NTD trong giao dịch TMĐT chỉ cần kết nối Internet có thể truy cập Website hoặc App Mobile, ngoài ra, họ không bị giới hạn về địa điểm, thời gian,… cho việc lựa

Trang 23

chọn, mua sắm hàng hóa Bên cạnh những sự thuận tiện mà phương thức này đem lại thì cũng có những hạn chế, bấp cập rât lớn như: chất lượng dịch vụ, hàng hóa; TTCN

của khách hàng bị lộ,…

1.1.3 Những yếu tố tác động đến bảo vệ quyền lợi trong giao dịch thương mại điện

tử

Thứ nhất, hệ thống pháp lý và quản lý của các cơ quan có liên quan Một hệ thống

pháp lý chưa đầy đủ sẽ tạo những kẽ hở cho các cơ sở sản xuất kinh doanh không chân chính thực hiện những hoạt động gây ảnh hưởng lớn đến NTD Do đó, sự kiểm tra, quản lý, giám sát đôn đốc thực hiện của Nhà nước và các cơ quan chức năng là vô cùng cần thiết trong việc tham gia BVQLNTD Nếu thiếu sự tham gia này, quyền lợi NTD

sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi vì sẽ không có đủ chế tài cũng như quy định để xử phạt các hoạt động gây tổn hại tới quyền của NTD Từ đó các chủ thể kinh doanh sẽ không ngần ngại lách luật và có những hành động vi phạm tới quyền lợi NTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Thứ hai, xuất phát từ yếu tố lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh Mục đích chính

mà các thương nhân muốn hướng đến đều là tối đa hóa lợi nhuận, doanh thu tăng cao

Và để có thể tăng lợi nhuận, một số doanh nghiệp thường lợi dụng những khiếm khuyết pháp luật, sơ hở trong công tác quản lý và lòng tin của NTD để tiến hành những hành vi thủ đoạn gian dối làm tổn hại đến lợi ích của NTD dưới những hình thức rất đa dạng, như cung cấp hàng hóa, dịch vụ kém phẩm chất, ép giá, gian lận về đo lường hoặc đưa ra những thông tin thiếu trung thực dễ gây nhầm lẫn Khi đó, NTD thường mắc phải những sai lầm trong việc lựa chọn tiêu dùng và có nguy cơ sử dụng dịch vụ, hàng hóa thiếu độ an toàn, đặc biệt là những sản phẩm thiết yếu có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người

Thứ ba, xuất phát từ bản thân NTD Có thể thấy, trong quan hệ mua bán giữa các

chủ thể kinh doanh với NTD, NTD thường là bên yếu, không có đầy đủ kiến thức để tự mình biết được hàng hóa, dịch vụ có thực sự tốt như những thông tin được công bố hay không Không những thế việc thực hiện giao dịch này lại được thực hiện thông qua

Trang 24

PTĐT hay nói cách khác là thực hiện giao dịch một cách gián tiếp Chính từ những nguyên nhân trên khiến các chủ thể kinh doanh lợi dụng kẽ hở đó để gây tổn hại đến quyền lợi của NTD Nếu sự quản lý của Nhà nước không đủ mạnh hay không hiệu quả trong việc trấn áp những hoạt động đó thì quyền lợi của NTD sẽ khó được đảm bảo

Thứ tư, xuất phát từ yếu tố thói quen, sở thích của NTD Thói quen, sở thích của

NTD cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc BVQL NTD trong giao dịch TMĐT Thói quen, sở thích tiêu dùng thường bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa, truyền thống, lối sống của gia đình và cộng đồng dân cư NTD Việt Nam thường có tâm lý tiết kiệm chi tiêu nên thường sẽ lựa chọn những trang bán hàng online giá rẻ, chất lượng kém Đặc biệt đối với các sản phẩm thiết yếu như đồ ăn hay mỹ phẩm… nếu không tìm hiểu kỹ và mua vì giá rẻ, không cần quan tâm đến chất lượng, độ uy tín của cửa hàng như thế nào thì sẽ khiến cho sức khỏe của NTD bị ảnh hưởng rất lớn

Thứ năm, xuất phát từ yếu tố kinh tế - xã hội Bởi điều kiện kinh tế - xã hội quyết

định trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển Mà giao dịch TMĐT tất nhiên

sẽ giao dịch thông qua các PTĐT, mạng lưới Internet Nên nếu kinh tế - xã hội kém phát triển chắc chắn khiến cho trình độ về khoa học, công nghệ, kĩ thuật sẽ lạc hậu, tác động không nhỏ đến các quá trình tiến hành giao dịch của NTD Hay khi phát sinh vấn

đề về các PTĐT, hệ thống mạng nếu không có trình độ chuyên môn, kĩ thuật về công nghệ thì sẽ khó giải quyết Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển tạo thuận lợi cho trình

độ công nghệ- khoa học phát triển giúp cho việc tiến hành giao dịch thuận lợi, an toàn hơn cho NTD

1.1.4 Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Thứ nhất, NTD đối mặt với bất lợi khi tiến hành giao dịch TMĐT Sở dĩ nói như

vậy là vì, sự ra đời của mạng lưới internet đã giúp cho các giao dịch TMĐT của NTD với các chủ thể kinh doanh thuận tiện và nhanh chóng hơn Chẳng hạn như chỉ cần ở nhà và với vài thao tác có thể đặt hàng hóa mà mình mong muốn Tuy nhiên, NTD cũng vấp phải những rủi ro liên quan đến độ bảo mật TTCN, chất lượng, giá cả dịch

Trang 25

vụ, hàng hóa không rõ ràng và thậm chí là xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng,… Vì vậy, để NTD có thể sống trong một môi trường TMĐT an toàn, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp lý đầy đủ Bởi chỉ có pháp luật mới đảm bảo được sự công bằng để BVQLNTD, đặc biệt là trong giao dịch TMĐT

Thứ hai, lợi dụng sự yếu thế của NTD thông qua các PTĐT mà các đối tượng kinh doanh xâm phạm đến quyền lợi NTD Có thể thấy, khi thực hiện giao dịch TMĐT

thông qua các PTĐT, NTD sẽ không phải gặp mặt trực tiếp người bán, mọi thông tin về hàng hóa, chất lượng,… sẽ do người bán cung cấp gián tiếp thông qua các PTĐT có kết nối mạng Lợi dụng điểm yếu này mà các đói tượng kinh doanh đã không ngần ngại thực hiện hành vi xâm phạm khiến quyền và lợi ích của NTD bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho mình mà không quan tâm đến NTD Chẳng hạn như, bên bán cung cấp những mặt hàng kém chất lượng, hàng lỗi hỏng, … khác hoàn toàn so với thông tin mà trước đó bên bán đã cung cấp cho NTD hay không giao hàng hoặc giao hàng không đầy đủ,… Ngoài việc cần có một hệ thống pháp lý điều chỉnh thì chúng ta cần nỗ lực, chung tay đẩy lùi những hành vi xâm phạm này nhằm BVQLNTD và tạo nên môi trường tiêu dùng văn minh

1.2 Khái quát pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Tại Việt Nam, những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về vấn đề bảo vệ NTD đó

là Pháp lệnh BVQLNTD ban hành ngày 27 tháng 04 năm 1999 cùng Nghị định 69/2001/NĐ-CP Tuy những QĐPL trong hai văn bản trên lại quá nguyên tắc và không

dễ áp dụng cho tình hình nước ta lúc bấy giờ, nhưng phần nào nó cũng đã tạo tiền đề và

là bước đệm cho công tác bảo vệ NTD của nước ta sau này Sau khoảng thời gian này, Internet bắt đầu xuất hiện và phát triển bùng nổ tại Việt Nam Tuy nhiên ở thời điểm này các QĐPL liên quan đến BVQLNTD trong giao dịch TMĐT lại chưa ban hành văn

Trang 26

bản pháp luật Cho đến năm 2005, sự ra đời của Nghị định 57/2006/NĐ-CP về TMĐT

và Luật giao dịch điện tử đã trở thành những khung pháp lý đầu tiên tại Việt Nam Trong đó, nội dung của các văn bản này là quy định về thông điệp dữ liệu, hợp đồng điện tử, vấn đề an ninh, an toàn, bảo vệ và bảo mật của giao dịch điện tử và việc giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tử,… Có thể thấy, bảo vệ NTD trong giao dịch điện tử xuất hiện khá muộn và còn khá mờ nhạt cũng như chưa có QĐPL rõ ràng về trách nhiệm BVQLNTD trong giao dịch TMĐT

Đến năm 2010, vấn đề xâm phạm đến quyền lợi NTD xuất hiện ngày càng nhiều, vì vậy Quốc hội đã thông qua Luật BVQLNTD vào ngày 17/11/2010 So với các văn bản trước đó, Luật BVQLNTD năm 2010 đã quy định cụ thể hơn về quyền, nghĩa

vụ của NTD, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh, phương thức giải quyết tranh chấp, Có thể thấy, mặc dù không có một phần riêng về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT nhưng tại chương 2 quy định về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh cũng đã bắt đầu đề cập tới việc sử dụng PTĐT trong giao kết hợp đồng, cụ thể tại Khoản 3 Điều 14 của Luật Đặc biệt, tại Nghị định 99/2011/NĐ-CP đã có quy định

về nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh cho NTD khi giao kết hợp đồng từ xa tại Điều 17 Bên cạnh đó, Nghị định 19/2012/NĐ-CP đã ban hành các QĐPL về hình thức xử phạt chủ thể kinh doanh khi xâm phạm đến quyền lợi NTD Các quy định này phần nào đã kịp thời đưa ra biện pháp xử lý các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD, góp phần răn đe, giáo dục chủ thể kinh doanh trong giao dịch điện tử

Sau khoảng thời gian này, cụ thể từ năm 2013 đến nay, vấn đề BVQLNTD được

đề cập trong lĩnh vực TMĐT tại một số văn bản như: Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về TMĐT; Thông tư 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website TMĐT; Nghị định số 98/2020/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính Qua đây có thể thấy cho tới thời điểm hiện tại, các QĐPL về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT chỉ được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau và các văn bản này đều là các văn bản quy định chủ yếu về TMĐT Hay nói cách khác việc bảo vệ NTD trong giao dịch TMĐT còn rất nhiều bất cập, do trình độ chuyên môn của NTD, do lỗi của các chủ thể

Trang 27

kinh doanh và đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý Do đó, đòi hỏi các nhà làm luật cần phải quy định cụ thể hơn về vấn đề này nhằm đảm bảo thực thi Luật BVQLNTD trong TMĐT

1.2.2 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Trước sự phát triển nhanh chóng của hệ thống mạng lưới Internet đã tác động không nhỏ đến các giao dịch TMĐT Vì vậy, việc cần đặt ra một khung pháp lý phù hợp và cụ thể đối với các giao dịch TMĐT là điều vô cùng cần thiết Có thể thấy, “mục đích chính của việc ban hành Luật BVQLNTD là ngăn chặn sự lạm dụng khả năng thương lượng vượt trội của người bán, đồng thời điều chỉnh sự bất bình đẳng về khả năng thương lượng giữa họ và NTD Vấn đề này dựa trên việc BVQLNTD chống lại các hành vi không lành mạnh của người bán trong tất cả các giai đoạn sản xuất, cung cấp, phân phối” (Nguyễn Ngọc Quyên, 2022) Qua đó, cho thấy pháp luật BVQLNTD là lĩnh vực điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa các đối tượng kinh doanh với NTD Quy định quyền của NTD, trách nhiệm của thương nhân, ngăn chặn các giao dịch không công bằng và bảo vệ TTCN của NTD Vì vậy, pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT cũng là một trong những lĩnh vực được Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhằm BVQLNTD khi thực hiện các giao dịch thông qua TMĐT và ngăn chặn các hành vi thu lợi bất chính, lừa dối NTD của các cá nhân,

tổ chức kinh doanh Từ đó, có thể hiểu đơn giản pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT là các quy phạm pháp luật được ban hành bởi cơ quan Nhà nước và đảm bảo thực hiện nhằm mục đích BVQLNTD với các cá nhân, tổ chức kinh doanh khi tham gia các hoạt động giao dịch TMĐT

Giao dịch TMĐT của NTD là hoạt động mang những đặc thù riêng, do đó pháp luật BVQLNTD đối với giao dịch này cần được xây dựng với những nét đặc trưng riêng vừa nhằm điều chỉnh phù hợp với đối tượng giao dịch thông qua PTĐT, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả trong thực tiễn Do đó, có thể xác định một số đặc trưng chủ yếu như sau:

Trang 28

Thứ nhất, pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT có phạm vi đối tượng áp dụng rộng hơn giao dịch truyền thống Theo phương thức truyền thống, các bên trong

giao dịch chỉ gồm bên mua và bên bán Nhưng đối với giao dịch TMĐT, không chỉ bao gồm bên mua và bên bản mà còn bao gồm bên trung gian như cá nhân, tổ chức thiết lập

và vận hành nền tảng thanh toán trực tuyến, các sàn TMĐT, bên cung cấp dịch vụ giao hàng,… Vì vậy, mỗi bên sẽ đóng một vai trò khác nhau và có tác động trực tiếp tới giao dịch Do đó, các chủ thể này cũng phải chịu trách nhiệm trong việc BVQLNTD trong các giao dịch TMĐT

quan đến công nghệ, ứng dụng điện tử dữ liệu thông tin Việc thực hiện giao dịch

TMĐT thay vì thực hiện trực tiếp như giao dịch truyền thống, các bên sẽ tiến hành giao dịch thông qua các PTĐT, chủ yếu trên nền tảng, mạng lưới Internet Điều đó cũng đồng nghĩa với các giao dịch giữa các bên gắn liền với công nghệ và PTĐT sẽ phát sinh nhiều rủi ro cho NTD Chính vì lý do này, pháp luật cần xem xét và quy định các chính sách bảo vệ NTD trong thời kì này cũng như lường trước các rủi ro để bảo vệ đầy đủ và tối đa lợi ích của NTD

quyền lợi cho NTD còn bổ sung thêm trách nhiệm cho chủ thể kinh doanh Một trong

những ý nghĩa vô cùng quan trọng của pháp luật BVQLNTD là việc áp dụng các biện pháp cân bằng quyền lợi các chủ thể kinh doanh với NTD Pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT đảm bảo quy định đầy đủ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh trước, trong và sau khi NTD mua hàng Cụ thể là: trách nhiệm khi giao kế hợp đồng, thực hiện hợp đồng, cung cấp thông tin, đổi trả hàng hóa bồi,…

1.2.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

BVQLNTD có thể coi là một trong những vấn được xã hội vô cùng quan tâm Nước

ta nói riêng và quốc gia trên thế giới nói chung đều rất coi trọng hệ thống pháp luật và công tác bảo vệ này Sở dĩ nói như vậy là vì, bảo vệ NTD là bảo vệ sự phát triển bền

Trang 29

vững của kinh tế- xã hội Tuy nhiên, pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT tại mỗi đất nước phụ thuộc theo từng quan niệm riêng của đất nước đó mà sẽ có những nội dung điều chỉnh khác nhau Còn đối với Việt Nam, pháp luật về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT có những nội dung như sau:

Thứ nhất, giao kết, thực hiện hợp đồng TMĐT Có thể thấy trong quan hệ hợp

đồng này, NTD sẽ ở thế yếu hơn so với các chủ thể kinh doanh Sở dĩ nói như vậy là

vì, do bắt nguồn từ tình trạng bất cân xứng thông tin hay phương thức, quy trình giao kết hợp đồng TMĐT có những sự khác biệt nhất định so với giao dịch theo phương thức truyền thống sẽ khiến cho không phải NTD nào cũng có thể dễ dàng hiểu và nắm

rõ những QĐPL đó Hơn nữa, hợp đồng TMĐT với đặc trưng được thiết lập cho các giao dịch từ xa trong các việc mua bán dịch vụ, hàng hóa Xét về bản chất, đây là mối

quan hệ hợp đồng phải được xác lập trên sự tự do ý chí, thỏa thuận của cả hai bên

quan hệ mua bán thông qua giao dịch TMĐT Vì nên, cần có những QĐPL về quyền để BVQLNTD trong trường hợp họ bị chèn ép và không thể tự bảo vệ được mình Ngoài

ra, pháp luật cũng quy định nghĩa vụ đối với NTD để bảo vệ các bên còn lại trong giao dịch cũng như để tránh trường hợp NTD ỷ mình là bên yếu thế nên không thực hiện đúng những gì mà hai bên đã cam kết với nhau Có thể nói QĐPL về quyền của NTD

là những nguyên tắc nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật BVQLNTD cho các văn bản pháp luật khác hay giúp cho cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ NTD một cách nhịp nhàng, đồng bộ nhất

dịch TMĐT Trong quá trình doanh dịch vụ, hàng hóa các, tổ chức, cá nhân tham gia

vào nhiều quan hệ pháp lý khác nhau nên đồng nghĩa cũng phải thực hiện nhiều loại trách nhiệm như trách nhiệm về thuế, chứng từ,… trong đó bao gồm cả trách nhiệm đối với NTD Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD có thể hiểu đơn giản là nghĩa vụ mà các cá nhân, tổ chức kinh doanh phải tuân thủ theo quy định của pháp luật đối với NTD Với đặc thù của TMĐT là việc các bên không đối mặt trực tiếp

Trang 30

với nhau mà thực hiện thông qua các PTĐT có kết nối mạng Bởi vậy, có một số ý kiến cho rằng đây mới là điểm nhấn của pháp luật về vấn đề này Trong trường hợp, các chủ thể kinh doanh có ý thức tuân thủ đúng QĐPL, không những tạo được môi trường kinh doanh vừa hiện đại, vừa thuận tiện, hợp lý mà còn đảm bảo quyền lợi ích NTD Trái lại, nếu các tổ chức, cá nhân kinh doanh không tuân thủ quy định của pháp luật thì sẽ là bất lợi lớn đối với quyền lợi của NTD nói riêng và của toàn xã hội nói chung

Thứ tư, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội đối với NTD trong giao dịch TMĐT Cụ thể Cơ quan quản lý có nhiệm vụ đưa ra các chủ

trương, chính sách để BVQLNTD, đặc biệt trong lĩnh vực TMĐT vào đời sống kinh tế,

xã hội của đất nước nhằm bảo vệ lợi ích của NTD Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội đóng vai trò khá quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi NTD, được coi như một tổ chức phản biện các chính sách Nhà nước Không những vậy, Tổ chức chức xã hội hoạt động không vì lợi nhuận, đem lại nhiều giá trị thực tiễn cho công tác xây dựng và góp phần quan trọng trong việc bảo vệ NTD trước những rủi ro hay bất lợi khi mua hàng hóa, dịch vụ

Thứ năm, các biện pháp xử lý vi phạm Như đã biết, pháp luật quy định khi NTD

bị xâm phạm về quyền lợi, các hình thức xử lý vi phạm đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh sẽ là các chế tài: dân sự, hành chính và hình sự Cụ thể đối với chế tài hành chính, việc xử phạt vi phạm đối với các chủ thể có hành vi vi phạm quyền lợi NTD trong giao dịch TMĐT gồm có các hình thức cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền kinh doanh,…- hình thức xử phạt chính và đồng thời sẽ áp dụng các biện pháp bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả Còn đối với chế tài dân sự, khi bị xâm phạm quyền lợi, NTD có quyền yêu cầu các đối tượng xâm phạm phải gánh chịu những hậu quả đồng thời NTD cũng có quyền yêu cầu người vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho mình Mặt khác, nếu gây nguy hiểm cho xã hội đến mức bị coi là tội phạm thì còn phải chịu chế tài nghiêm khắc nhất là chế tài hình sự

PLVN nói riêng luôn đề cao phương thức giải quyết tranh chấp bằng phương thức

Trang 31

thương lượng, hòa giải thay cho phương thức tòa án Tương tự trong giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với cá nhân, tổ chức kinh doanh trong giao dịch TMĐT, pháp luật các nước luôn đề cao vai trò của giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng, hòa giải hay trọng tài hơn so với phương thức tòa án Sở dĩ nói như vậy

là vì, trong giao dịch TMĐT, các bên tranh chấp có thể ở các nước khác nhau nên việc khởi kiện vụ án dân sự là rất khó khăn cho NTD Hơn nữa, giải quyết tranh chấp bằng các phương thức như thương lượng, hòa giải giúp cho việc giải quyết được đảm bảo bí mật, không công khai cho thương nhân Không những thế, đối với NTD thì không phải chịu những bất cập của thủ tục tố tụng dân sự như: chậm chạp, tốn kém và phức tạp

1.2.4 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở một số quốc gia trên thế giới

1.2.4.1: Quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện

tử ở một số quốc gia trên thế giới

a) Hàn Quốc

Có thể nói Hàn Quốc là một trong những nước trên thế giới được nhận xét và đánh giá khá cao về vấn đề BVQLNTD Cụ thể, hệ thống cơ quan bảo vệ NTD được phân hóa rất rõ ràng với các chức năng khác nhau Đầu tiên phải kể đến Cơ quan bảo

vệ NTD Hàn Quốc (Korea Consumer Agency) - là cơ quan trực thuộc Chính phủ- đóng vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn có những chương trình hỗ trợ việc BVQLNTD được đánh giá khá cao như: chương trình đánh giá mức độ uy tín của doanh nghiệp; các công cụ nhằm phát hiện và ngăn chặn các loại hình lừa đảo trực tuyến; các mô hình về giải quyết rút gọn khiếu nại của NTD; Bên cạnh đó, Hàn Quốc cũng không ngừng phát triển và tạo ra được những mô hình hay chương trình góp phần BVQLNTD một cách tối đa như Chương trình Quản lý doanh nghiệp lấy NTD làm trung tâm (Chương trình CCM) - với mục tiêu tất cả vì NTD Các tiêu chí của Chương trình chủ yếu tập trung đánh giá doanh nghiệp ở khía cạnh bảo vệ NTD Trong công tác BVQLNTD, Hàn Quốc cũng xây dựng một cơ chế bảo vệ theo từng

lĩnh vực cụ thể “Sở dĩ nói như vậy là vì, tại Hàn Quốc có đạo luật khung về NTD; các

Trang 32

đạo luật bảo vệ người tiêu dùng liên quan đến giao dịch tiêu dùng nói chung như: Đạo luật về quy định các Điều khoản và Điều kiện trong hợp đồng (Act on the Regulations

of Terms and Conditions), Đạo luật về nhãn hàng hóa và quảng cáo bình đẳng( Act on Fair Labeling and Advertising) hay các đạo luật liên quan đến các giao dịch đặc biệt như: Đạo luật về các giao dịch trên hợp đồng trả góp, Đạo luật về bán hàng tận nơi (Act on Door- To- Door Sales),…”(Văn Thùy Linh, 2022) Có thể thấy, Hàn Quốc rất

coi trọng công tác BVQLNTD, cụ thể vấn đề này có tốt hay không một phần trách nhiệm còn thuộc về các doanh nghiệp Và đó cũng chính là quan điểm mà cơ quan bảo

vệ NTD Hàn Quốc đưa ra dựa trên nhiều năm kinh nghiệm hoạt động của mình trong công tác bảo vệ NTD tại Hàn Quốc

b) Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã tiến hành hoạt động BVQLNTD

từ đó cho đến tận bây giờ Công tác BVQLNTD vẫn luôn được Chính phủ Nhật Bản quan tâm hàng đầu Cụ thể vào tháng 5 năm 1968, Đạo luật cơ bản về Bảo vệ NTD (Consumer Protection Fundamental Act) đã chính thức được hoàn thiện và có hiệu lực- đây cũng chính là nền tảng pháp lý cơ bản đối với các chính sách phát triển về BVQLNTD trong tương lai Đến năm 2005, nền kinh tế- xã hội đã có sự thay đổi ít nhiều, chính phủ Nhật Bản đã nhận thấy sự cần thiết trong việc thay đổi các chính sách

về BVQLNTD và Đạo luật cơ bản về NTD Cũng giống như Hàn Quốc, “lĩnh vực bảo

vệ NTD trong TMĐT, Nhật Bản phân chia thành nhiều Luật chuyên ngành để điều chỉnh như: Đạo luật Giao dịch thương mại đặc thù (Act on Specified Commercial Transactions); Luật Hợp đồng NTD, Đạo luật hợp đồng điện tử (Electronic Contract Act); Đạo luật hợp đồng tiêu dùng (Consumer Contracts ACT),…” (Văn Thùy Linh, 2022).“Ngoài ra, Nhật Bản cũng xây dựng hệ thống tư vấn, hỗ trợ NTD qua điện thoại (Đường dây nóng kết nối tới hơn 600 điểm tiếp nhận tại các địa phương trên cả nước), qua email và hệ thống PIO- NET (kết nối 1.100 Trung tâm NTD tại địa phương 15 các

cơ quan bộ, ngành và khoảng 3.300 thiết bị điện thoại) để góp phần khuyến khích NTD

tự bảo vệ quyền lợi của mình” (Bộ Công thương Việt Nam, 2017)

Trang 33

1.2.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của hai quốc gia Nhật Bản và Hàn Quốc về hệ thống pháp luật, các cơ quan cũng như các phương thức bảo vệ NTD tại hai quốc gia này, có thể rút ra những bài học cho PLVN như sau:

Một là, xây dựng các hệ thống tư vấn, hỗ trợ NTD một cách chuyên nghiệp và

phủ sóng toàn quốc nhằm thuận tiện cho NTD trong việc khiếu nại Hơn nữa, có thể triển khai hệ thống chương trình đánh giá mức độ uy tín của doanh nghiệp, công cụ hỗ trợ NTD về phát hiện lừa đảo trực tuyến và khẩu hiệu đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong TMĐT Đây là những mô hình đã đạt được những kết quả tốt khi thực thi trong thực tế tại Hàn Quốc mà Việt Nam nên học hỏi

Hai là, ở Việt Nam hiện nay, QĐPL liên quan đến BVQLNTD trong giao dịch

TMĐT không đầy đủ, rõ ràng, khá mờ nhạt và còn rải rác nằm ở một số văn bản chuyên ngành về TMĐT như: Nghị định 52/2013/NĐ- CP và Nghị định số 85/2021/NĐ- CP Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống QĐPL chặt chẽ, liên kết với nhau, tạo khung pháp lý vững chắc điều chỉnh hoạt động này Đây có thể coi là tiền đề để xem xét, thảo luận, lấy ý kiến ban hành một Luật riêng về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước về BVQLNTD, các tổ chức xã hội trong việc hỗ trợ công tác bảo vệ NTD để việc thực thi pháp luật BVQLNTD trong giao dịch TMĐT đạt hiệu quả cao

Trang 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua đây, có thể thấy sau đại dịch covid-19, các quan hệ mua bán, sử dụng hàng hóa thông qua giao dịch TMĐT đã được khá nhiều NTD lựa chọn để sử dụng TMĐT mang lại lợi ích cho NTD nhưng cũng ẩn chứa nhiều hạn chế, rủi ro Vì vậy cần có một

cơ chế pháp lý đầy đủ để BVQNTD Tại chương 1, khóa luận đã khái quát vấn đề lý luận về BVQLNTD trong giao dịch TMĐT, cụ thể là làm rõ khái niệm về NTD hay giao dịch TMĐT Ngoài ra, khóa luận cũng trình bày nội dung và bài học kinh nghiệm liên quan đến bảo vệ NTD trong giao dịch TMĐT Từ đó, khóa luận có thể giúp cho độc giả có một cái nhìn chung nhất về BVQLNTD nói chung và BVQLNTD trong giao dịch TMĐT nói riêng Từ đó làm tiền đề cho việc nghiên cứu thực trạng QĐPL và thực thi pháp luật ở chương 2

Trang 35

2.1.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

2.1.1.1 Giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại điện tử

Có thể thấy hiện tại không có văn bản cụ thể nào giải thích về hợp đồng TMĐT

Như đã biết “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 285, Bộ luật Dân sự 2015) Hay tại Điều 33, Luật giao dịch điện tử 2005 quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này” Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng lưới internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” Qua

các quy định liên quan đến TMĐT ở trên, có thể hiểu đơn giản hợp đồng TMĐT là hai hay nhiều bên thỏa thuận với nhau trong việc mua bán hàng hóa, cung ứng, xúc tiến dịch vụ thương mại và được thực hiện toàn bộ hoặc một phần quy trình bằng PTĐT có kết nối với hệ thống mạng

Nhìn qua tưởng chừng giao dịch TMĐT và hợp đồng giao kết từ xa có cùng điểm chung nhưng xét về bản chất nó lại có những điểm khác biệt Cụ thể tại Khoản 1

Điều 3 Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại" Theo đó, có thể thấy hợp đồng giao

Trang 36

kết từ xa có hình thức giao kết thông qua PTĐT, đối với tất cả các công đoạn còn lại như giao hàng, thanh toán, vẫn là trực tiếp Bên cạnh đó, đối với giao dịch TMĐT thì không chỉ lúc ký kết mà còn có thể bao gồm cả giai đoạn thanh toán, giao hàng, đều thông qua PTĐT Ngoài ra, pháp luật hiện nay chưa đưa ra quy định nào liên quan đến hợp đồng TMĐT mẫu, do đó không đảm bảo được thống nhất trong giao dịch Mặc dù, Luật BVQLNTD 2010 đã quy định một số điều khoản liên quan đến hợp đồng mẫu, song các quy định này chủ yếu điều chỉnh các hợp đồng giao kết theo phương thức truyền thống mà chưa tính đến hợp đồng TMĐT

Đối với thời điểm giao kết hợp đồng, có thể thấy hiện tại PLVN vẫn chưa đưa ra một quy định cụ thể nào Tuy nhiên, dựa vào Điều 21 Nghị định 52/2013 NĐ-CP về

TMĐT, có thể hình dung ra: “Thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website TMĐT là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” Có

thể thấy, việc quy định như vậy khá hợp lý và đảm bảo quyền cả NTD và chủ thể kinh doanh

Hơn nữa, việc giao dịch giữa NTD và các chủ thể kinh doanh được thực hiện thông qua các PTĐT Vì vậy, việc NTD nhầm lẫn, đưa ra lựa chọn sai có nguy cơ xảy

ra dễ dàng hơn Hoặc một số trường hợp do NTD thiếu kiến thức, trình độ về công nghệ mà nhập thông tin sai về sản phẩm mà bản thân NTD muốn mua Để có thể hạn

chế được điều này, tại Điều 32 Luật Công nghệ 2006 quy định:“Trường hợp người mua nhập sai thông tin gửi vào trang thông tin điện tử bán hàng mà hệ thống nhập tin không cung cấp khả năng sửa đổi thông tin, người mua có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu đã thực hiện các biện pháp sau đây: Thông báo kịp thời cho người bán biết về thông tin nhập sai của mình và người bán cũng đã xác nhận việc nhận được thông báo đó Trả lại hàng hoá đã nhận nhưng chưa sử dụng hoặc hưởng bất kỳ lợi ích nào từ hàng hóa đó” Có thể thấy quy định này hướng tới giải quyết việc NTD

nhập sai thông tin bằng cách để NTD có thể được đơn phương chấm dứt hợp đồng, tuy nhiên phải được người bán xác nhận việc nhận thông báo nhập sai thông tin của NTD

Trang 37

Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định: “Trường hợp một người mắc phải lỗi nhập thông tin trong một chứng từ điện tử được sử dụng để trao đổi với hệ thống thông tin tự động của bên khác nhưng hệ thống thông tin tự động này không hỗ trợ cho người đó sửa lại lỗi thì người đó hoặc thương nhân, tổ chức, cá nhân mà người đó đại diện có quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi…” Dường

như quy định này đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho NTD khi không còn yêu cầu cụ thể

về điều kiện bên bán phải xác nhận Có thể thấy cả hai văn bản này đều hướng tới việc đưa ra kết cục của việc nhập sai thông tin đó là hủy bỏ hợp đồng Tuy nhiên, các quy định này lại chưa đưa ra được giải pháp giúp NTD phòng hoặc tránh việc nhập sai thông tin hay sau khi hủy bỏ hợp đồng NTD cần làm gì tiếp theo Vì nên pháp luật cần

ban hành những điều khoản cụ thể về vấn đề này

2.1.1.2 Quyền của người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Với một xã hội phát triển như hiện nay, BVQLNTD ngày càng được chú trọng hơn bao giờ hết Đối với việc BVQLNTD, tại Điều 8 của Luật BVQLNTD năm 2010 đã ban hành các quy định về quyền lợi cơ bản của NTD nói chung Qua đây có thể thấy,

dù không có văn bản nào quy định trực tiếp về quyền của NTD trong lĩnh vực TMĐT, tuy nhiên, tại Điểm a Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung

bởi Nghị định số 85/2021/NĐ-CP quy định: “người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và người bán trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” Qua đó, có thể thấy quyền

của NTD trong giao dịch TMĐT sẽ bao gồm các quyền của NTD nói chung theo quy định tại Điều 8 Luật BVQLNTD 2010 Cụ thể là:

Một là, quyền được cung cấp thông tin Khác với các quan hệ dân sự thông

thường với nguyên tắc bình đẳng về quyền, các quan hệ tiêu dùng thường có sự bất cân xứng giữa NTD và chủ thể kinh doanh Bởi NTD khi mua sản phẩm chủ yếu phụ thuộc vào thông tin một chiều do người bán cung cấp Có thể thấy, quy định này mang tính chất chung chung, không cụ thể về những thông tin mà NTD có quyền được biết là những thông tin thuộc loại nào Nếu áp dụng theo điều khoản trên, tất cả các thông tin

Trang 38

đều được coi là có liên quan đến người bán hoặc sản phẩm mà NTD đã mua, sử dụng

sẽ đều được coi là thông tin phải cung cấp cho NTD Mặc dù, “hiện không có điều khoản cụ thể về quyền được thông tin của NTD trong giao dịch TMĐT nhưng theo hướng dẫn của OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thì nguyên tắc đặt ra đó

là NTD trong TMĐT cần phải được bảo vệ ít nhất ở mức ngang bằng như khi giao dịch bằng phương thức truyền thống Do đó NTD giao dịch bằng PTĐT cũng có đầy đủ quyền được cung cấp thông tin theo như quy định của Luật BVQLNTD” ( Nguyễn

Ngọc Quyên, 2022)

nhóm quyền này tương đối hợp lý và phù hợp với nguyên tắc tự do ý chí của NTD Hơn nữa, NTD có thể tiếp cận với nhiều loại hàng hóa hay với các mức giá khác nhau

để có thể lựa chọn ra sản phẩm mà bản thân cảm thấy phù hợp nhất Hay nói cách khác, khi tham gia giao dịch NTD còn có quyền quyết định đồng ý hay không đồng ý với các nội dung thỏa thuận

tổ, chức kinh doanh gây thiệt hại đối với NTD thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm buộc cá nhân,

tổ chức kinh doanh có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả Ngoài ra, khi bị xâm phạm, NTD có thể khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện những kẻ có hành vi xâm phạm đó Thông thường, phương thức hòa giải luôn được mọi chủ thể hướng tới đầu tiên khi xảy ra tranh chấp Tuy nhiên trường hợp không thể thương lượng, hòa giải được thì NTD có thể khiếu nại, tố cáo hay khởi kiện tới các các cơ quan có thẩm quyền

Bốn là, quyền góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh NTD là phần cốt lõi

trong sự phát triển của các chủ thể kinh doanh mà lợi nhuận của họ được tạo ra từ niềm tin và sở thích của NTD Vì vậy, NTD có quyền được đóng góp ý kiến của họ về các tiêu chí khác nhau liên quan đến loại hình dịch vụ, hàng hóa mà người bán kinh doanh Đây được coi là biện pháp trực tiếp giúp NTD bảo vệ quyền của mình Và mọi thông

Trang 39

tin đánh giá hay phản hồi của NTD liên quan đến chất lượng dịch vụ, hàng hóa sẽ giúp NTD có thể đánh giá sơ bộ về mức độ uy tín của người bán cũng như xem xét chất lượng hàng hóa mà bản thân NTD dự định mua

Ngoài ra NTD còn có quyền tham gia xây dựng và thực thi chính sách; quyền được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay quyền được đảm bảo về sức khỏe, tính mạng…” Bên cạnh đó, tại điều 4 Dự Thảo Luật BVQLNTD (sửa đổi) 21/02/2023 đã bổ sung thêm quyền của NTD so với điều 8 của

Luật BVQLNTD 2010 như: “quyền được tạo điều kiện lựa chọn môi trường tiêu dùng lành mạnh và bền vững; Quyền của NTD khi sử dụng dịch vụ công,…” Có thể thấy,

việc BVQLNTD ngày càng được quan tâm, bằng việc không ngừng bổ sung thêm các QĐPL liên quan đến quyền của NTD trước những sự thay đổi, phát triển của xã hội Ngoài những quyền được đề cập tại điều 8 Luật BVQLNTD 2010 như trên, quyền lợi của NTD trong giao dịch TMĐT còn có một số quyền cụ thể và mang tính đặc trưng như quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, quyền được bảo vệ TTCN của NTD,… Cụ thể, đối với quyền được bảo vệ TTCN của NTD trong giao dịch TMĐT

Theo QĐPL tại Khoản 13 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “TTCN là các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, bao gồm: tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán

cá nhân hay những thông tin khác mà cá nhân muốn giữ bí mật” Hay tại Khoản 15 Điều 3 Luật an toàn thông tin mạng 2015 quy định: “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể " Còn tại Khoản 5 Điều 3 Nghị định 64/2007/NĐ-CP quy định: “Thông tin cá nhân là thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây:

họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí

mật cá nhân khác” Có thể thấy, PLVN chưa có một khái niệm thống nhất về “TTCN”

của NTD, nhưng nhìn chung khái niệm trong các văn bản trên đều cho rằng TTCN nói

Trang 40

chung và TTCN của NTD nói riêng là thông tin nhận dạng của cá nhân đó như: tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, nghề nghiệp, chức danh, căn cước công dân,… Hiện tại PLVN vẫn chưa đưa ra một văn bản nào điều chỉnh riêng việc bảo vệ TTCN của NTD trong giao dịch TMĐT Tuy nhiên từ năm 2005 đến nay, xem xét một cách

hệ thống các văn bản pháp luật về TMĐT được quy định rải rác trong các luật chuyên ngành

Tại Khoản 1, Điều 6, Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu” Quy định này được

xem như là một sự ghi nhận quyền, nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ TTCN Bí mật thông tin của NTD ở đây có thể hiểu đơn giản như: tên, số điện thoại, chi tiết nhân thân,… Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quy định:

“Cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân lưu trữ thông tin cá nhân của mình trên môi trường mạng thực hiện việc kiểm tra, đính chính hoặc hủy bỏ thông tin đó” Hay tại Khoản 1 Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 quy định: “Chủ thể thông tin cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân cập nhật, sửa đổi, hủy bỏ thông tin cá nhân của mình mà tổ chức, cá nhân đó đã thu thập, lưu trữ hoặc ngừng cung cấp thông tin cá nhân của mình cho bên thứ ba” Có thể thấy, NTD

khi thực hiện việc cung cấp TTCN cho chủ thể kinh doanh có thể yêu cầu họ phải đính chính lại những thông tin sai lệch hay hủy bỏ thông tin đó khi thấy việc TTCN của mình có nguy cơ bị lộ ra bên ngoài Dù được đề cập trong khá nhiều văn bản nhưng nhìn chung các QĐPL này vẫn quy định chủ yếu về mặt nguyên tắc mà chưa quy định

cụ thể về bảo vệ TTCN NTD đó là những quyền như thế nào và sẽ thực hiện nó ra sao

Vì vậy, các nhà làm luật cần ban hành các QĐPL cụ thể và rõ ràng để giúp cho NTD cũng như các chủ thể kinh doanh có thể hiểu và áp dụng một cách đúng nhất nhằm tránh gây thiệt hại cho NTD

2.1.1.3 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử

Ngày đăng: 04/01/2024, 21:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2010), Luật số: 59/2010/QH12, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 59/2010/QH12, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
2. Quốc hội (2005), Luật số: 51/2005/QH11, Luật Giao dịch điện tử, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 51/2005/QH11, Luật Giao dịch điện tử
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
3. Quốc hội (2015), Luật số: 86/2015/QH13, Luật an toàn thông tin mạng, ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 86/2015/QH13, Luật an toàn thông tin mạng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
4. Quốc hội (2015), Luật số: 91/2015/QH13, Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 91/2015/QH13, Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
5. Quốc hội (2015), Luật số: 100/2015/QH13, Bộ luật Hình sự, ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 100/2015/QH13, Bộ luật Hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
6. Quốc hội (2006), Luật số: 67/2006/QH11, Luật Công nghệ thông tin, ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 67/2006/QH11, Luật Công nghệ thông tin
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
7. Quốc Hội (2017), Luật số: 10/VBHN-VPQH, Luật Công nghệ thông tin, ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 10/VBHN-VPQH, Luật Công nghệ thông tin
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2017
8. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
9. Quốc hội (2005), Luật số: 36/2005/QH11, Luật Thương mại, ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 36/2005/QH11, Luật Thương mại
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
10. Quốc hội (2015), Luật số: 88/2015/QH13, Luật Kế toán, ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 88/2015/QH13, Luật Kế toán
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
11. Chính phủ (2011), Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ban hành ngày 27 tháng 10 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 52/2013/NĐ- CP về Thương mại điện tử, ban hành ngày 16 tháng 05 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 52/2013/NĐ- CP về Thương mại điện tử
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13. Chính phủ (2020), Nghị định số 15/2020/NĐ- CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, ban hành ngày 03 tháng 02 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/2020/NĐ- CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
14. Chính phủ (2020), Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ban hành ngày 26 tháng 8 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
15. Chính phủ (2007), Nghị định 64/2007/NĐ-CP quy định về Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của Cơ quan Nhà nước, ban hành ngày 10 tháng 04 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 64/2007/NĐ-CP quy định về Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của Cơ quan Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Chính phủ (2021), Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử, ban hành ngày 25 tháng 9 năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2021
18. Ban chấp hành trung ương (2019), Chỉ thị số 30-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ban hành ngày 22 tháng 01 năm 2019.B. DANH MỤC TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 30-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Ban chấp hành trung ương
Năm: 2019
19. Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương (2021), Báo cáo thường niên 2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2021
Tác giả: Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương
Năm: 2021
20. Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương (2020), Báo cáo thường niên 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2020
Tác giả: Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương
Năm: 2020
21. Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương (2019), Báo cáo thường niên 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2019
Tác giả: Cục cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương
Năm: 2019

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.1a: Tỷ lệ tham gia thương mại điện tử năm 2021  55 - Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2.1a Tỷ lệ tham gia thương mại điện tử năm 2021 55 (Trang 8)
Bảng 2.2.1d: Thống kê những hành vi bị xâm phạm của NTD khi mua sắm trực - Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2.1d Thống kê những hành vi bị xâm phạm của NTD khi mua sắm trực (Trang 68)
Bảng 2.1.1.3a: Thống kê số lượng, đơn thư phản ánh, yêu cầu kiến nghị của người - Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1.1.3a Thống kê số lượng, đơn thư phản ánh, yêu cầu kiến nghị của người (Trang 103)
Bảng 2.1.1.6a: Nền tảng hòa giải trực tuyến Medup của Trung tâm hòa giải Việt - Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1.1.6a Nền tảng hòa giải trực tuyến Medup của Trung tâm hòa giải Việt (Trang 104)
Bảng 2.1.1.6b: Quy trình hòa giải trực tuyến tại Trung tâm Hòa giải Thương mại - Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1.1.6b Quy trình hòa giải trực tuyến tại Trung tâm Hòa giải Thương mại (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w