1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0

10 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 771,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt: Trên cơ sở kết hợp 3 nhân tố của mô hình Fama và French 1993 với nhân tố xu hướng sinh lời trong quá khứ của Carhart 1997, nhân tố rủi ro mất vốn VaR của Cakici và Bali 2004 và

Trang 1

Tóm tắt: Trên cơ sở kết hợp 3 nhân tố của mô hình Fama và French (1993)

với nhân tố xu hướng sinh lời trong quá khứ của Carhart (1997), nhân tố rủi ro mất vốn VaR của Cakici và Bali (2004) và nhân tố thanh khoản, nhóm tác giả xây dựng mô hình 6 nhân tố để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro cổ phiếu ngành ngân hàng Số liệu nghiên cứu được sử dụng là giá đóng cửa của 8 cổ phiếu ngân hàng từ năm 2009-2012 trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam Kết quả chạy mô hình hồi quy cho thấy nhân tố quy mô không tác động tới suất sinh lời cổ phiếu ngân hàng; trong khi đó nhân tố thị trường và thanh khoản là những nhân tố tác động mạnh mẽ và các nhân tố còn lại có tác động nhưng không lớn tới suất sinh lời cổ phiếu ngân hàng Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn cho thấy việc sử dụng mô hình 6 nhân tố đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro cổ phiếu ngân hàng cho mức ý nghĩa giải thích cao hơn mô hình CAPM trung bình khoảng 24,5%.

Từ khóa: Cổ phiếu ngân hàng, Fama-French, lợi nhuận, rủi ro.

ĐO LƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Đặt vấn đề

Ngân hàng giữ một vị trí quan trọng trong thị

trường tài chính bởi nó là loại hình tổ chức

tín dụng có tính năng điều phối nguồn vốn cho

cả nền kinh tế; thế nên, ngân hàng “có khỏe”

thì các thành phần kinh tế mới có thể hoạt

động tốt “Sức khỏe” ngành ngân hàng trên

thị trường tài chính được phản ánh đầy đủ

qua giá của cổ phiếu ngành trên TTCK Trong

bối cảnh nhạy cảm về tái cấu trúc thị trường

tài chính của Việt Nam hiện nay, mối quan

hệ giữa rủi ro và lợi nhuận của cổ phiếu ngân

hàng càng được các nhà đầu tư quan tâm Câu

hỏi đặt ra ở đây là đo lường mối quan hệ rủi

ro và lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng bằng cách

nào? Nhà đầu tư phải làm gì để giảm thiểu

rủi ro khi nắm giữ cổ phiếu ngân hàng? Trong

bài nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng mô

hình 6 nhân tố - là sự kết hợp các lý thuyết

của Fama và French (1993), Carhart (1997),

Cakici và Bali (2004) để trả lời lời cho các câu hỏi trên

Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Trong đo lường mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận cổ phiếu, Fama và French (1993) nhận thấy rằng, mô hình CAPM gồm một nhân tố thị trường chưa phản ánh hết được mối quan hệ này Vì vậy, Fama và French đã đề xuất một mô hình có nhiều nhân tố hơn bao gồm nhân tố thị trường, hai nhân tố ME (quy mô công ty) và BE/ME (giá trị sổ sách trên giá thị trường) Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng mô hình cho các thị trường khác nhau, thông qua kết quả hệ số tương quan bội R2 xác định mức độ phù hợp của hàm hồi quy, cho thấy mô hình Fama-French có mức giải thích tốt hơn hẳn mô hình CAPM, điều này thể hiện rõ qua Bảng 1

Carhart (1997) nhận thấy rằng mô hình 3 nhân tố Fama-French không giải thích được

GS TS Nguyễn Thị Cành

Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM

Lê Văn Huy

Sở Tài chính Bình Thuận

Ngày nhận: 26/7/2013

Ngày nhận lại: 31/7/2013

Ngày duyệt đăng: 02/8/2013

Mã số: 8-13-NCTĐ-89

Trang 2

biến động trong tỷ suất sinh lời khi phân loại

danh mục theo tỷ suất sinh lời kỳ trước (theo

xu hướng/đà tăng trưởng) Dựa trên nghiên

cứu của Jegadesh và Titman (1993) về khuynh

hướng hoạt động các cổ phiếu trong quá khứ

tiếp tục như vậy sau vài tháng, Carhart đưa

ảnh hưởng xung lượng này vào mô hình 3 nhân

tố như là công cụ để đánh giá hoạt động các

quỹ hỗ tương Kết quả mô hình của Carhart đã

cho thấy nhân tố xu hướng sinh lời trong quá

khứ có thể giải thích tốt sự thay đổi suất sinh

lời của các danh mục cổ phiếu

Một kiểm định khác của Carhart (1997) trên

27 quỹ cũng lập trên mô hình 4 nhân tố, đã

cho thấy sai số định giá của ba mô hình CAPM,

3 nhân tố Fama-French, 4 nhân tố Carhart

lần lượt là 0,35%; 0,31% và 0,14%/tháng Như

vậy mô hình 4 nhân tố của Carhart cho kết

quả ước lượng với sai số nhỏ hơn hai mô hình

CAPM và Fama-French

Năm 2004, Cakici và Bali tiến hành nghiên

cứu kiểm định có hay không khả năng mất

vốn tối đa đo lường bởi Value At Risk (VaR)

có giải thích lên suất sinh lợi kỳ vọng bằng

phương pháp hồi quy Nghiên cứu này sử dụng

các dữ liệu của các công ty niêm yết trên sàn

NYSE, AMEX và NASDAQ trong khoảng thời

gian từ tháng 01/1958-12/2001 Mô hình kiểm

định dựa trên 25 danh mục trong nghiên cứu Fama và French (1993) với 4 biến độc lập gồm các nhân tố theo mô hình Fama-French và VaR Sau đó, nghiên cứu có đưa thêm vào nhân tố thanh khoản của cổ phiếu để xem mức độ giải thích đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng như thế nào Kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, độ thanh khoản và VaR có ý nghĩa giải thích lên suất sinh lợi kỳ vọng cổ phiếu

Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng áp dụng các mô hình lý thuyết đã nêu trên, tuy nhiên hầu hết đều áp dụng nghiên cứu mối quan hệ các yếu tố rủi ro đến suất sinh lời cổ phiếu trên TTCK TP.HCM như nghiên cứu của Phan Đình Nguyên và Hà Minh Phước (2012), nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Mạnh Hiệp (2012)

Khác với các nghiên cứu trước, nghiên cứu của nhóm tác giả: (i) Xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của riêng ngành ngân hàng trên cả hai sàn chứng khoán HSX và HNX, các tác giả khác nghiên cứu trong phạm vi TTCK TP.HCM với nhiều ngành khác nhau; (ii) Nhóm tác giả xử lý số liệu theo ngày giao dịch T+4, các nghiên cứu trước xử lý số liệu theo tuần hoặc tháng; (iii) Nhóm tác giả sử dụng mô hình Fama-French kết hợp cả 3 nhân tố VaR, xu hướng sinh lời trong quá khứ

TTCK nghiên cứu (năm) Tác giả R 2 trung bình CAPM R Fama-French 2 trung bình

3 TTCK lớn Mỹ NYSE, AMEX,

Hong Kong giai đoạn 1993-1999

Drew và Veeraraghavan (2003)

HOSE giai đoạn 2005-2008 Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ (2008) 0,625 0,868

Bảng 1: Kết quả của các nghiên cứu tại các thị trường theo mô hình Fama-French

Nguồn: Nguyễn Tấn Minh (2012)

Trang 3

và tính thanh khoản (mô hình 6 nhân tố) để

tính toán; các nghiên cứu trước đều hầu như

sử dụng mô hình Fama-French để đo lường

mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận cổ phiếu,

một số nghiên cứu thêm nhân tố VaR hoặc

nhân tố xu hướng sinh lời trong quá khứ hoặc

thêm tính thanh khoản để tìm kiếm thêm ý

nghĩa giải thích cho suất sinh lời cổ phiếu

Phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết và kết quả

của các công trình nghiên cứu thực nghiệm,

nhóm tác giả đưa ra mô hình 6 nhân tố phục

vụ cho nghiên cứu của mình như sau:

Ri-Rf = c+β1(Rm-Rf)+β2SMB+β3HML+β4HVARL

+β5WML+β6LLiH

Trong đó: Ri-Rf là phần bù rủi ro cho danh

mục i hoặc suất sinh lời vượt trội của danh

mục I; Rm-Rf là phần bù rủi ro thị trường;

SMB là bình quân chênh lệch trong quá khứ

giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty

nhỏ (ký hiệu S) so với lợi nhuận danh mục cổ

phiếu công ty lớn (ký hiệu B) hay phần bù quy

mô; HML là bình quân chênh lệch trong quá

khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công

ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường

cao (ký hiệu H) so với công ty có giá trị này

thấp (ký hiệu L), hay phần bù giá trị; HVARL

là bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa

lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty VaR cao

(ký hiệu HVAR) so với lợi nhuận danh mục

cổ phiếu công ty VaR thấp (ký hiệu LVAR),

hay phần bù rủi ro mất vốn tối đa; WML là

bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa lợi

nhuận danh mục cổ phiếu công ty có tỷ suất

sinh lợi cao hơn năm trước (ký hiệu WIN) so

với lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty có

tỷ suất sinh lợi thấp hơn năm trước (ký hiệu

LOSE), hay xu hướng suất sinh lời trong quá

khứ; LLiH là bình quân chênh lệch trong quá

khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công

ty thanh khoản thấp (ký hiệu LLi) so với

lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty thanh khoản cao (ký hiệu HLi), hay phần bù rủi ro

thanh khoản; β 1 ,β 2 ,β 3 ,β 4 ,β 5 ,β 6 là hệ số hồi quy cho nhân tố phần bù rủi ro thị trường, SMB, HML, HVARL, WML, LLiH

Mô hình hồi quy với 6 giả thiết:

- Giả thiết H1: Có mối tương quan đồng biến giữa nhân tố phần bù rủi ro thị trường và suất sinh lời của cổ phiếu;

- Giả thiết H2: Có mối tương quan nghịch biến giữa nhân tố quy mô công ty và suất sinh lời của cổ phiếu;

- Giả thiết H3: Có mối tương quan đồng biến giữa nhân tố giá trị sổ sách trên giá thị trường với suất sinh lời của cổ phiếu;

- Giả thiết H4: Có mối tương quan đồng biến giữa giá trị chịu rủi ro với suất sinh lời của cổ phiếu;

- Giả thiết H5: Có mối tương quan đồng biến giữa những cổ phiếu có suất sinh lời cao trong quá khứ sẽ tiếp tục có suất sinh lời cao trong tương lai với suất sinh lời của cổ phiếu;

- Giả thiết H6: Có mối tương quan đồng biến giữa suất sinh lời của cổ phiếu có thanh khoản thấp với suất sinh lời của cổ phiếu

Phương pháp thu thập số liệu

Từ mô hình 6 nhân tố, các dữ liệu cần thu thập gồm: giá đóng cửa có điều chỉnh cổ tức, cổ phiếu thưởng hàng ngày của 8 cổ phiếu ngân hàng, khối lượng khớp lệnh hàng ngày, số lượng cổ phiếu lưu hành và vốn chủ sở hữu của 8 cổ phiếu ngân hàng, chỉ số VN-Index và HNX-Index, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm để tính lãi suất phi rủi ro Các dữ liệu được lấy từ trang cophieu68.com trong giai đoạn 2009-2012 với ưu điểm của dữ liệu là giá đóng cửa đã điều chỉnh chia cổ tức, cổ phiếu thưởng… riêng lãi suất trái phiếu chính

Trang 4

phủ kỳ hạn 10 năm được lấy từ trang hsx.vn

Sau khi thu thập dữ liệu theo ngày, chọn ngày

02/1/2009 làm mốc giá đầu tiên, mốc giá tiếp

theo là ngày giao dịch T+4 kể từ ngày trước (là

ngày 08/01/2009, ngày T+4 tiếp theo nữa là ngày

14/01/2009…) Như vậy, dữ liệu những ngày T+1,

T+2, T+3 sẽ được loại khỏi dãy số liệu, ngày T và

ngày T+4 được coi như là 2 ngày liền kề (tức là

ngày t-1 và ngày t) Tổng cộng có 249 quan sát

Phương pháp xử lý số liệu

Đối với biến phụ thuộc

Mô hình 6 nhân tố gồm hai dạng biến phụ thuộc

Ri: (i) Suất sinh lời trung bình của danh mục tất

cả 8 cổ phiếu ngân hàng; (ii) Suất sinh lời trung

bình của danh mục phân theo quy mô Cụ thể,

ở dạng thứ nhất Ri là trung bình cộng suất sinh

lời trong 1 ngày của cả 8 cổ phiếu ngân hàng Tỷ

suất sinh lời hàng ngày của các cổ phiếu ngân

hàng được tính theo công thức: Tỷ suất sinh lời

của ngày t = ln(giá ngày t/giá ngày t-1) Ở dạng

thứ hai Ri là trung bình cộng suất sinh lời của

các cổ phiếu có trong từng danh mục trong 16

danh mục (Bảng 2) Ví dụ danh mục S/H (2009)

gồm 2 cổ phiếu EIB và STB thì Ri của (ii) chính

là trung bình cộng của suất sinh lời 2 cổ phiếu

này theo từng ngày tính toán trong năm 2009

Phân theo quy mô nhỏ S, có 8 danh mục sau: S/H,

S/L, S/HVAR, S/LVAR, S/WIN, S/LOSE, S/HLi, S/LLi

Phân theo quy mô lớn B, có 8 danh mục sau:

B/H, B/L, B/HVAR, B/LVAR, B/WIN, B/LOSE, B/HLi,

B/LLi Có thể diễn giải về ký hiệu các danh mục

trên như sau: Ví dụ danh mục S/HLi là danh mục

của những cổ phiếu có quy mô vốn hóa nhỏ và có

tính thanh khoản cao, hay nói cách khác danh

mục S/HLi là phần giao của danh mục S và

danh mục HLi Danh mục S/HLi năm 2009 gồm

3 cổ phiếu EIB, STB, SHB thì Ri là trung bình của

suất sinh lời 3 cổ phiếu này theo từng ngày tính

toán Qua tính toán tỷ suất sinh lời của các danh mục trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, nhóm tác giả nhận thấy do đặc điểm niêm yết của cổ phiếu ngân hàng trễ so với các cổ phiếu khác (trước năm 2009 chỉ mới có ACB và STB niêm yết), số lượng cổ phiếu ngân hàng cũng không lớn (8 cổ phiếu) nên số liệu dành cho một số danh mục bị ngắt quãng, không đầy đủ theo thời gian Do vậy, sau khi nhóm tác giả tính toán, có 8 danh mục đáp ứng đầy đủ số liệu được đưa vào phân tích, cụ thể là các danh mục: S/H, B/L, S/HVAR, S/LVAR, S/WIN, B/WIN, S/HLi, B/LLi Nhóm tác giả chạy hồi quy 9 mô hình: (i) RIRF=

c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+ β3(HML)+ β4(HVARL)+

β5(WML)+ β6(LLiH); (ii) SH= c + β1(Rm-Rf)+

β2(SMB)+ β3(HML)+ β4(HVARL)+ β5(WML)+

β6(LLiH); (iii) BL= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+

β3(HML)+ β4(HVARL)+ β5(WML)+ β6(LLiH); (iv) SHVAR= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+ β3(HML)+

β4(HVARL)+ β5(WML)+ β6(LLiH); (v) SLVAR= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+ β3(HML)+ β4(HVARL)+

β5(WML)+ β6(LLiH); (vi) SWIN= c + β1(Rm-Rf)+

β2SMB)+ β3(HML)+ β4(HVARL)+ β5(WML)+

β6(LLiH); (vii) BWIN= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+

β3(HML)+ β4(HVARL)+ β5(WML)+ β6(LLiH); (viii) SHLi= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+ β3(HML)+

β4(HVARL)+ β5(WML)+ β6(LLiH); (ix) BLLi= c + β1(Rm-Rf)+ β2(SMB)+ β3(HML)+ β4HVARL)+

β5(WML)+ β6(LLiH) Biến phụ thuộc danh mục 8 cổ phiếu ngân hàng được ký hiệu là Rm-Rf (và ký hiệu trong chương trình Eviews là RIRF), biến phụ thuộc danh mục phân loại theo quy mô được ký hiệu là tên danh mục đó (ví dụ SH không có dấu /), được ngầm hiểu là nhóm tác giả đã tính toán biến S/H trừ cho Rf, như vậy sẽ thuận tiện cho việc tính toán trên Eviews hơn

Đối với biến độc lập

Biến độc lập trong mô hình gồm 6 biến:

Rm-Rf, SMB, HML, HVARL, WML, LLiH

Bảng 2: Danh mục cổ phiếu phân theo quy mô

Trang 5

Phương pháp tính toán từng biến cụ thể

như sau:

- Rm-Rf: Đầu tiên nhóm tác giả tính toán tỷ

suất sinh lời của danh mục thị trường Rm là

danh mục gồm tất cả các cổ phiếu của 2 sàn

chứng khoán HSX và HNX, được tính bằng tỷ

suất sinh lời trung bình theo ngày của 2 chỉ

số VN-Index và HNX-Index Với suất sinh

lời của danh mục thị trường = (ln(VN-Index

ngày t/VN-Index ngày t-1) + ln(HNX-Index

ngày t/HNX-Index ngày t-1))/2 Sau khi tính

được Rm, tiếp tục trừ cho lãi suất phi rủi ro

(tính toán lãi suất phi rủi ro sẽ được nêu ở

phần tiếp theo) sẽ tính được biến độc lập Rm-Rf

(ký hiệu trong Eviews là RMRF)

- SMB: Suất sinh lời của danh mục gồm 50%

cổ phiếu có vốn hóa nhỏ hơn vốn hóa trung

bình của 8 cổ phiếu (ký hiệu là danh mục S)

trừ đi 50% cổ phiếu có vốn hóa lớn còn lại

(ký hiệu là danh mục B) Vốn hóa được tính

bằng số lượng cổ phiếu lưu hành nhân với giá

thị trường Các cổ phiếu được xác định vốn

hóa trung bình trong vòng 1 năm, sau đó tính

trung bình cộng các vốn hóa trung bình của 8

cổ phiếu để tính vốn hóa làm chuẩn so sánh

Nếu cổ phiếu nào có vốn hóa nhỏ hơn hoặc

bằng chuẩn so sánh sẽ được xếp vào vốn hóa

nhỏ, và ngược lại được xếp vào nhóm vốn hóa

lớn Sau mỗi năm xác định và phân chia danh

mục lại một lần

- HML: Suất sinh lời của danh mục gồm 50%

cổ phiếu có giá trị sổ sách trên giá thị trường

lớn (ký hiệu là H) trừ đi 50% cổ phiếu có giá

trị sổ sách trên giá thị trường thấp (ký hiệu

là L) so với mức trung bình của 8 cổ phiếu

Giá trị sổ sách trên giá thị trường được tính

bằng giá trị sổ sách một cổ phiếu chia cho giá

thị trường của cổ phiếu đó Giá trị sổ sách

một cổ phiếu bằng vốn chủ sở hữu chia cho số

lượng cổ phiếu lưu hành Sau đó các cổ phiếu

được tính trung bình giá trị sổ sách trên giá

thị trường và phân chia thành 2 nhóm tương

tự như cách phân chia danh mục SMB và mỗi

năm phân chia danh mục lại một lần

- HVARL: Suất sinh lời của danh mục gồm 50% cổ phiếu có VaR lớn trừ đi 50% cổ phiếu có VaR nhỏ so với mức VaR trung bình của

8 cổ phiếu Tính VaR theo phương pháp mô

phỏng quá khứ, VaR được tính ở mức α=5%

và chu kỳ là 6 tháng Sau khi tính toán VaR cho từng cổ phiếu, tính trung bình VaR trong

1 năm và tiếp tục phân chia danh mục HVAR là danh mục gồm những cổ phiếu có VaR lớn hơn mức trung bình, LVAR là danh mục của những cổ phiếu có VaR nhỏ hơn hoặc bằng mức trung bình Mỗi năm phân chia danh mục lại một lần

- WML: Suất sinh lời của 50% cổ phiếu có suất sinh lời trong năm trước cao (ký hiệu là WIN) trừ cho 50% cổ phiếu có suất sinh lời trong năm trước thấp (ký hiệu là LOSE) so với suất sinh lời trung bình của danh mục 8 cổ phiếu Cụ thể như sau: chọn một nhóm cổ phiếu năm trước có suất sinh lời cao hơn trung bình gọi là nhóm WIN và nhóm cổ phiếu năm trước có suất sinh lời thấp hơn trung bình gọi là nhóm LOSE Tiếp theo tính suất sinh lời của nhóm WIN đó trong năm nay trừ đi suất sinh lời của nhóm LOSE đó trong năm nay ta được WML WML của năm sau ta lại tiếp tục lấy suất sinh lời hiện tại của nhóm WIN năm nay trừ cho nhóm LOSE năm nay

- LLiH: Suất sinh lời của danh mục gồm 50% cổ phiếu có thanh khoản thấp trừ 50% cổ phiếu có thanh khoản cao so với trung bình tính thanh khoản của danh mục 8 cổ phiếu Các bước phân chia danh mục tương tự như cách phân chia SMB, danh mục có thanh khoản cao ký hiệu là HLi, thanh khoản thấp là LLi Nhóm tác giả tính thanh khoản của cổ phiếu theo công thức Hui-Heubel (Sarr và Lybek, 2002) như dưới đây, chỉ số càng nhỏ thì cổ phiếu càng thanh khoản:

Trong đó: Pmax là giá cao nhất trong vòng 5 ngày giao dịch; Pmin là giá thấp nhất trong vòng 5 ngày giao dịch; V là tổng vốn hóa thị trường trong 5 ngày giao dịch; S là số cổ phiếu

max min min [(P -P )/P ]/[V/(S*P)]

L =

Trang 6

đang lưu hành; P là trung bình giá đóng cửa

trong 5 ngày giao dịch

Đối với lãi suất phi rủi ro

Lãi suất phi rủi ro theo ngày được tính bằng

lãi suất trúng thầu trái phiếu chính phủ kỳ

hạn 10 năm theo trung bình năm chia cho 90

kỳ (do thời gian tính toán theo ngày T+4, mỗi

kỳ như vậy là lãi suất trong 4 ngày) Sau mỗi

năm, lãi suất phi rủi ro sẽ được tính lại trên

cơ sở lãi suất trúng thầu trung bình trong

năm đó

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nhóm tác giả sử dụng phương pháp Dickey-Fuller

để kiểm định tính dừng lần lượt các biến độc lập

trong mô hình hồi quy 6 nhân tố, nếu giá trị tuyệt

đối |τ|ADF lớn hơn các giá trị |τ| tại các mức

ý nghĩa 1%, 5%, 10% thì chuỗi dữ liệu dừng Kết

quả cho thấy cho thấy các chuỗi dữ liệu của tất cả

các biến độc lập trong mô hình đều là chuỗi dừng

Kiểm định đa cộng tuyến, nhóm tác giả áp

dụng nguyên tắc ngón tay cái của Klein, nếu

ít nhất một hệ số R2 của mô hình hồi quy phụ

lớn hơn R2 của mô hình gốc thì có đa cộng

tuyến xảy ra Kết quả chưa thấy xảy ra hiện

tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập của

mô hình Kiểm định ý nghĩa thống kê của các

hệ số hồi quy, nhóm tác giả sử dụng kiểm

định F (kiểm định Wald) với từng hệ số và

mô hình với mức ý nghĩa 5%, nếu giá trị p

≥5% ta chấp nhận giả thiết H0 Kết quả kiểm

định các giả thuyết thống kê, một số danh

mục B/L, S/HVAR, B/WIN, B/LLi không đáp ứng được nên bị loại Các mô hình có ý nghĩa thống kê được trình bày tại Bảng 3

Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu: Với giả

thiết nghiên cứu ban đầu, ta chấp nhận giả thiết H1, H3; bác bỏ giả thiết H2, H4, H5, H6 Các giả thiết bị bác bỏ có thể được lý giải như sau:

- Bác bỏ giả thuyết H2, nhân tố quy mô công

ty hầu như không có ý nghĩa giải thích cho suất sinh lời của danh mục cổ phiếu Trên TTCK Việt Nam, cổ phiếu ngân hàng là một nhóm cổ phiếu chiếm tỷ trọng vốn hóa cao nhất thị trường, đồng thời là những doanh nghiệp có tổng tài sản cao nhất, luôn được nhà nước quan tâm, theo dõi để không phải phá sản Có lẽ vì vậy, nhà đầu tư sẽ có tâm lý vì vốn ngân hàng quá lớn và nhà nước theo dõi chặt chẽ nên khó phá sản như những doanh nghiệp khác Do đó, khi đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng, nhà đầu tư không chú trọng tới yếu tố quy mô

- Bác bỏ giả thuyết H4, những cổ phiếu có giá trị chịu rủi ro cao thì khả năng sinh lời thấp hơn những cổ phiếu có giá trị chịu rủi ro thấp hơn, nhân tố HVARL nghịch biến với tỷ suất sinh lời cổ phiếu Đối với mô hình 5, HVARL đồng biến với suất sinh lời của cổ phiếu Kết quả từ việc xem xét bỏ biến HVARL tại mô hình này cho thấy R2 của mô hình hầu như không thay đổi Do vậy có thể xem HVARL ảnh hưởng không đáng kể tới SHLi, trong khi các mô hình 2 và 3 thì HVARL là nghịch

STT Biến phụ thuộc Mô hình 6 nhân tố 6 nhân tố R 2

Bảng 3: Kết quả hồi quy mô hình 6 nhân tố cổ phiếu ngành ngân hàng

Trang 7

biến nên tác giả bác bỏ giả thiết H4 Với mức

biến động giá trung bình so với thị trường và

giữa các cổ phiếu với nhau sự biến động cũng

không chênh lệch nhiều, khi đầu tư vào cổ

phiếu ngân hàng, nhà đầu tư đã tự đặt ra một

mức sinh lời trung bình có thể, không kỳ vọng

nhiều vào sự tăng giá lớn Do đó, nhà đầu tư

có xu hướng thích cổ phiếu ngân hàng có khả

năng mất vốn tối đa thấp hơn

- Bác bỏ giả thuyết H5, những cổ phiếu ngân

hàng có suất sinh lời cao năm trước thì sẽ có

suất sinh lời thấp năm sau, nhân tố WML

nghịch biến với tỷ suất sinh lời cổ phiếu Có

thể thấy, mục tiêu đầu tư cổ phiếu ngân hàng

của các nhà đầu tư là kiếm chênh lệch giá ngắn

hạn khoảng 1 năm Khi giá cổ phiếu ngân hàng

lên cao, nhà đầu tư sẵn sàng bán ngay kiếm lời

và dịch chuyển dòng tiền của mình sang những

cổ phiếu ngân hàng chưa tăng giá

- Bác bỏ giả thuyết H6, những cổ phiếu có

thanh khoản cao mang lại tỷ suất sinh lời

cao hơn những cổ phiếu có thanh khoản thấp,

nhân tố LLiH nghịch biến với tỷ suất sinh lời

cổ phiếu Những cổ phiếu ngân hàng có thanh

khoản cao cho thấy mức độ quan tâm của số

đông nhà đầu tư vào cổ phiếu này, do vậy

đây là những cổ phiếu có độ nhạy cao nhất

Trong thị trường tăng giá, động cơ tối đa hóa

lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ dẫn đến quyết

định bỏ tiền vào những cổ phiếu dạng này, vì

dễ giải ngân, dễ giao dịch và có độ nhạy cao

Chính hành động này của số đông nhà đầu tư

lại quay trở lại tác động lên giá cổ phiếu và

làm cho những cổ phiếu có thanh khoản cao

thường leo giá nhanh nhất thị trường Đồng

thời, trong thị trường giảm giá, hành động

cắt lỗ cũng tương tự như trên, nhà đầu tư

kéo nhau cắt lỗ khiến giá cổ phiếu dạng này

nhanh chóng rớt giá

Từ kết quả mô hình hồi quy 6 nhân tố đo

lường rủi ro và lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng

trên TTCK Việt Nam tại Bảng 2, nhóm tác

giả có một số nhận xét:

- Theo mô hình 1 ước lượng cho danh mục toàn

bộ 8 cổ phiếu RIRF, ngoài nhân tố SMB thì cả

2 nhân tố WML và HVARL đều không có mặt Có thể nói, đối với nhà đầu tư nắm giữ một danh mục bao gồm tất cả các cổ phiếu ngân hàng thì họ không quan tâm tới yếu tố quy mô, rủi ro mất vốn tối đa và xu hướng sinh lời trong quá khứ Điều mà nhà đầu tư quan tâm: (i) Phần bù rủi ro của thị trường cao hay thấp (tức xu hướng thị trường và lãi suất phi rủi ro đang lên hay xuống - quan trọng nhất với hệ số trong mô hình lớn nhất); (ii) Phần bù rủi ro giá trị; (iii) Chênh lệch giá trị giữa cổ phiếu thanh khoản thấp và cao là nhiều hay ít

- Đối với việc ước lượng các mô hình còn lại là

SH, SLVAR, SWIN, SHLi, 2 nhân tố tác động mạnh nhất và luôn có trong mô hình: (i) Rủi

ro thị trường; (ii) Phần bù rủi ro thanh khoản Như vậy, các nhân tố WML và HVARL tuy có ảnh hưởng tới các danh mục nêu trên nhưng không có ý nghĩa giải thích mạnh như nhân tố phần bù rủi ro thanh khoản

- Ước lượng suất sinh lời của danh mục SWIN là ước lượng duy nhất có sự xuất hiện của nhân tố SMB Nhóm tác giả cũng nhận thấy ảnh hưởng của SMB trong mô hình SWIN cũng không lớn như RMRF và LLiH thông qua hệ số khá nhỏ (0,15) Hơn nữa, việc hồi quy đơn lẻ SMB với RIRF như đã nói trước là không có ý nghĩa thống kê (tuy khi kết hợp vào mô hình SWIN có ý nghĩa nhưng tác động không mạnh) Từ đó, tác giả đã thử loại bỏ biến SMB

ra khỏi mô hình SWIN, kết quả cho thấy R2 giảm không đáng kể, từ 0,7384 xuống 0,7338 Như vậy có thể nói, trong các nhân tố dùng để ước lượng tỷ suất sinh lời cổ phiếu ngân hàng thì nhân tố phần bù quy mô SMB hầu như không có ý nghĩa giải thích

- Hệ số của nhân tố thị trường là hệ số lớn nhất trong các mô hình, cho thấy sự biến động của nhân tố thị trường tác động mạnh tới tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu ngân hàng Một lần nữa nghiên cứu khẳng định dù có bổ sung nhiều biến độc lập để giải thích cho suất sinh lời cổ phiếu, thì nhân tố rủi ro thị trường vẫn

Trang 8

là biến quan trọng nhất, có sức giải thích cao

nhất biến động cổ phiếu ngân hàng

- Tất cả các hệ số của nhân tố phần bù rủi

ro thị trường của 5 danh mục cổ phiếu ngân

hàng đều nhỏ hơn 1, dao động từ 0,3782 tới

0,6002 Như vậy, dù là một danh mục cổ phiếu

ngân hàng quy mô nhỏ hay lớn, thanh khoản

cao hay thấp hay danh mục toàn bộ cổ phiếu

ngân hàng niêm yết trên hai sàn chứng khoán

đều cho thấy mức độ rủi ro của cổ phiếu ngân

hàng là thấp hơn thị trường Những cổ phiếu

vốn hóa lớn và thanh khoản thấp là những

cổ phiếu ít bị tác động bởi nhân tố thị trường

nhất, ngược lại những cổ phiếu vốn hóa nhỏ

và thanh khoản cao lại là những cổ phiếu có

giá biến động theo sát xu hướng thị trường

Mặt khác, dấu dương của hệ số cho thấy tỷ

suất sinh lời của cổ phiếu ngân hàng biến

động cùng hướng với toàn thị trường

- Về dấu của hệ số ước lượng: các hệ số RMRF,

SMB, HML có quan hệ đồng biến với suất sinh

lời của các danh mục cổ phiếu ngân hàng Các

hệ số HVARL (trừ mô hình ước lượng SHLi),

WML, LLiH có qua hệ nghịch biến với suất

sinh lời của các danh mục cổ phiếu ngân hàng

- Không phải cùng lúc cả 6 nhân tố đều có ý

nghĩa giải thích cho mô hình Khi kết hợp

6 nhân tố lại với nhau, một số mô hình có

phương sai thay đổi không thể khắc phục được

và vì vậy không thể đưa vào phân tích (các

danh mục B/L, S/HVAR, B/WIN, B/LLi)

- Nhóm tác giả chạy hồi quy với các biến độc

lập và phụ thuộc tại Bảng 3 với mô hình CAPM,

kết quả cho thấy mức giải thích của mô hình

CAPM kém hơn mức giải thích của mô hình 6

nhân tố (Bảng 4)

So sánh kết quả Bảng 4 (mô hình CAPM) và Bảng 3 (mô hình 6 nhân tố) thông qua

R2 cho thấy: trung bình, sử dụng mô hình 6 nhân tố sẽ tăng được mức giải thích ý nghĩa suất sinh lời của cổ phiếu so với mô hình CAPM là 24,5%

Kết luận

Kết hợp các nhân tố đưa ra bởi Fama và French (1993), Carhart (1997), Cakici và Bali (2004) và yếu tố thanh khoản, nhóm tác giả đã tổng hợp một mô hình chứa những yếu tố cốt lõi của các nhà nghiên cứu trước thành mô hình 6 nhân tố Bài nghiên cứu đã thực hiện đo lường mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận của

8 cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HSX và HNX giai đoạn 2009-2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy cổ phiếu ngân hàng ít rủi ro hơn thị trường, suất sinh lời của danh mục toàn bộ cổ phiếu ngân hàng chịu sự ảnh hưởng mạnh của nhân tố phần bù rủi ro thị trường và nhân tố phần bù rủi ro thanh khoản Các nhân tố còn lại cũng có ảnh hưởng nhưng không cao như 2 nhân tố phần bù rủi ro thị trường và phần bù rủi ro thanh khoản Nhân tố phần bù quy mô hầu như không có ảnh hưởng đáng kể nào lên tỷ suất sinh lời của cổ phiếu ngân hàng Một đặc điểm ở nghiên cứu khác với các nghiên cứu của Carhart (2007) và Cakici và Bali (2004) là nhân tố xu hướng suất sinh lời trong quá khứ và nhân tố phần bù rủi ro mất vốn tối đa có quan hệ nghịch với tỷ suất sinh lời của cổ phiếu ngân hàng Các nhân tố còn lại là nhân tố thị trường, nhân tố giá trị có mối quan hệ đồng biến với tỷ suất sinh lời cổ phiếu, giống như các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu cũng chỉ

ra việc áp dụng mô hình 6 nhân tố sẽ xác định chính xác hơn tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán so với áp dụng mô hình CAPM, trung bình tăng khả năng giải thích lên 24,5%

STT Biến phụ thuộc Mô hình CAPM R 2 CAPM

Bảng 4: Kết quả hồi quy mô hình CAPM

cổ phiếu ngành ngân hàng

Trang 9

Từ cơ sở các kết luận rút ra, nhóm tác giả đề

xuất một số hàm ý và gợi ý giảm thiểu rủi ro

khi lựa chọn đầu tư cổ phiếu ngân hàng cho

các nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước:

Thứ nhất, khi đầu tư cổ phiếu ngân hàng,

theo mô hình 6 nhân tố thì nhà đầu tư nên lựa

chọn những cổ phiếu có đặc tính như sau: tỷ

lệ giá trị sổ sách trên giá thị trường cao, rủi

ro mất vốn tối đa thấp, tỷ suất sinh lời trong

quá khứ thấp và hiện đang có tính thanh

khoản cao Như vậy, nếu nhà đầu tư lựa chọn

những cổ phiếu có càng nhiều đặc điểm trên,

thì rủi ro giảm xuống và khả năng mang lại

lợi nhuận cho nhà đầu tư lớn hơn

Thứ hai, do ảnh hưởng của nhân tố thị trường

tới suất sinh lời là chủ đạo, nên tại các danh

mục cổ phiếu hồi quy theo mô hình 6 nhân

tố, hệ số beta của phần bù rủi ro thị trường

thể hiện mức độ rủi ro chính của danh mục cổ

phiếu đó Theo đó, nhà đầu tư nên chọn những

danh mục có beta tương đối thấp để đầu tư

trong giai đoạn thị trường xuống là các danh

mục SLVAR, SWIN để hạn chế rủi ro và chọn

những danh mục có beta cao hơn trong giai

đoạn thị trường giá lên gồm danh mục 8 cổ

phiếu, SH, SHLi để thu lợi nhiều hơn

Thứ ba, qua phân tích ở trên, mô hình 6 nhân

tố có ý nghĩa giải thích hơn mô hình CAPM

rất nhiều, trung bình khoảng 24,5%, vì vậy

nhà đầu tư nên sử dụng mô hình 6 nhân tố để

ước tính mức sinh lời kỳ vọng hay chi phí sử

dụng vốn của cổ phiếu để sử dụng trong việc

định giá Đối với nhà quản trị, việc áp dụng

mô hình 6 nhân tố giúp đưa ra chính sách phù

hợp về cơ cấu vốn tối ưu cho ngân hàng, từ đó

có những chính sách tài chính đúng đắn trong

tương lai

Thứ tư, tham gia vào thị trường, nhà đầu tư

nào cũng mong muốn kiếm được lợi nhuận

Tuy vậy, TTCK là một thị trường tài chính

cao cấp, không phải như quan niệm của nhiều

nhà đầu tư là đánh bạc, hay “chơi chứng

khoán” vì vậy ở đó nếu không nắm rõ luật

chơi thì nhà đầu tư sẽ gánh chịu nhiều thua thiệt Để giảm thiểu rủi ro, dù là đầu tư vào chứng khoán ngân hàng hay vào chứng khoán các ngành khác thì nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ luật chơi, tự phổ cập và nâng cao kiến thức về TTCK cho mình để có thể tỉnh táo phân tích, suy xét đưa ra quyết định mua bán trước những tin đồn và tâm lý đám đông trên thị trường Theo kinh nghiệm quốc tế, bên cạnh các nhà đầu tư là có đội ngũ tư vấn chứng khoán những người có trình độ và khả năng phân tích chứng khoán tốt nhất Vì vậy, theo xu thế chung thì Việt Nam cũng cần đào tạo và phát triển đội ngũ các nhà phân tích,

tư vấn chuyên nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cũng như chi phí rẻ cho các nhà đầu tư sử dụng dịch vụ tư vấn

Thứ năm, về phía các doanh nghiệp niêm

yết, cơ quan quản lý cần thường xuyên thanh tra, giám sát và xử lý những tin đồn thất thiệt, tạo cung cầu giả mạo để làm giá cổ phiếu gây thiệt hại cho doanh nghiệp và nhà đầu tư Đồng thời, cơ quan quản lý cần xử lý nghiêm những doanh nghiệp công bố thông tin sai, hoặc cố tình che giấu thông tin, giao dịch nội gián trục lợi cá nhân Yếu tố minh bạch trong các thông tin kinh tế và thông tin

vi mô doanh nghiệp cần phải được chú trọng hơn nữa, chỉ khi hoàn thiện cơ chế quản lý và công bố thông tin thì mới có thể giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư

Thứ sáu, mô hình 6 nhân tố chưa thể hiện

được hết các khía cạnh khác liên quan tới nội tại cổ phiếu ngân hàng là khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh, sự ổn định, cân đối tín dụng ngắn trung và dài hạn, tiềm năng phát triển của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỷ giá Vì vậy, trên cơ sở phân tích lợi nhuận kỳ vọng với mô hình 6 nhân tố, căn cứ vào tình hình thực tế, nhà đầu tư nên quan tâm tìm hiểu tình hình hoạt động của các ngân hàng và tình hình kinh tế vĩ mô của đất nước Từ đó có cách vận dụng linh hoạt hơn công cụ đo lường rủi ro lợi nhuận này Đồng thời, để đạt được mục đích

Trang 10

đầu tư sinh lời và giảm thiểu rủi ro, nhà đầu

tư nên kết hợp các chứng khoán với nhau theo

nguyên tắc lựa chọn danh mục của Markowitz,

kết hợp cổ phiếu ngân hàng với các ngành khác để có thể đạt được suất sinh lời cao nhất mà rủi ro nhỏ nhất

Tài liệu tham khảo

1 Cakici, N and Bali, T., G (2004) Value at risk and expected stock return.

2 Carhart, M., M (2007) On persistence in Mutual fund performance.

3 Fama, E., F and French, K., R (1993) Common risk factors in the returns on stocks and bonds, Journal of financial

Economics 33

4 Jegadesh and Titman (1993) Returns to Buying Winners and Selling Losers: Implications for Stock Market Efficiency;

The Journal of Finance; Volume 48, Issue 1, March, 1993.

5 Nguyễn Tấn Minh (2012) Đánh giá các nhân tố mô hình Fama-French và Value-at-Risk trong việc giải thích suất sinh

lời cổ phiếu, trường hợp sàn cổ phiếu TP.HCM, Luận văn cao học, Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

6 Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Mạnh Hiệp (2012) Kiểm định mô hình Fama-French tại TTCK Việt Nam Tạp chí Công

nghệ Ngân hàng, số 81 (12/2012).

7 Phan Đình Nguyên và Hà Minh Phước ( 2012) Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu niêm yết trên sàn

chứng khoán TP.HCM Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 78 (9/2012).

8 Sarr, A and Lybek, T (2002) Measuring liquidity in financial market.

9 Trần Minh Ngọc (2011) Kiểm định các mô hình CAPM, Fama-French và Carhart trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Luận văn cao học, Trường Đại học Mở, TP.HCM.

Ngày đăng: 21/12/2021, 16:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Fama, E., F. and French, K., R. (1993). Common risk factors in the returns on stocks and bonds, Journal of financial Economics 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Common risk factors in the returns on stocks and bonds
Tác giả: Fama, E., F. and French, K., R
Năm: 1993
4. Jegadesh and Titman (1993). Returns to Buying Winners and Selling Losers: Implications for Stock Market Efficiency; The Journal of Finance; Volume 48, Issue 1, March, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Finance
Tác giả: Jegadesh and Titman
Năm: 1993
5. Nguyễn Tấn Minh (2012). Đánh giá các nhân tố mô hình Fama-French và Value-at-Risk trong việc giải thích suất sinh lời cổ phiếu, trường hợp sàn cổ phiếu TP.HCM, Luận văn cao học, Trường Đại học Tôn Đức Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các nhân tố mô hình Fama-French và Value-at-Risk trong việc giải thích suất sinh "lời cổ phiếu, trường hợp sàn cổ phiếu TP.HCM
Tác giả: Nguyễn Tấn Minh
Năm: 2012
6. Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Mạnh Hiệp (2012). Kiểm định mô hình Fama-French tại TTCK Việt Nam. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 81 (12/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Công "nghệ Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Mạnh Hiệp
Năm: 2012
7. Phan Đình Nguyên và Hà Minh Phước ( 2012). Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 78 (9/2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Công nghệ Ngân hàng
9. Trần Minh Ngọc (2011). Kiểm định các mô hình CAPM, Fama-French và Carhart trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn cao học, Trường Đại học Mở, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fama-French và Carhart trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Ngọc
Năm: 2011
1. Cakici, N. and Bali, T., G. (2004). Value at risk and expected stock return Khác
2. Carhart, M., M. (2007). On persistence in Mutual fund performance Khác
8. Sarr, A. and Lybek, T. (2002). Measuring liquidity in financial market Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả của các nghiên cứu tại các thị trường theo mô hình Fama-French - NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0
Bảng 1 Kết quả của các nghiên cứu tại các thị trường theo mô hình Fama-French (Trang 2)
Mô hình 6 nhân tố gồm hai dạng biến phụ thuộc R i: (i) Suất sinh lời trung bình của danh mục tất  cả 8 cổ phiếu ngân hàng; (ii) Suất sinh lời trung  bình của danh mục phân theo quy mô - NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0
h ình 6 nhân tố gồm hai dạng biến phụ thuộc R i: (i) Suất sinh lời trung bình của danh mục tất cả 8 cổ phiếu ngân hàng; (ii) Suất sinh lời trung bình của danh mục phân theo quy mô (Trang 4)
STT Biến phụ thuộc Mô hình 6 nhân tố 6 nhân tố R2 - NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0
i ến phụ thuộc Mô hình 6 nhân tố 6 nhân tố R2 (Trang 6)
So sánh kết quả Bảng 4 (mô hình CAPM) và Bảng 3 (mô  hình 6 nhân tố) thông qua  R2 cho thấy: trung bình, sử  dụng mô hình 6 nhân tố sẽ  tăng được mức giải thích ý  nghĩa suất sinh lời của cổ phiếu so với mô  hình CAPM là 24,5%. - NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0
o sánh kết quả Bảng 4 (mô hình CAPM) và Bảng 3 (mô hình 6 nhân tố) thông qua R2 cho thấy: trung bình, sử dụng mô hình 6 nhân tố sẽ tăng được mức giải thích ý nghĩa suất sinh lời của cổ phiếu so với mô hình CAPM là 24,5% (Trang 8)
nhân tố (Bảng 4). - NGHIEA n COU u TRAO NOA i 2 0
nh ân tố (Bảng 4) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w