Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâ V.I.Lê nin nêu định nghĩa: ”Vật chất là một phạm
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN 1
Chủ đề: Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
1 Phạm trù vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất
Phạm trù vật chất: Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâ
V.I.Lê nin nêu định nghĩa: ”Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
* Định nghĩa vật chất của V.I.Lê nin bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
- Vật chất là phạm trù của triết học
+ Phạm trù triết học là phạm trù bao trùm nhất, rộng nhất
+ Phạm trù vật chất trong khoa học cụ thể chỉ khái quát một trong những trạng thái cụ thểcủa vật chất, không mạng nghĩa phạm trù vật chất của triết học
- Vật chất tồn tại khách quan và được con người cảm giác
+ Tồn tại tự nó, không do ai sáng tạo ra, không mất đi, có thể chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác
+ Tồn tại trước con người, trước ý thức của chúng ta
+ Vật chất tồn tại vừa mang tính trừu tượng, vừa có nội dung cảm tính
+ Khi các trạng thái của vật chất tác động đến các giác quan thì tạo nên cảm giác cho con người
Trang 2- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất Ý thức là sự phản ánh thực tại khách quan vào bộ óc người thông qua các giác quan.
- Con người có khả năng nhận thức được thế giới: vì thế giới vật chất tồn tại khách quan khi tác động vào các giác quan thì tạo nên cảm giác để làm cơ sở cho quá trình hình thànhtri thức Quá trình đó diễn ra vĩnh viễn nên con người có khả năng nhận thức được thế giới
* Các hình thức tồn tại của vật chất
Theo quan điể của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vậtchất; không gian thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian và thời gian với tư cách là hình thức tồn tại của vật chất
+ Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một kích thước nhất định (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) và tồn tại trong các mối tương quan nhất định ( trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái) với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian
+ Mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được biểu hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, ở sự kế tiếp trước hay sau của các giai đoạn vận động Những hình thức tồn tại nhưvậy được gọi là thời gian
Không gian và thời gian gắn bó mật thiết với nhau và gắn liền với vật chất, là những hìnhthức tồn tại của vật chất Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian
và thời gian Ngược lại, cũng không có không gian và thời gian tồn tại ở bên ngoài vật chất đang vận động
* Không gian và thời gian có những tính chất cơ bản sau đây:
- Tính khách quan: không gian và thời gian là một thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với vật chất vận động Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan
Trang 3- Tính vĩnh cửu và vô tận: Theo Ph, Awngghen, vật chất vĩnh cửu và vô tận trong không gian và thời gian Vô tận có nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về phía trên lẫn phía dưới, cả về bên phải lẫn bên trái.
- Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian: Tính ba chiều của không gian là chiều dài, chiều rộng và chiều cao Tính một chiều của thời gian là chiều từ quá khứ đến tương lai không có chiều ngược lại
2 Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ phạm trù vật chất
- Khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ Cung cấp nhận thức khoa học để xácđịnh những gì thuộc về vật chất
- Khẳng định quan điểm vô thần, chống lại các quan điểm duy tâm, thần học, tôn giáo về
sự hình thành thế giới vật chất
- Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo quan niệm duy vật một cách triệt để
- Đưa ra phương pháp định nghĩa mới về phạm trù vật chất thông qua mặt đối lập là ý thức
- Mở đường cho khoa học phát triển
- Vật chất là những gì tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào
ý thức con người
- Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động lên giác quan của con người
Trang 4- Cảm giác, tư duy, ý thức của con người chỉ là sự phản ánh của vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh Bởi vậy, con người có thể nhận thứ được thế giới vật chất ( hình ảnh của vật chất tác động lên con người)
3 Ý thức, nguồn gốc, bản chất kết cấu của ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Theo Mác: Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người
và được cải biến đi trong đó”
Bản chất của ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan
* Kết cấu của ý thức: Ý thức có kết cấu rất phức tạp Có nhiều cách tiếp cận để nghiên
cứu về kết cấu của ý thức Ở đây chỉ tiếp cận kết cấu của ý thức theo nhiều các yếu tố cơ bản nhất hợp thành nó Theo cách tiếp cận này, ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: Tri thức, tình cảm và ý chí trong đó tri thức là nhân tố quan trọng nhất
Trang 5- Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là
sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ
+ Tri thức có nhiều loại khác nhau như: Tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức về con người
+ Tri thứ có nhiều cấp độ khác nhau: Tri thức cảm tính và tri thức lý tính, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức đời thường và tri thức khoa học
- Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ
+ Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của cong người và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt đọng của con người Tình cảm tích cực là một trong những động lực nâng cao năng lực hoạt động sống của con người
+ Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng
đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như: Tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo
- Ý chí là khă năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người
4 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất- ý thức
Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất ( sự biến đổi, phát triển của vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức
5 Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ vật chất- ý thức.
- Vật chất quyết định nội dung ý thức
- Ý thức có thể tác động trở lại vật chất
Chủ đề: Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
Trang 61 Phép biện chứng là gì? Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
- Phép biện chứng: Là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống cá nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn
- Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại
+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển đức
+ Phép biện chứng duy vật trong chủ nghĩa mác- lê nin
2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm:
Mối liên hệ: Là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Mối liên hệ phổ biến: Là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy)
Nội dung
Trong xã hội (phương thức sản xuất= lực lượng sản xuất + quan hệ sản xuất)
trong tư duy (thực tiễn trực quan sinh động nhận thức cảm tính tư duy trừu tượng nhận thức lý tính)
Ý nghĩa:
- Tôn trọng quan điểm toàn diện
- Tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể
3 Khái niệm, nội dung, ý nghĩa nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm:
Trang 7Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đilên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của
- Tính phổ biến của sự phát triển: Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực từ tự nhiên đến xã hội và tư duy
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Tồn tại ở những không gian, thời gian khác nhau sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của sự vật, hiện tượng khác, của các điều kiện, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật
Ý nghĩa:
- Vì mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải có quan điểm phát triển
Trang 8- Quan điểm phát triển chỉ ra rằng khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng.+ Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ không nằm bắt được những cái sự vật đang có
mà còn phải nắm bắt được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó, từ đó có cách thức, biện pháp kích thích sự vận động phát triển của sự vật
- Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta
- Định nghĩa quy luật:
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
- Phân loại quy luật: Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến, các quy luật được chia thành: những quy luật riêng, những quy luật chúng và những quy luật phổ biến
Chủ đề: Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Khái niệm, nội dung, tính chất, ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng- chất
Khái niệm
Chất là cái khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng
+ Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng làm cho nó tồn tại
mà chưa biến thành cái khác
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, trình độ, nhịp điệu của sự vận đông, phát triển của sự vật
+ Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng
Trang 9Nội dung, tính chất
* Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Mỗi sự vật hiện tượng là một thể thống nhất của hai mặt chất lượng, hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Khi sự vật đang tồn tại chất và lượng thống nhất với nhau ở một mức độ nhất định
+ Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, hiện tượng
+ Trong giới hạn của độ sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác
Ví dụ: Dưới áp suất bình thường của không khí, sự tăng hoặc sự giảm của nhiệt độ trong khoảng từ >0oC đến <100oC, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng Nếu nhiệt độ của nước giảm xuống dưới 0oC nước ở thể lỏng chuyển thành thể rắn và nếu tăng nhiệt độ từ
100oC trở lên, nước nguyên chất thể lỏng chuyển dần sang trạng thái hơi
- Trong phạm vi một độ nhất định, hai mặt chất và lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng vận động, biến đổi
+ Sự vận động, biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Quá trình này được diễn ra một cách từ từ theo cách thức tăng dần hay giảm dần Sự thay đổi
về lượng chưa làm cho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi ngay mà nó mới chỉ ảnh hưởng đến trạng thái của sự vật, hiện tượng
- Khi lượng của sự vật, hiện tượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì tất yếu làm cho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi, giới hạn đó gọi là điểm nút
+ Điểm nút là những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật
Vd: Điểm nút ở nước 0oC và 100oC, vì dưới 0oC nước ở trạng thái rắn và trên 100oC nướcchuyển sang trạng thái hơi
Trang 10- Sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận đông, phát triển của sự vật.
+ Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên
+ Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và đồng thời là điểm khởi đầu của một giai đoạn mới, nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật Không có bước nhảy tức là không có sự thay đổi về chất Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút vô tận, thể hiện các thức vận động và phát triển của sự vật từ thấp đến cao
- Khi chất mới ra đời nó sẽ quy định một lượng mới phù hợp với nó để tạo sự thông nhất mới giữa chất và lượng và chất mới sẽ tác động trở lại lượng cảu sự vật trên nhiều
phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu cảu sự vận động và phát triển của sự vật
Như vậy, không chỉ những thay đổi đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất mà những thay đổi về chất cũng dẫn đến những thay đổi về lượng
Tóm lại: Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt
chất và lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi
về chất của sự vật thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy
- Các hình thức cơ bản của bước nhảy.
+ Bước nhảy là một hình thức phổ biến và tất yếu của sự chuyển hóa từ những thay đổi
về lượng dẫn đến thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng
Trang 11+ Bước nhảy trong tự nhiên diễn ra một cách tự phát còn bước nhảy trong lĩnh vực xã hộiphải thông qua hoạt động có ý thức của con người.
- Bước nhảy có thể khác nhau về nhịp độ, có bước nhảy diễn ra trong thời gian ngắn, cũng có bước nhảy diễn ra trong thời gian dài
+ Bước nhảy đột biến: là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thayđổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật
+ Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi
- Bước nhảy có thể khác nhau về quy mô, có bước nhảy toàn bộ, có bước nhảy cục bộ+ Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật
+ Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng
lẻ của sự vật
Ý nghĩa phương pháp luận
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là thống nhất giữa hai mặt chất và lượng, hai mặt đó luôn tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau Do đó, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng, phải nhận thức cả hai mặt chất và lượng của nó
- Trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của chúng ta phải biết tích lũy về lượng
để làm biến đổi về chất của sự vật, chống tư tưởng chủ quan, duy ý chí, đốt cháy giai đoạn
- Khi đã tích lũy đủ về lượng thì khi quyết thực hiện bước nhảy, chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ (ngại khó không dám thực hiện bước nhảy để thay đổi về chất khi đã có đủ tích lũy
về lượng)
Vì bước nhảy của sự vật là rất đa dạng, phong phú, do vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể