1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Mac Lenin, mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay

20 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vật chất là một phạm trù rất phức tạp và đã có nhiều quan điểm khác nhau theo trường phái khác nhau. Nhưng Lênin đã đưa ra một số định nghĩa khoa học về vật chất như sau: Vật chất là một phạm trù triết học chung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khi định nghĩa Vật chất là một phạm trù triết học Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng đến cùng cực mà cho đến nay thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được. Với phạm trù này phương pháp định nghĩa thông thường quy phạm trù cần định nghĩa vào phạm trù khác rộng hơn. Người ta không thể quy vật chất vào một phạm trù nào rộng hơn nó. Do vậy chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đối lập nó với ý thức, xác định nó là cái mà khi tác động đến giác quan của chúng ta thì gây ra cảm giác. Lênin khẳng định vật chất không có nghĩa gì khác hơn làthực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được ý thức con người phản ánh.Định nghĩa vật chất của Lênin đã khẳng định câu trả lời của chủ nghĩa duy vật và cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bác bỏ những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan, bất khả duy luận và thuyết nhị nguyên. Đồng thời khắc phục những thiếu sót trong quan điểm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ.Định nghĩa vật chất của Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội. Đây là điều mà các nhà duy vật trước Mác chưa đạt tới. Định nghĩa của Lênin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; Trên cơ sở đó người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động, thúc đẩy xã hội phát triển và định nghĩa đó có ý nghĩa vạch hướng cho các nhà khoa học cụ thể trong việc đi sâu tìm hiểu thế giới, tìm kiếm các dạng, các hình thức của vật thể mới trong thế giới vật chất. 2. Nguồn gốc của ý thức:2.1. Nguồn gốc tự nhiên:Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học tinh thần. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là một thuộc tính của vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là óc con người. ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc con người. Vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ óc của con người. Do đó chỉ có con người và bộ óc của mình mới có ý thức theo đúng nghĩa của từ đó. Tuy nhiên nếu chỉ có bộ óc thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức.Như vậy, bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc là hai nguồn gốc tự nhiên hình thành nên ý thức.2.2. Nguồn gốc xã hội:Để có ý thức ra đời những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu, nhưng chưa đủ; mà điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề nguồn gốc xã hội. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành của bộ óc người nhờ lao động và ngôn ngữ và các quan hệ xã hội khác. Ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Nó phụ thuộc vào xã hội và ngay từ đầu đã mang tính chất xã hội.

Trang 1

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TRONG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trang 2

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TRONG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa

ý thức và vật chất luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội

Những thành tựu của công cuộc đổi mới của nước ta trong thời gian qua đã

và đang tạo ra tiền đề mới để chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Nhiều vấn đề cần thiết, cấp bách của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã nảy sinh

Khả năng giữ vững độc lập tự chủ hội nhập với cộng đồng quốc tế được tăng thêm Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội Các nước đều có cơ hội phát triển Tuy nhiên, do ưu thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý thuộc về các nước phát triển đã khiến cho các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn Đặc biệt là nước ta thì đó là những thách thức to lớn Vì do xuất phát điểm của nước ta quá thấp lại đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt

Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và nhà nước ta đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Trong đó đổi mới kinh

tế là cơ bản nhất, đóng vai trò then chốt và giữ vị trí chủ đạo Đồng thời đổi mới về những chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế cũng mang tính cấp bách và cần thiết hơn bao giê hết Bởi vì giữa đổi mới chính sách phát triển kinh tế có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau không thể tách rời Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép ta vận dụng nó vào mối quan hệ kinh tế

và những chính sách của nhà nước Và giúp cho việc đổi mới, xây dựng nền kinh tế của nhà nước ta thêm vững chắc, có căn cứ khoa học để có thể thúc đẩy nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và giàu mạnh

Chính ý nghĩa đó, nhóm em đã lựa chọn đề tài: " Biểu hiện của quan hệ

giữa vật chất và ý thức trong việc đổi mới và xây dựng nền kinh tế ở nước ta”

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I/ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1.Vật chất:

a Định nghĩa vật chất:

Vật chất là một phạm trù rất phức tạp và đã có nhiều quan điểm khác nhau theo trường phái khác nhau Nhưng Lênin đã đưa ra một số định nghĩa khoa học về vật chất như sau:

" Vật chất là một phạm trù triết học chung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác" Khi định nghĩa " Vật chất là một phạm trù triết học" Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm "rộng nhất, rộng đến cùng cực mà cho đến nay thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được" Với phạm trù này phương pháp định nghĩa thông thường quy phạm trù cần định nghĩa vào phạm trù khác rộng hơn Người ta không thể quy vật chất vào một phạm trù nào rộng hơn nó Do vậy chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đối lập nó với

ý thức, xác định nó là cái mà khi tác động đến giác quan của chúng ta thì gây ra cảm giác Lênin khẳng định vật chất không có nghĩa gì khác hơn là"thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và được ý thức con người phản ánh

Định nghĩa vật chất của Lênin đã khẳng định câu trả lời của chủ nghĩa duy vật và cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bác bỏ những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan, bất khả duy luận và thuyết nhị nguyên Đồng thời khắc phục những thiếu sót trong quan điểm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ

Định nghĩa vật chất của Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Đây là điều mà các nhà duy vật trước Mác chưa đạt tới Định nghĩa của Lênin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; Trên cơ sở đó người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động, thúc đẩy xã hội phát triển và định nghĩa

đó có ý nghĩa vạch hướng cho các nhà khoa học cụ thể trong việc đi sâu tìm hiểu thế giới, tìm kiếm các dạng, các hình thức của vật thể mới trong thế giới vật chất

Trang 4

2 Nguồn gốc của ý thức:

2.1 Nguồn gốc tự nhiên:

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học tinh thần Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là một thuộc tính của vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là óc con người ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc con người Vì vậy không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ óc của con người Do đó chỉ có con người và bộ óc của mình mới có ý thức theo đúng nghĩa của từ đó Tuy nhiên nếu chỉ có bộ óc thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức

Như vậy, bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc là hai nguồn gốc tự nhiên hình thành nên ý thức

2.2 Nguồn gốc xã hội:

Để có ý thức ra đời những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu, nhưng chưa đủ; mà điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề nguồn gốc xã hội ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành của bộ

óc người nhờ lao động và ngôn ngữ và các quan hệ xã hội khác Ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội Nó phụ thuộc vào xã hội và ngay từ đầu đã mang tính chất

xã hội

Chính thông qua lao động nhằm cải tạo thế giới thì con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có thể ý thức được về thế giới đó Nhờ lao động mà con người tác động vào đối tượng, sự việc buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác động vào bộ óc con người hình thành nên ý thức

Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tư tưởng cho nhau, chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, đồng thời cũng là công cụ của tư duy, nhờ ngôn ngữ mà con người mới có thể khái quát hoá, mới có thể suy nghĩ tách khỏi sự vật cảm tính

Trang 5

Như vậy nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và ngôn ngữ ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ cùng quan hệ

xã hội khác ý thức là sản phẩm xã hội, là hiện tượng của xã hội

3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:

Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức Còn ý thức tác động trở lại vật chất thông qua

sự chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người

3.1 Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức:

Vật chất quyết định sự hình thành của ý thức, bởi vì ý thức là một đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người Chính bộ não con người

là cơ quan vật chất có chức năngphản ánh hiện thực khách quan hình thành nên ý thức và vật chất cũng quyết định nội dung của ý thức vì bản chất của ý thức là phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Do đó nội dung của ý thức từ hiện thực khách quan mà trừu tượng ra, không có hiện thực khách quan tác động vào giác quan thì không có ý thức Đồng thời vật chất còn quyết định sự vận động và biến đổi của ý thức, vì khi hiện thực khách quan thay đổi, điều kiện tự nhiên thay đổi, sản xuất ra của cải vật chất có sự thay đổi, mối quan hệ giữa người và người về vật chất có sự thay đổi, thì sớm muộn ý thức cũng có sự thay đổi theo

Không những thế, vật chất còn là điều kiện để thực hiện hoá ý thức tư tưởng mỗi con người, mỗi tổ chức xã hội thường có những mục đích nguyện vọng, những

kế hoạch nhất định Song tất cả những cái đó chỉ có thể thực hiện được khi có những điều kiện vật chất phù hợp bởi vì bản thân ý thức nó không có tác dụng gì cả muốn thực hiện hoá ý thức thì phải có những điều kiện về vật chất nhất định, thiếu những điều kiện vật chất đó ngưới ta không thể hoạt động được

3.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai chiều hướng:

- Nếu ý thức phản ánh đúng đến hiện thực khách quan, nắm bắt được bản chất quy luật của sự vật dùa trên cơ sở nào đó mà đề ra những mục tiêu, đường lối,

Trang 6

kế hoạch, biện pháp để cải tạo tự nhiên và xã hội thì sự chủ đạo hoạt động thực tiễn

đó sẽ tiến hành thành công Còn nếu ý thức không phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, tức là không nắm bắt được các quy luật bản chất vật chất của sự vật, thậm chí áp đặt vào sự vật một cách chủ quan duy ý chí theo lòng ham muốn định sẵn của mình dựa trên cơ sở đó mà đề ra những mục tiêu, đường lối, phưong hướng, biện pháp để chỉ đạo họat động thực tiễn, cải tạo sự vật thì sẽ dẫn đến hoạt động thực tiễn đó

4 Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có thể rót ra ý nghĩa phương pháp luận như sau:

Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan và phát huy tính năng động chủ quan Trước hết sức mạnh của ý thức con người không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất, thoát khỏi hiện thực khách quan, mà phải biết dựa vào điều kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan một cách chủ động, sáng tạo với ý chí và nhiệt tình cao Con người phản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới đó có hiệu quả Vì vậy phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan Tuy nhiên, cơ sở cho sự phát huy tính năng động chủ quan là việc thừa nhận

và tôn trọng tính khách quan của vật chất và các quy luật tự nhiên, xã hội Nếu như thế giới vật chất với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy hiện thực khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Chính vì vậy, Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho đường lối, biện pháp Nếu chỗ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lâý

ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí

Trang 7

II/ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

1 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị.

Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau Nhân tố vật chất giữ vai trò là cơ sở, quyết định, còn nhân tố ý thức là có tác dụng trở lại đối với nhân tố vật chất Trong nhiều trường hợp, nhân tố ý thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của hoạt động con người Điều này thể hiện rõ trong tác động của đường lối, các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng Song xét đến cùng, tác động của ý thức có tính tương đối, có điều kiện Vai trò tích cực hay tiêu cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể Vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động theo qui luật khách quan đòi hỏi

ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, và nếu là tiêu cực, ý thức sớm muộn sẽ bị đào thải Mặt khác, ý thức là cái có sau, là cái phản ánh, hơn nữa vai trò của nó còn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong quá trình phản ánh hiện thực Do vậy, xét toàn cục, ý thức chỉ có được nếu nó thâm nhập vào quần chúng và tổ chức hoạt động Nếu như chúng ta đưa nó vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, thì chúng ta có thể thấy rằng, giữa kinh tế ( biểu hiện của vật chất) và chính trị ( biểu hiện về ý thức) cũng có mối quan hệ rằng buộc với nhau Bởi vì, chúng ta thấy rằng, tình hình kinh

tế của một nước là cơ sở, là quyết định, song chính trị là cơ bản Nếu kinh tế của một nước giàu mạnh, nhưng chính trị không ổn định, đấu tranh giai cấp, tôn giáo giữa các Đảng phái khác nhau.v.v…thì đất nước đó cũng không thể trở nên yên ấm

và tồn tại lâu dài được, cuộc sống của nhân dân tuy sung túc, đầy đủ nhưng luôn phải sống trong lo âu, sợ hãi vì nội chiến, chết chóc Do đó, nếu chính trị của một nước mà ổn định, tuy nhiều Đảng khác nhau nhưng vẫn qui về một chính Đảng thống nhất đất nước, và Đảng này vẫn đem lại sự yên ấm cho nhân dân, thì nếu đất nước đó giầu thì cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, ngược lại nếu như nước đó nghèo thì cho dù chính trị ổn định đến đâu thì cuộc sống của nhân dân

sẽ trở nên khó khăn và sẽ dẫn đến đảo chính, sự sụp đổ chính quyền để thay thế một chính quyền mới đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân hơn

Trang 8

Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi tuỳ theo từng hình thái kinh tế

xã hội Con người trải qua năm hình thái xã hội: thời kì nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Trình độ tổ chức quản lí và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố qui định trình độ hiện đại và mức sống của xã hội Sản xuất vật chất còn là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của xã hội Hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng, mọi quan hệ của đời sống

xã hội bao gồm quan hệ chính trị Nhà nước pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo đều hình thành và biến đổi phát triển gắn liền với cơ sở kinh tế và sản xuất nhất định Trong xã hội ấy, theo Mác quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (quan hệ kinh tế) là quan hệ cơ bản nhất quyết định tất cả các quan hệ khác Một khi sản xuất phát triển, cách thức sản xuất của con người thay đổi, năng suất lao động tăng, mức sống được nâng cao thì các mối quan hệ và mọi mặt của đời sống xã hội cũng thay đổi theo Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng cuả con người, thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội Sản xuất vật chất, môi trường, tự nhiên, điều kiện xã hội…đòi hỏi thế lực, trí tuệ và nhân cách của con người phải phát triển thích ứng với nó Yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất là cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội, là nhân tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất là cơ sở làm nảy sinh sự phong phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất, năng lực và tinh thần của con người Nói cho cùng thì trong hoạt động của con người, những nhu cầu về vật chất (kinh tế) bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con người phải trước hết ăn mặc, ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của cuộc sống con người Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta đã học tập

và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Như chúng ta đã biết vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Ý thức chỉ có thể tác động đối với vật chất khi nó được hoạt động thông qua

Trang 9

thực tiễn, nên nếu thực tiễn trì trệ thì ý thức cũng trì trệ theo Nhờ có hoạt động thực tiễn ý thức của Đảng được nâng cao đề ra những đường lối đổi mới và cải cách cùng phát triển đất nước

Công cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và cho phép phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ như ở nước ta hiện nay Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư bản tư nhân, đương nhiên phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và những mặt tiêu cực trong các thành phần kinh tế, giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong sản xuất giữa chúng đến cùng

Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay phát triển

2 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh

tế mới ở nước ta hiện nay:

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu Mặt khác nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề

Ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng

Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất vượt quá khả năng của nền kinh tế, như năm 1975, phấn đấu đạt 20 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển,

1 triệu ha khai hoang, 1 triệu 200 ha rừng mới trồng 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng Đặc biệt là đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp

Trang 10

nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu tới nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đời sống của nhân dân Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế đề ra chỉ đạt khoảng 50%-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%

Đại hội Đảng lần thứ V cũng chưa tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực của sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chưa đề ra được các chủ trương chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là kinh tế Trong năm

1981-1985 chúng ta chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh

tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh vực phân phối lưu thông Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế- xã hội, ổn định đời sống nhân dân

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nhận định: "Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng

xã hội chủ nghĩa Nhưng Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi phạm qui luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương"

Tất nhiên, ngoài những khuyết điểm chủ yếu nêu trên, cũng còn những nguyên nhân khách quan như hậu quả của nhiều năm chiến tranh, bối cảnh quốc tế song chủ yếu là do chúng ta phạm sai lầm chủ quan, những sai lầm đó cùng với trì trệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển

Nhắc lại tình hình trên để thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức (Ở đây là các chủ trương chính sách về quản lí) đối với vật chất (là nền kinh tế) và thấy tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải

Ngày đăng: 18/12/2021, 21:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w