1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hng mi trong nghien cu han hc th

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 230,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 1960, tôi bắt đầu tham gia các hội thảo Hán học quốc tế, những hội thảo có quy mô khá lớn từng được tổ chức tại các thành phố nổi tiếng như London, New York, Paris, Hamburg,

Trang 1

XU HƯỚNG MỚI TRONG NGHIÊN CỨU HÁN HỌC THẾ KỈ XXI

XU HƯỚNG MỚI TRONG NGHIÊN CỨU HÁN HỌC THẾ KỈ XXI

HÀ BÁI HÙNG ()

1 Hán học 漢學 (Sinology) là tên

gọi chung cho học thuật Trung Quốc

Phạm vi học thuật của Hán học rất rộng,

ít nhất bao gồm chính trị, kinh tế, văn

hóa, lịch sử, giáo dục, lễ chế, luân lí,

ngôn ngữ, văn học, triết học, nghệ thuật,

khoa học kĩ thuật Hiện nay rất nhiều

quốc gia đã thành lập ngành Hán học

(Sinological Studies)(1), trong đó nghiên

cứu Hán học của Hàn Quốc, Nhật Bản,

Pháp, Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ, Đức, Mĩ

có thành tựu rực rỡ; nghiên cứu Hán học

của Ấn Độ, Việt Nam, Australia, Italia,

Singapore, Philippines, Thổ Nhĩ Kì,

Uruguay cũng khiến người ta phải quan

tâm(2) Từ những năm 1960, tôi bắt đầu

tham gia các hội thảo Hán học quốc tế,

những hội thảo có quy mô khá lớn từng

được tổ chức tại các thành phố nổi tiếng

như London, New York, Paris, Hamburg,

Kyoto, Hồng Kông, Hawaii, Singapore,

Copenhagen, Prague, Montreal…, thu

hút được rất nhiều học giả tới bày tỏ

quan điểm của mình và giao lưu những

điều tâm đắc trong nghiên cứu, đó là

những sự kiện trọng đại trong giao lưu

học thuật thế giới(3) Vì vậy, tôi cho rằng,

Hán học không chỉ thuộc về Trung Quốc,

mà còn thuộc về toàn thế giới(4) Thế giới ngày nay, trong xã hội mà văn minh vật chất đã ở mức cao, đã nảy sinh nguy cơ tiêu vong đạo đức, tự do dân chủ biến thành “chủ nghĩa cá nhân”,

“giá trị tồn tại” biến thành thù hận và đấu tranh giữa người với người Phương pháp cứu vãn là phải đề xướng văn hóa tinh thần, mà Hán học lại hàm chứa nguồn tài nguyên văn hóa tinh thần quý giá, thích hợp với nhu cầu của thế kỉ mới,

đủ để góp sức cho sự tiến bộ của văn minh nhân loại(5)

Nghiên cứu Hán học có lịch sử lâu đời, khó mà kể hết Nay trong thế kỉ XXI, sự giao lưu văn hóa rất phát triển, nảy sinh quan niệm toàn cầu hóa (globalization), tôi cho rằng nghiên cứu Hán học cần phải theo xu hướng “tứ hóa” (1 Khoa học hóa, 2 Chuyên môn hóa, 3 Tập thể hóa, 4 Quốc tế hóa)

() GS.TS Viện Nghiên cứu Văn sử thuộc Thư viện Chu Hải - Hồng Kông; Giáo sư danh dự của Đại học Hồng Kông

Trang 2

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 3 (100) - 2010 HÀ BÁI HÙNG

2 Cổ nhân khi nghiên cứu học thuật

phần nhiều là vùi đầu vào trong đống

thư tịch cổ, suốt ngày nghiền ngẫm

trong đám chữ nghĩa của kinh, truyện,

chú, sớ, tiên, giải, huấn hỗ, chính nghĩa,

nhìn chung là do chịu ảnh hưởng của tư

tưởng truyền thống “tín nhi hiếu cổ” 信

而好古 (tin cổ và hiếu cổ) Ngày nay

chúng ta theo đuổi nghiên cứu học thuật,

đầu tiên là cần chú trọng thực sự cầu thị,

thận trọng tìm chứng cứ, từ đó tận dụng

vật thực (nhất là những văn vật khai quật

được trong mấy chục năm gần đây) làm

chứng cứ nghiên cứu Vừa coi trọng

diễn giải truyền thống, lại vừa tiếp thu

những lí luận mới; ra sức vận dụng

thống kê học, xã hội học, địa lí học, tâm

lí học, ngôn ngữ học, mĩ học…, suy luận

tổng hợp, nhìn rộng xét sâu, từ đó rút ra

kết luận khách quan và công bằng(6)

Khoa học kĩ thuật hiện đại phát triển cao,

chúng ta trong khi nghiên cứu có thể tận

dụng các công cụ như ảnh ấn, vi phim

(microfilm), vi phiếu (microfiche), đĩa laser,

máy fax, máy vi tính… để bổ trợ cho việc

sưu tầm và phân tích tài liệu, để việc nghiên

cứu đi theo xu hướng “khoa học hóa”

Những năm gần đây, Internet phát

triển rất mạnh trên toàn thế giới, phương

tiện khả dụng cũng cực kì phong phú,

như Email, FTP, Archive, Telnet, World

-Wide-Web, trong đó World-Wide-Web

có thể truyền tư liệu ở dạng chữ, ảnh, âm

thanh, video, nội dung bao hàm rất rộng

lớn, tiện cho việc thu thập tư liệu Ví dụ

như riêng lĩnh nghiên cứu lịch sử Trung

Quốc đã có mấy trang web ở khu vực

Bắc Mĩ(7)

Tháng 4/1996, tại Hawaii đã diễn ra

Hội nghị thường niên lần thứ 48 của Hội

Nghiên cứu châu Á của Mĩ (48th Association for Asian Studies Annual Meeting), lấy tiêu đề là “Hán học bằng máy vi tính” (Sinology by Computer), thảo luận về tầm quan trọng và ảnh hưởng của máy vi tính đối với nghiên cứu Hán học, các học giả cho rằng tận dụng những kho dữ liệu điện tử được tạo thành qua máy vi tính là một sự trợ giúp đắc lực cho nghiên cứu khoa học(8)

3 Học thuật có phạm vi vô cùng

rộng lớn, từ kinh, sử, tử, tập truyền thống; tới thiên văn, địa lí, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, pháp luật, quân

sự, lễ tục, lịch sử, văn học, nghệ thuật…

hiện đại, môn loại rất nhiều Độ rộng tất nhiên là quan trọng, nhưng độ sâu mới khó đạt tới Độ rộng giúp liên thông, độ sâu để hiểu kĩ Hứng thú của mỗi người không giống nhau, tài năng cũng khác nhau, có người thích chính trị, có người ham khảo cổ, có người yêu mĩ thuật, có người mê văn học, chỉ cần xác định kế hoạch nghiên cứu (research plan), chuyên tâm dốc chí, giữ vững không rời,

nỗ lực nghiên cứu, thì đó có thể gọi là

“chuyên môn hóa” rồi

Hiện nay rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan văn hóa đều

đã thiết lập các trung tâm Nghiên cứu hoặc sở nghiên cứu chuyên môn hóa, ví

dụ như Trung tâm Nghiên cứu Châu Á, Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa đời Đường, Trung tâm Nghiên cứu Khổng học, Trung tâm Nghiên cứu Hán ngữ, Sở Nghiên cứu Từ phú, Sở Nghiên cứu Lịch sử cận đại, Sở Nghiên cứu Văn học dân gian, Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, Sở Nghiên cứu Khoa học xã hội

Trang 3

XU HƯỚNG MỚI TRONG NGHIÊN CỨU HÁN HỌC THẾ KỈ XXI

và nhân văn…, đưa việc nghiên cứu tập

trung vào một phạm vi nhất định, hiệu

quả chắc chắn sẽ cao hơn

Từ xưa đến nay, phạm vi nghiên cứu

của Hán học rất rộng, giáp cốt, chung

đỉnh, bi khắc, Hán giản, tộc phả, phương

chí… đã trở thành cái học chuyên môn;

còn văn hiến học, khảo cổ học, Đôn

Hoàng học, dân tộc học, nhân loại học,

ngôn ngữ học cũng đã trở thành phạm vi

tìm hiểu của các chuyên gia

4 Một vài đề tài nghiên cứu thực sự

là phải có nhiều người cùng làm mới

xong, chứ sức một người khó thành, có

những tư liệu không phải một người có

thể sưu tập được, ví dụ như biên soạn bộ

Tân biên toàn Đường Ngũ đại văn 新编

全唐五代文, ngoài những sách vở của

thư tịch cũ, thì còn có văn vật khai quật

ở các vùng, rộng khắp toàn quốc, thậm

chí cả nước ngoài, cần mở trung tâm

nghiên cứu, lập ban biên tập, liên lạc

giữa học giả các vùng, để cung cấp

những tư liệu quý, thông qua sưu tầm tài

liệu, chỉnh lí, hiệu khám, biên tập, như

vậy mới có thể thực hiện công việc một

cách trọn vẹn Hiện nay nhiều trường đại

học và viện nghiên cứu đều có “nhóm

làm việc” (working team) để tập hợp lực

lượng, trao đổi những điều tâm đắc, thực

hiện công việc “tập thể hóa” Ví dụ như

việc biên soạn các sách văn học Trung

Quốc, bộ Giản minh Trung Quốc văn

học sử 简明中国文学史 được Thượng

Hải nhân dân xuất bản xã in năm 1976,

do nhóm biên soạn lịch sử văn học của

Khoa Trung văn - Đại học Sư phạm

Thượng Hải đồng biên soạn Bộ Trung

Quốc văn học phê bình tư liệu vựng biên

中国文学批评资料汇编 do Đài Loan quốc lập biên dịch quán chủ biên, Thành văn xuất bản xã in năm 1987, bộ sách do

9 người cùng viết, gồm: Diệp Khánh Bính, Kha Khánh Minh, Tăng Vĩnh Nghĩa, La Liên Thiêm, Hoàng Khải Phương, Trương Kiện, Lâm Minh Đức, Thiệu Hồng, Ngô Hoành Nhất Bộ

Trung Quốc đương đại văn học sử 中国

当代文学史, Phúc Kiến nhân dân xuất bản xã in năm 1979, do 22 trường viện hợp biên, như Đại học Sơn Đông, Đại học Tứ Xuyên, Đại học An Huy, Đại học Hàng Châu, Đại học Phúc Đán, Đại

học Liêu Ninh… Bộ Trung Quốc tân thi

thưởng tích 中国新诗赏析 (Thưởng thức

và phân tích thơ mới Trung Quốc), Đài Bắc Trường thành xuất bản xã in năm

1981, do 6 người biên soạn, gồm: Lâm Minh Đức, Lí Phong Mậu, Lã Chính Huệ, Hà Kí Bành, Lưu Long Huân Bộ

Lịch đại phú giám thưởng từ điển 历代

赋鉴赏辞典, An Huy văn nghệ xuất bản

xã in năm 1992, do Hoắc Húc Đông, Triệu Lượng Nguyên và Hà Nhị Nhậm chủ biên, có đến 98 người tham gia viết

Bộ Cổ văn giám thưởng đại từ điển 古

文鉴赏大辞典, Chiết Giang giáo dục xuất bản xã in năm 1989, do Từ Trung Ngọc chủ biên, số người viết và thẩm định lên tới 214, như: Chu Đông Nhuận, Thi Trập Tồn, Vương Quý Tư, Trình Thiên Phàm, Hoắc Tùng Lâm, Mã Mậu Nguyên, Vương Vận Hi, Chu Chấn Phủ, Ngô Văn Trị, La Tông Cường, Kim Khải Hoa, Tưởng Tổ Di, Tiền Bá Thành,

Trương Thiếu Khang Bộ Trung Quốc

văn học sử 中国文学史 do Bắc Kinh

cao đẳng giáo dục xuất bản xã in năm

Trang 4

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 3 (100) - 2010 HÀ BÁI HÙNG

1999, Viên Hành Bái chủ biên, do các

trường Đại học Bắc Kinh, Đại học Nam

Khai, Đại học Nam Kinh, Đại học Trung

Sơn, Đại học Phúc Đán, Đại học Sơn

Đông và Đại học Sư phạm Bắc Kinh

hợp biên Những bộ sách này được đông

đảo độc giả hoan nghênh, có thể thấy đó

là hiệu quả của “tập thể hóa”

5 Từ thế kỉ XIX đến nay, nghiên

cứu Hán học không còn hạn chế trong

Trung Quốc nữa mà đã mở rộng ra nhiều

nước Đông Á và Âu Mĩ Các nhà Hán

học nước ngoài thường tập trung tinh

lực trong một hai chục năm, thậm chí là

cả đời, để nghiên cứu một bộ kinh điển,

tổng tập, biệt tập của Trung Quốc, hoặc

một chuyên đề nào đó, mà thành quả

nghiên cứu cũng rất đáng nể phục, như:

Thụy Điển có Bernhard J Karlgren

nghiên cứu Kinh Thi 诗经; nước Anh có

David Hawkes nghiên cứu Sở từ 楚辞,

A.C Graham nghiên cứu thơ Đường,

D.G Twitchett nghiên cứu Tống sử,

Joseph Needham nghiên cứu khoa học

kĩ thuật Trung Quốc; nước Pháp có E

Chavannes nghiên cứu và dịch Sử kí 史

记, P Pelliot nghiên cứu sách ở Đôn

Hoàng, P Demieville nghiên cứu Phật

học Trung Quốc, Yves Hervouet nghiên

cứu Tư Mã Tương Như; nước Mĩ có J.R

Hightower nghiên cứu văn học cổ điển

Trung Quốc, B Watson nghiên cứu phú

thời Hán Ngụy Lục Triều, D Kmechtges

dịch Chiêu Minh văn tuyển 昭明文选;

nước Đức có Wolfgang Franke nghiên

cứu Minh sử, Alfred Hoffmann nghiên

cứu cách luật thi từ; ngoài ra còn có các

học giả Nhật Bản như: Nakajima Chiaki

(中島千秋), Suzuki Torao (鈴木虎雄),

Aoki Masaru ( 青 木 正 儿 ), Yoshikawa

Kotaro (吉川幸太郎), Shimizu Shigeru

(清水茂); các học giả Hàn Quốc như:

Ch'a Chu-hwan (車柱環), Chang Ki-gun

( 張 基 槿 ), Kim Yong-gwi ( 金 永 基 ), Chin T’ae-ha ( 陳 泰 夏 ), Alexander Jeong [?] (丁範鎮)… đều nghiên cứu rất sâu về văn học, lịch sử, triết học Trung Quốc, ai cũng có chuyên luận công bố Thành tựu học thuật của những nhà Hán học này được quốc tế công nhận, trước thuật của họ đáng được chúng ta tham khảo(9)

Nghiên cứu Hán học “quốc tế hóa”

có ví dụ rõ ràng nhất là nghiên cứu Đôn Hoàng học 敦煌学 Đôn Hoàng học vốn nổi tiếng trong và ngoài nước, nội dung bao gồm các lĩnh vực văn học, chính trị, kinh tế, lịch sử, địa lí, xã hội, tôn giáo, thiên văn, thuật số, nghệ thuật, y dược,

khoa học kĩ thuật Bộ Catalogue des

manuscrits chinois de Touenhouang - fonds Pelliot chinois (Danh mục văn bản

chép tay Trung Quốc ở Đôn Hoàng - kho sách của Pelliot về Trung Quốc) là tư liệu quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu Đôn Hoàng học, những tư liệu khác phân tán ở Bảo tàng Anh quốc (British Museum), Toyo Bunko (Đông Dương văn khố) ở Nhật Bản, Thư viện Hoàng gia Copenhagen ở Đan Mạch, Viện Nghiên cứu các dân tộc châu Á thuộc Viện hàn lâm Khoa học Nga, Thư viện Quốc gia Ấn Độ…, chỉ có nghiên cứu “quốc tế hóa”

mới có thể nhìn được toàn cục

6 Nghiên cứu Hán học bao quát xưa

nay, phạm vi rất rộng, văn vật mới khai quật là chứng cứ quý giá trong số tư liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mới là công cụ tốt để sưu tầm và phân tích tài liệu

Trang 5

XU HƯỚNG MỚI TRONG NGHIÊN CỨU HÁN HỌC THẾ KỈ XXI

Bánh xe thời đại không ngừng lăn

về phía trước, nghiên cứu học thuật ắt

đồng hành cùng thời gian, cần tận dụng

những kĩ năng thông tin mới, xuất phát

từ tinh thần khoa học để tìm hiểu, phân

tích một cách khách quan, nỗ lực biện

ngụy cầu chân

Phương pháp nghiên cứu thì trước

hết phải rộng rồi sau mới sâu, đến giai

đoạn nghiên cứu thì tùy theo hứng thú

và sở trường của mỗi cá nhân để lựa

chọn kĩ càng, chuyên tâm vào một nơi,

đạt đến mức độ “chuyên môn hóa”

Có một số phạm vi nghiên cứu mà

sức một người không thể sưu tầm hết tài

liệu, đồng thời tri thức của mỗi người lại

có hạn, vậy nên cần phải tập hợp chuyên

gia để trao đổi ý kiến, thảo luận về thành

quả, thậm chí phân công hợp tác, tích

tiểu thành đại, mới có thể làm được việc

lớn Đó là hiệu quả của “tập thể hóa”

Ngày nay công nghệ thông tin phát

triển, có thể nói là chân trời trong gang tấc,

tư liệu nghiên cứu và thông tin học thuật

các nơi lưu truyền rất nhanh, mà rất nhiều

điển tịch văn vật quý giá của nước ta như

bốc từ giáp cốt, sách chép tay Đôn Hoàng,

chuông đỉnh, gốm sứ, Tần bi Hán giản,

tùng thư, loại thư… vẫn còn lưu lạc rất

nhiều ở nước ngoài, làm thế nào để sử

dụng được những tư liệu quý giá này,

mượn đá núi khác để mài ngọc của mình,

điều này phải chờ “quốc tế hóa”

Thời đại không ngừng tiến bộ,

chúng ta nghiên cứu Hán học không thể

bó tay buộc chân, cần phải tận dụng tri

thức mới, mở rộng tầm mắt ra thế giới,

lòng ôm bốn biển, tiếp thu rộng khắp, để

có thể tìm hiểu thành công, cống hiến

cho văn hóa thế giới (Hán học không chỉ

thuộc về Trung Quốc, mà còn thuộc về

cả thế giới)

N.T.C dịch

Người dịch: Nguyễn Tuấn Cường (GV Khoa Văn học, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội)

Nguồn dịch: 何沛雄,《二十一世纪汉学

研究的新趋向》, in trong:《中国传统文 化与新世纪精神文明建设学术研讨会论

文集》(Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế

‘Văn hóa truyền thống Trung Quốc với việc xây dựng văn minh tinh thần trong thế

kỉ mới’), tổ chức ngày 9-12/11/2001 tại Tp

Đan Giang Khẩu, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, tr.600-606

Chú thích:

(1) Ngành Hán học, chủ yếu là giảng dạy tiếng Hán (Chinese Language), hiện nay không ít quốc gia, vì phát triển quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, cần đào tạo người biết tiếng Hán, nên lập ngành Trung văn ở các trường Trung học và Đại học, con số này rất lớn

(2) Xin xem: Hội biên soạn đại điển Trung Hoa của Đài Bắc - Viện Nghiên cứu

Quốc phòng cùng biên soạn, Tập bài nghiên

cứu Hán học của các nước trên thế giới 世 界各国汉学研究论文集, tập 1, tập 2, Sở Nghiên cứu văn hóa Trung Quốc Đài Bắc xuất bản (hợp tác với Viện Nghiên cứu Quốc phòng) 1962, 1963; cũng xem: Vương

调 查 录, Trung tâm tư liệu và phục vụ nghiên cứu Hán học Đài Bắc xuất bản, 1982 Trung tâm nghiên cứu Hán học Đài Bắc từ

năm 1982 bắt đầu in tờ Hán học nghiên cứu

tin nghiên cứu Hán học của các nước; năm

1998, tạp chí Hán học thế giới 世界汉学

Trang 6

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 3 (100) - 2010 HÀ BÁI HÙNG

bắt đầu được xuất bản ở Bắc Kinh, xin mời

quý vị tìm đọc

(3) Những hội thảo Hán học quốc tế có

quy mô nhất: hội thảo do Hiệp hội nghiên

cứu Hán học châu Âu (European Association

of Chinese Studies - EACS) tổ chức tại

nhiều quốc gia khác nhau; Hội nghị quốc

tế về nghiên cứu châu Á và Bắc Phi

(International Congress of Asian and North

African Studies - ICANAS - bao gồm

nghiên cứu Hán học) do nhiều trường đại

học của các nước trên thế giới cùng tổ chức

(hội thảo khoa học quốc tế này lần đầu tiên

được tổ chức là năm 1873 tại Paris, ban đầu

tên là Hội nghị quốc tế của các nhà Đông

phương học - International Congress of

Orientalists) Gần đây Đại học Bắc Kinh,

Đại học Hồng Kông, Đại học Đài Loan

cũng chủ trì các hội thảo Hán học quốc tế

(4) Hán học là tên gọi chung cho học

thuật Trung Quốc Học thuật Trung Quốc

lấy Nho gia là chủ lưu, mà Nho học thì bắt

nguồn từ Khổng Tử Các học giả quốc tế

đều đánh giá cao học thuyết của Khổng Tử,

cho rằng nó thuộc về toàn nhân loại Thật ra,

học thuyết của Khổng Tử (còn gọi là học

thuyết Nho gia) từng có ảnh hưởng rất lớn

đến văn hóa thế giới, mà học thuyết ấy thực

sự có công cứu thoát khỏi những tệ hại của

thời cuộc Xin xem bài viết của tôi: Khổng

in trong Khổng học ngũ luận 孔学五论,

tr.51-63 (Hồng Kông: Khổng giáo học viện

xuất bản, 1995)

Quà tặng của văn hóa: Lời khai mạc Hội

thảo quốc tế Nghiên cứu Hán học 文化的

馈赠: 汉学研究国际会议开幕词, và Phí

Hiếu Thông 费孝通, Lời phát biểu trong lễ

khai mạc Hội thảo quốc tế Nghiên cứu Hán

yếu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu Hán học

文化的馈赠:汉学研究国际会议论文

集, tr.1-3, tr.6-7 (Bắc Kinh đại học xuất bản

xã, 1998)

(6) Tôi từng sử dụng ngôn ngữ học để nghiên cứu “văn khí” của Mạnh Tử, bài viết

nhan đề Từ cú thức bàn về văn khí của

tờ Xã hội khoa học chiến tuyến, số 2 (92)

-1998, tr.71-77

Giới thiệu các website nghiên cứu lịch sử

Hán học nghiên cứu thông tấn, số 63,

tr.265-267 (Hán học nghiên cứu trung tâm xuất bản, Đài Bắc 1997)

trọng yếu và tính khả thi của việc xây dựng môi trường nghiên cứu Hán học trên Internet

在国际网络建立汉学研究环境的重要 性及可行性, in trong Hán học nghiên cứu

thông tấn, số 61, tr.5-8 (Hán học nghiên cứu

trung tâm xuất bản, Đài Bắc 1997)

(9) Như chú thích số 2, xem thêm: Mã Đạo Nguyên 马导源 biên dịch, Nhật Bản

Hán học nghiên cứu luận văn tập 日本汉 学研究论文集, Ban biên soạn tùng thư Trung Hoa của Đài Bắc ấn hành, 1960;

ngoài những nhà Hán học lừng danh người Anh, Pháp, Mĩ, Đức, Nhật, Hàn Quốc đã giới thiệu trên, những nước khác cũng có không ít nhà Hán học kiệt xuất, các số 61,

62, 64, 72, 75, 82 của tờ Hán học nghiên

cứu thông tấn mấy năm gần đây lần lượt

giới thiệu tình hình nghiên cứu Hán học tại Italia, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Nga, Na

Uy, Thổ Nhĩ Kì, Ấn Độ, Cộng hòa Séc, Bồ Đào Nha… rất đáng đọc./

Ngày đăng: 20/12/2021, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w