1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam

79 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, nếu nền kinh tees chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng, thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm c

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài:

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VAR TRONG NGHIÊN CỨU

LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

Mã số: GV2015 - 04 - 02

Chủ nhiệm đề tài: Phan Nhật Quang

Thời gian thực hiện: Năm 2015

Huế 12/2015

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 Tổng quan về lạm phát và các nghiên cứu về lạm phát 4

1.1 Các quan điểm về lạm phát – cách đo lường lạm phát 4

CHƯƠNG 2 Xây dựng mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát tại Việt Nam 24

2.1 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam từ 2000 đến 2014 24 2.1.1 Lạm phát trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 24 2.1.2 Lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 25

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

2.1.3 Lạm phát giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009 26 2.1.4 Lạm phát giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 27 2.2 Nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam từ 2000 đến 2014

32

2.3 Giới thiệu mô hình tự hồi quy vecto VAR 42

2.4 Ứng dụng mô hình VAR cơ bản kiểm định các yếu tố tác động đến

Trang 4

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm

2003 24

Bảng 2.2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004 25

Bảng 2.3: Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006 26

Bảng 2.4: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009 27

Bảng 2.5: Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước 33

Bảng 2.6: Các biến được sử dụng trong nghiên cứu 45

Bảng 2.7: Kết quả kiểm định Unit Root Test-ADF 46

Bảng 2.8: Xác định độ trễ tối ưu 47

Bảng 2.9: Tóm tắt kết quả kiểm định nhân quả Granger 47

Bảng 2.10: Tác động giải thích lạm phát của các biến 48

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Cung ứng tiền tệ và lạm phát 12

Biểu đồ 2.1: Diễn biến lạm phát năm 2010 28

Biểu đồ 2 2: Diễn biến lạm phát năm 2011 28

Biểu đồ 2.3: Diễn biến lạm phát năm 2012 29

Biểu đồ 2.4: Diễn biến lạm phát năm 2013 30

Biểu đồ 2.5: Diễn biến lạm phát năm 2014 31

Biểu đồ 2.6: Chi trả nợ và bội chi ngân sách giai đoạn 2003 - 2013 32

Biểu đồ 2.7: Mức tăng năng suất lao động so với mức tăng lương tối thiếu từ 2000 đến 2015 37

Biểu đồ 2.8: Nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt Nam từ 2000 đến 2015 41

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CPI Chỉ số giá tiêu dùng CSTT Chính sách tiền tệ FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng trung ương NSNN Ngân sách nhà nước TCTK Tổng cục thống kê

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chống lạm phát được thực hiện ở nhiều các quốc gia trên thế giới Càng ngày cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp

Với sự điều hành quản lý của nhà nước đã phần nào ngăn chặn, khắc phục nhưng tác động của lạm phát, tình hình đã được ổn định hơn Tuy nhiên, lạm phát ở nước ta vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp Vì thế, việc tìm hiểu lạm phát trong thời gian qua về nguyên nhân, diễn biến, tác động, giải pháp sẽ giúp ta có một cái nhìn tổng quan hơn, đúc kết được kinh nghiệm để xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời gian sắp tới Trong những năm gần đây, vai trò của các mô hình thực nghiệm đối với việc phân tích chính sách cũng như các biến vĩ mô trong nền kinh tế ngày càng được nâng cao Từ

đó, chúng tôi mong muốn sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên các phân tích định lượng nhằm xác định và tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong 15 năm gần đây, từ năm 2000 đến 2014

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tình hình diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

2

Tiếp theo là ứng dụng phương pháp VAR vào việc xây dựng một mô hình phân tích lạm phát ở Việt Nam, có thể chỉ ra đâu là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát trong những khoản thời gian nhất định

Những phân tích này cũng là cơ sở để người nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị trong việc điều tiết lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình tạm phát tại Việt Nam, các nguyên nhân

và những tác động của nó đến lạm phát tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu các phương pháp định tính, phân tích, tổng hợp và định lượng nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu Riêng phần định lượng, nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm Eview để chạy mô hình VAR về lạm phát ở Việt Nam dựa trên các nghiên cứu tổng hợp được và các phân tích định tính

• Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tham khảo sách báo, tạp chí, các nghiên cứu về lạm phát trong và ngoài nước trong những giai đoạn trước đây

• Phương pháp thu thập số liệu

Từ website chính thức của các tổ chức có uy tín như Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, IMF, ADB

• Phương pháp xử lý số liệu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để tổng hợp các kết quả thu thập, nghiên cứu

và phân tích từ các bước trên Từ đó thảo luận kết quả thu được

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài nghiên cứu có kết cấu như sau:

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan về lạm phát và các nghiên cứu về lạm phát Chương 2: Xây dựng mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát

tại Việt Nam

Chương 3: Một số biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

Phần III: Kết luận

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

4

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 Tổng quan về lạm phát và các nghiên cứu về lạm phát

1.1 Các quan điểm về lạm phát – cách đo lường lạm phát

1.1.1 Các quan điểm về lạm phát

Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ với một nền kinh tế và hầu hết chúng ta đều

có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát tùy theo mức độ khác nhau Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm về lạm phát Song chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm phát Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp cận theo hướng tập trung vào những ảnh hưởng của lạm phát Chính vì điều đó, có thể kể ra một số quan điểm về lạm phát sau đây:

1.1.1.1 Luận thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”

Quan điểm này cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá

cả tăng lên Lạm phát trong mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng cầu lưu thông tiền tệ Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi số lượng tiền trong lưu thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất

1.1.1.2 Luận thuyết “ lạm phát cầu dư thừa tổng quát”

Các tác giả theo luận thuyết tiền tệ ở Mỹ giải thích rằng: “Lạm phát là cầu dư thừa” thường xuyên do phát hành tiền quá mức Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là những vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực tiền tệ Vì lưu thông tiền tệ có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự phát triển tích cực của nền kinh tế

1.1.1.3 Luận thuyết “lạm phát giá cả”

Những người theo luận thuyết này coi sự gia tăng giá cả là lạm phát Bất cứ thời kỳ nào mà giá hàng hóa tăng không kể thời gian dài hay ngắn, có tính chất chu kỳ hay đột xuất đều là thời kỳ của lạm phát

Trên đây mới chỉ là một vài luận điểm về lạm phát Điều đó cũng đủ cho chúng ta nhận định rằng lạm phát là vấn đề hết sức phức tạp và nghiên cứu rất khó khăn Khi nói đến lạm phát, có những người nghĩ ngay đến lạm phát tiền tệ, nhưng cũng có người lại

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

5

không nghỉ vậy, vì nếu đưa tiền vào lưu thông đúng quy luật khiến giá cả hàng hóa không tăng thì đó không là lạm phát Ngược lại, với một lý do đột biến nào đó mà làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, dĩ nhiên không liên quan đến việc phát hành tiền, là biểu hiện của lạm phát… Tóm lại, có hai quan điểm về lạm phát được ủng hộ và sử dụng phổ biến nhất: Thứ nhất, đó là lạm phát là sự dư thừa tiền trong lưu thông dẫn đến sự gia tăng trong giá cả hàng hòa

Thứ hai, đó là lạm phát là sự suy giảm trong sức mua của đồng tiền một cách quá mức Sức mua của đồng tiền được đo lường bởi sự biến đổi nghịch đảo của mức giá chung

Hai quan điểm này tuy khác nhau về nguyên nhân nhưng lại thống nhất với nhau về kết quả lạm phát đều làm cho giá cả hàng hóa tăng lên

1.1.2 Cách đo lường lạm phát

1.1.2.1 Các đo lường lạm phát trên thế giới

Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân làm cơ sở cho các quyết định của mình Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bới sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời

Với các nước khác, ngân hàng trung ương (NHTW) thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như Mỹ

FED và một số NHTW của ÚC, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số hàng hóa có

độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng…) ra khỏi hàng hóa tính CPI lạm phát cơ bản Lập luận này là những thành phần mặc dù có độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh hưởng đến xu hướng chung của lạm phát Ngoài ra, sự biến động của những yếu tố này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của NHTW

1.1.2.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bản lẻ của một lượng lớn các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tập hợp với nhay để đưa ra mức giá cả trung bình gọi là mức giá trung bình của tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

và chỉ số thu nhập quốc dân điều chỉnh

Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm năm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Trên cơ sở xác định chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước theo công thức:

Tỷ lệ lạm phát = (mức giá hiện tại – mức giá năm trước)/ mức giá năm trước X 100%

Nhược điểm của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán Mức độ bao phủ của chỉ số này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh họat là không phản ánh sự biến động của giá cả hàng hóa cơ bản, không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chỉ tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau về mặt thời gian

Căn cứ vào tốc độ lạm phát, được chia thành 3 loại: lạm phát vừa phải, lạm phát phi

mã, siêu lạm phát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

7

1.2.1 Lạm phát vừa phải

Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài phần trăm đến mức lớn hơn không nhiều

so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải lạm phát kiểm soát được Đối với loại này thì tùy theo chiến lược và chiến thuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác như kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khóa nhất định

1.2.2 Lạm phát phi mã

Mức độ tăng của giá cả hàng hóa lúc này cũng như một con ngựa bất kham đang tung vó để chạy Nhìn chung lạm phát phi mã duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho giao dịch hằng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mau bất động sản, chuyển sáng sử dụng vàng và các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch lớn và tích lũy của cải

Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất đình trệ, tài chính của nền kinh tế bị phá hoại

và nếu không có biện pháp thích hợp để ghìm chân chú ngựa thì nền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát

1.2.3 Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã Siêu lạm phát thường xảy ra do các biến cố lơn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội như: chiến tranh, khủng hoảng chính trị…Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt ngân sách khiến chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát Siêu lạm phát có sức phá hủy toàn bộ hoạt động nền kinh tế, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng

Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau thế chiến thứ nhất Giá một tờ báo đã đăng từ 0,3DM vào tháng 1 năm 1992 đã lên đến 70.000.000

DM chỉ trong chưa đầy 2 năm sau đó Giả cả các mặt hàng khác cũng tăng tương tự Từ tháng 1/1992 đến tháng 11/1993, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

8

Như vậy, có thể phân loại lạm phát theo nhiều mức độ khác nhau để có những biện pháp kiểm soát thích hợp Song biện pháp phòng bệnh hay chữa bệnh cũng còn phải căn

cứ vào nguyên nhân gây bệnh

1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, song nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức (lạm phát do cầu kéo) hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên (lạm phát do chi phí đẩy)

1.3.1 Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tằn giá cả Khi tổng cầu tăng, tức có nhiều người mua và sẵn sàng mua hàng hóa, trong khi đó lượng cung không tăng hoặc tăng ít hơn dẫn đến trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa Theo quy luật cung cầu thì giá cả thị trường sẽ tăng lên, tức là xuất hiện lạm phát

Nếu gọi tổng là AD thì AD = C+I+G+X-M

Trong đó:

C: chi tiêu hộ gia đình

G: chi tiêu của chính phủ

I: đầu tư nền kinh tế

X: nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu

M: lượng hàng hóa nhập khẩu

Tổng cầu tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau:

Chi tiêu của chính phủ cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu tư của Chính phủ làm tăng tổng cầu

Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTW, khối lượng tiền tệ lưu thông tăng lên Vay nước ngoài cũng làm khối lượng tiền tăng Vay trong nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành và làm cho khối lượng tiền tệ tăng Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng tiền tăng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

9

Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng do mức thu nhập tăng hoặc được Chính phủ giảm thuế, hoặc chế độ an sinh xã hội hay bảo hiểm tốt nên quyết đinh cắt giảm tiết kiệm

để chi tiêu, hoặc Chính phủ tăng trợ cấp

Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiên tệ gia tăng nhanh hơn

Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế trong nước và cà ngoài nước hay do lãi suất giảm

Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo nên điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân

dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn

Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như: tỷ giá hối đoái, mức thu nhập của cư dân nước ngoài…làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia tăng

Trong các phân tích trên đây, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá làm xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn Song, nếu nền kinh tees chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng, thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho nền kinh tế tăng trưởng, khi đó tổng cung sẽ tăng, sản lượng của nền kinh tế sẽ tăng lên theo

Ngược lại với lạm phát do nguyên nhân từ phía cầu là lạm phát do nguyên ngân

từ phía cung gọi là lạm phát do chi phí đẩy

1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy

Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên (chi phí sản xuất tăng vượt mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra lạm phát chi phí đẩy Chi phí sản xuất tăng lên sẽ tạo áp lực đẩy giá bán sản phẩm tăng lên hay có thể làm giảm mức cung hàng hóa của xã hội, như vậy trong trường hợp này là do các yếu tốt sản xuất và tiêu dùng hàng hóa gây ra

Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau đây:

Mức tăng tiền lương vượt mức tăng năng suất lao động Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề tiền lương Trong ngắn hạn, chi phí công nhân ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động nhưng trong dài hạn do áp lực

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

10

của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho nhân viên tạo sức ép nâng tiền lương, khi lương tăng, giá cả hàng hóa sẽ tăng Quy trình này tác động bởi yếu tố hành chính, có ý nghĩa tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận Khi giá cả hàng hóa nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương Khi lương tăng, giá cả tăng, đến lược mình, các doanh nghiệp lại tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận

Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất) Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị mất giá

so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch

Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lợi của các nhà đầu tư do vậy đẩy giá cả tăng lên Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hóa sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang tính bất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền Một số nước gọi là lạm phát hành chính

Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy đều cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên Trong khi phân tích về các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, các nhà kinh tế thừa nhận không phải lạm phát tích cực hay tiêu cực cho nền kinh tế, song những hậu quả mà nó để lại không nhiều thì ít cũng tác động đến nền kinh tế

1.3.3 Lạm phát tiền tệ

Trường phái tiền tệ có cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệ là luận điểm cho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn

và đề ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ Họ đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung tiền và lạm phát: “Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ… và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng”

1.3.3.1 Lạm phát theo lý thuyết số lƣợng tiền tệ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

MV = PY

Ta viết phương trình trên dưới dạng phần trăm thay đổi như sau:

lnM + lnV = lnP + lnY

%thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi P + % thay đổi Y

%thay đổi P = %thay đổi M + % thay đổi V - % thay đổi Y

Các nhà kinh tế cổ điển và tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số không thay đổi trong ngắn hạn được bởi điều này phụ thuộc vào hệ thống tài chính nên yếu tố này không thể thay đổi ngay được Fisher đã đưa thêm giả định là Y là hằng số trong dài hạn, nghĩa là trong dài hạn, sản lượng Y sẽ bằng với mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế Khi đó, phương trình trở thành

% thay đổi P = % thay đổi M

Vì vậy lý thuyết số lượng ngụ ý rằng giá cả tỷ lệ thuận với mức cung tiền

Trang 17

12

Biểu đồ 1.1: Cung ứng tiền tệ và lạm phát

Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1, với sản lượng đạt ở mức sản lượng tự nhiên Yn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, mức giá cả P1 đường giao nhau với đường tổng cung AD1 Khi cung tiền tệ tăng lên thì đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2 Trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điển 1’ và sản phẩm tăng lên trên mức tỷ lệ tự nhiên, tức là đạt tới Y1 (Y1>Yn) Điều đó đã làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp

tự nhiên, kích thích tăng trưởng kinh tế Nhưng trong dài hạn, khi sản lượng lớn hơn sản lượng tiềm năng (Yn) thì do các nguồn lực của sản xuất đã được sử dụng vượt mức nền kinh tế thực có, tiền lương tăng lên và giảm tổng cung đường tổng cung dịch chuyển vào đến AS2 Tại đây nền kinh tế quay trở lại mức sản lượng tự nhiên Ở điểm cân bằng mới (điểm 2), mức giá đã tăng từ P1 đến P2

Cung tiền tệ tiếp tục tăng, đường tổng cầu lại dịch chuyển ra đến AD3, kéo đường tổng cung dịch chuyển đến AS3, nền kinh tế đạt tới mức cân bằng mới tại điểm 3 Tại đây mức giá giả đã tăng lên đến P3 Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn, lạm phát tăng cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

13

Như vậy, ta có thể kết luận rằng, chính sách tiền tệ chỉ kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn, còn trong dài hạn thì gây ra lạm phát Hay nói cách khác, lạm phát chỉ xảy ra khi có sự tăng giá liên tục trong thời gian dài, mà sự tăng giá này bị gây ra bởi sự tăng cung tiền liên tục Trong cách phân tích này của phái tiền tề, thì cung tiền chính là nguyên nhân duy nhất làm di chuyển đường tổng cầu, do vậy không còn cái gì nữa có thể dịch chuyển nền kinh tế từ điểm 1 sang 2 và 3 và xa hơn Vậy thực chất, còn nhân tố nào khác ngoài cung tiền có thể gây ra lạm phát hay không? Theo phân tích của phái Keynes, ngoài cung tiền tệ còn có các nhân tố khác ảnh hưởng đến tổng cầu và tổng cung (như các chính sách tài khóa, các cú sốc cung) sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu và làm tăng mức giá Tuy nhiên, họ cho rằng hiện tượng tăng giá trong trường hợp này chỉ là hiện tượng nhất thời mà thôi Rõ ràng, quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ đều thống nhất với nhau,

họ tin rằng lạm phát cao chỉ xảy ra ở một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao

1.4 Tác động của lạm phát

Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau đáng kể phụ thuộc vào cơ cấu thể chế (cả Nhà nước và tư nhân) của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát

1.4.1 Tác động tích cực

Lạm phát được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích huy động vốn và tăng tính linh hoạt trong giá cả Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp bôi trơn thị trường hàng hóa, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả Nếu giá cả (kể cả tiền lương và giá các nhân tố khác) giảm xuống với tính linh hoạt thấp và nếu các ngành sản xuất khác nhau có mức cầu và năng suất tăng không đồng đều thì giá cả tăng nhẹ có thể tạo ra một mức độ linh hoạt giá cả tương đối lớn cần thiết cho việc phân

bổ hiệu quả các nguồn lực Một tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo ra một trong những động lực mạnh nhất để giúp đạt được mức tăng trưởng ổn định

1.4.2 Tác động tiêu cực

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

14

Ngược lại khi lạm phát xảy ra ngoài dự tính, nó tạo ra sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các mối quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội Có thể kể ra một số hậu quả của lạm phát sau đây:

1.4.2.1 Lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bị sụt giảm, có thể kéo theo các cuộc đình công đòi tăng lương với quy mô lớn, dài ngày và làm đình trê hoạt động sản xuất, gây ngưng trệ sự tăng trưởng của nền kinh tế

Lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của nền kinh tế

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật liệu, hàng hóa, nguyên liệu đều gia tăng làm cho khi vực sản xuất kinh doanh thu hẹp dần, trong khi đó, buôn bán, thương mại, dịch vụ phát triển dẫn đến khủng hoảng kinh tế và trật tự kinh tế

bị thay đổi

Trong lĩnh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn cho việc xác định mức lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến các nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực lưu thông và phân phối, giá cả hàng hóa tăng gây nên tình trạng đầu

cơ tích trữ hàng hóa, dẫn đến làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu làm cho lĩnh vực lưu thông bị rối loạn

1.4.2.2 Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, giá cả hàng hóa tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt những người làm công ăn lương) ngày càng khó khăn

1.4.2.3 Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên một cách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, do nguồn tiền gửi

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

15

trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và không thể kiểm soát

1.4.2.4 Lạm phát làm xấu đi tình trạng cán cân thanh toán quốc tế

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài (có quan hệ mậu dịch) thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên đắc đỏ hơn so với giá cả hàng hóa nước ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng của tài khoản vãng lai Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể thạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ tạo nên áp lực tăng tỷ giá, tỷ giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên

1.4.2.5 Lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp

Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm, do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp (vì lý do khu vực sản xuất sẽ bị thu hẹp)

Như vậy, có thể thấy ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải còn có tác động tích cực đến nền kinh tế còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Vì vậy, việc tìm giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát là một vấn đề cần thiết

1.5 Các nhân tố đƣợc xem xét khi nhắc đến lạm phát

Qua những phân tích tổng quan trên đây, chúng ta cũng có thể nhận thấy vấn đề lạm phát không còn là xa lạ với Việt Nam Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng, lạm phát vẫn mãi là vấn đề nóng và chiếm sự quan tâm đặc biệt của các nhà làm chính sách, các nhà kinh tế học và cả chính người lao động Và để giải quyết vấn đề không lạ nhưng khó khăn này không phải là công việc đơn giản, bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào việc phân tích những nhân tố tác động mạnh nhất đến lạm phát trong giai đoạn hiện nay

1.5.1 Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một trong 2 công cụ (cùng với chính sách tài khóa) mà chính phủ sử dụng mạnh mẽ và nhiều nhất khi có lạm phát Việc thay đổi lãi suất thông qua các quyết định của NHTW được xem là những con bài chủ chốt để giải quyết vấn đề lạm phát Tuy nhiên không phải lúc nào cũng đạt được mong muốn Một chính sách tiền tệ đưa

ra sẽ kéo theo nhiều nhân tố làm tác động mạnh đến nền kinh tế Một số nhân tố khi

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

1.5.3 Sự đánh đổi mục tiêu tăng trường và lạm phát

Một trong những nhân tố mới xuất hiện giai đoạn gần đây đó là sự đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng với lạm phát Liệu rằng chính phủ của một quốc gia có lựa chọn liệu phát kiểm soát lạm phát ở mức ổn định hay sẽ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế mà bỏ qua việc kiềm chế lạm phát… Đó là một bài toán khó và sẽ được quan tâm khi chúng ta nghiên cứu và kiểm định ở Việt Nam

1.6 Một số nghiên cứu về lạm phát

1.6.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Mohammad Hasan (1999) nghiên cứu lạm phát Trung Quốc trong ngắn hạn và dài

hạn bằng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Nghiên cứu này dựa trên mô hình tiền tệ truyền thống nhưng thêm một số biến khác để phù hợp với đặc trưng nền kinh tế

Trong đó: P: chỉ số giá chung, M: Cung tiền, g: khoảng chênh lệch sản lượng so với

sản lượng tiềm năng, đại diện dư cầu, W: lương cơ bản, AP: là chỉ số sản lượng nông nghiệp, IP:là chỉ số sản xuất nông nghiệp, δ(L):là toán tử trễ, ε: biến ngẫu nhiên

Nghiên cứu của Mohammad sử dụng phương pháp Johansen –Juselius phân tích quan hệ dài hạn của các biến trong mô hình (3.9) và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để xác định sự phụ thuộc giữa ngắn hạn và dài hạn và quan hệ nhân quả giữa giá và tiền

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

17

Ý nghĩa của mô hình: Mohammad đã sử dụng công cụ nghiên cứu hiện đại là kiểm định đồng liên kết Johansen – Juselius và kiểm định sai số ECM để nghiên cứu biến động của giữa tiền tệ và giá cả, ngoài ra còn kèm thêm các yếu tố cơ cấu: năng suất công nghiệp và năng suất nông nghiệp để xét lạm phát

Gerlach và Peng (2006) đã dùng mô hình đường Phillips để phân tích lạm phát ở

Trung Quốc

Trong đó: πt: tỷ lệ lạm phát, gt là phần thiếu hụt sản lượng và các cú sốc từ phía

cung được biểu diễn bởi phần dư εt

Sau khi ước lượng và kiểm định nhóm nghiên cứu đã đưa ra mô hình cuối cùng như sau:

Trong đó biến Z được giả thiết là biến tự hồi quy Biến Z đại diện cho các biến không giải thích được như: sự thay đổi giá cả, mở rộng thương mại,…

Ý nghĩa của mô hình: Gerlach và Peng đã đưa ra cách hiệu chỉnh nhằm khắc phục

các khuyết tật của mô hình bằng biến công cụ mới Z với giả định biến này là biến tự hồi qui theo luật tự hồi qui bậc hai Từ đó có cách đánh giá xác đáng cho lạm phát Trung Quốc

Ramakrishnan và Vamvakidis (2002): đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm của các

yếu tố trong nước và nước ngoài lên lạm phát Indonesia Mô hình đề cập lạm phát giá tiêu dùng có thể do lạm phát tiền tệ, lạm phát lương, lạm phát nhập khẩu Lạm phát tiền tệ xuất hiện khi tỷ lệ trăng trưởng tiền vượt quá khả năng của nền kinh tế nên kiểm soát tăng trưởng tiền tệ có thể kiểm soát được lạm phát Lạm phát trong nước được giải thích bởi các biến như: lương trung bình, tỷ lệ thất nghiệp hay khoảng sản lượng năng suất lao động Giá hàng hóa nhập khẩu tác động lên lạm phát trong nước hoặc trực tiếp bởi mặt hàng nhập khẩu trong giỏ hàng hóa hoặc gián tiếp bằng ảnh hưởng của chi phí sản xuất do nguyên liệu thô nhập khẩu Giá nhập khẩu có thể tăng do 2 lý do: lạm phát nước ngoài tăng nên giá nhập khẩu tăng hoặc sự sụt giá của đồng tiền trong nước dẫn đến nhập khẩu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

18

gia tăng Vì vậy, tác giả cho rằng trong ngắn hạn các yếu tố chính xác định lạm phát là cung tiền, lương tối thiểu, năng suất lao động, khoảng chênh lệch sản lượng so với sản lượng tiềm năng, lãi suất, tỷ giá, lạm phát nước ngoài Để biết vị trí nền kinh tế hiện tại có quan hệ với cấu trúc cân bằng trong dài hạn như thế nào, các tác giả đã ước lượng độ lệch cung tiền, lao động, và các biến ngoại sinh so với cân bằng dài hạn đem các biến đó vào

mô hình như là yếu tố xác định lạm phát Do đó, tác giả đã ước lượng mô hình như sau:

Ý nghĩa của mô hình: Nhóm tác giả đã đưa phần chênh lệch của các biến cung tiền,

lao động so với mức cân bằng dài hạn vào mô hình lạm phát để xem xét chính xác hơn mức lạm phát của Indonesia

Luca Gambetti, Evi Pappa và Fabio Canova (2008) đã điều tra sự đóng góp của

chính sách tiền tệ đến những thay đổi trong tăng trưởng sản lượng và động lực lạm phát ở

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

A0,t có thời gian chặn khác nhau, Ai,t là ma trận hệ số của các thời gian khác nhau i

= 1, , p và εt là một phép khử nhiễu trắng Gauss (a Gaussian white noise) với số không

có nghĩa và các ma trận hiệp phương sai thời gian khác nhau Σt

Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS, 2002) sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy

(VAR) nhằm kiểm định tác động của chính sách tiền tệ vào hoạt động kinh tế và giá cả

Mô hình VAR (Vector Autoregressions) được sử dụng để phân tích những tác động của chính sách tiền tệ trong bảy nền kinh tế Đông Á Cụ thể là Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Như được mô tả trong Bernanke và Mihov (1998), giả sử rằng cơ cấu kinh tế “đúng” là mô hình động không bị giới hạn truyến tính thì ta có hệ phương trình sau:

(1’)

(2’) Các Bi, Ci, Ay, Di, Gi và Ap là ma trận hệ số vuông Phương trình (1) và (2) phân vùng các biến được xem xét thành hai nhóm: khối phi chính sách (Y) và khối chính sách (P) Các Yt vector bao hàm các biến phi chính sách kinh tế vĩ mô như sản lượng và giá

cả, các yếu tố này có phản ứng trước những cú sốc chính sách tiền tệ sẽ được kiểm tra Các Pt vector bao gồm các biến chính sách hay biến tiền tệ hoặc có tiềm năng thông dụng như là các chỉ báo về chính sách tiền tệ, ví dụ như lãi suất ngắn hạn Lưu ý rằng các NHTW có thể không hoàn toàn kiểm soát các biến chính sách bởi vì NHTW cũng bị ảnh hưởng bởi những cú sốc khác Tuy nhiên, NHTW có một tác động đáng kể đến các biến này trong giai đoạn hiện nay Trong hệ thống này, mỗi biến được phép phụ thuộc

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

1.6.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát được nghiên cứu dựa trên các mô hình định lượng nhằm tìm ra nguyên nhân lạm phát, cũng như các yếu tố ảnh hưởng Đây sẽ là cơ sở

để bài nghiên cứu xây dựng một mô hình định lượng ở phần sau để nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2005-2014 Các nghiên cứu này thường xoay quanh việc sử dụng các mô hình hồi quy tuyến tính, ECM, VECM, ARIMA… đặc biệt là mô hình Vecto Tự hồi quy (VAR)

Pgs.Ts Nguyễn Thị Liên Hoa & Ths Trần Đặng Dũng trong “Nghiên cứu lạm phát tại Việt Nam theo phương pháp SVAR” [1] đã tiến hành xem xét vấn đề lạm phát ở

VN trong khuôn khổ của phương pháp SVAR và nhận thấy lạm phát ở VN có nguồn gốc chủ yếu từ khu vực trong nước, bị tác động bởi yếu tố chi phí đẩy nhiều hơn là yếu tố cầu kéo Chính sách tiền tệ trong nước có ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát, đặc biệt là cung tiền M2

Tuy nhiên, tác động của cung tiền đến lạm phát trong nước có một độ trễ nhất định (khoảng 6 tháng) Tỷ giá có tác động đến lạm phát trong nước nhưng mức tác động không nhiều và chủ yếu thể hiện vai trò kênh truyền dẫn Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn cho thấy vai trò của yếu tố kỳ vọng lên việc tăng giá trong nước, sự kỳ vọng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tựu trung lại chủ yếu là do sự ảnh hưởng của lạm phát cao trong quá khứ và vấn đề điều hành của người làm chính sách

Nghiên cứu nhân tố tác động đến tỷ lệ lạm phát trong thời kỳ 1996 – 2005, Camen (2006) [11] – “Monetary policy in Vietnam: the case of a transition country” sử dụng mô

hình VAR cơ bản với hệ thống gồm tám biến kinh tế: tỷ giá VND/USD, CPI, cung tiền

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

21

M2, tín dụng, lãi suất cho vay, giá xăng, giá gạo, cung tiền M3 Mỹ Kết quả thực nghiệm cho thấy tín dụng là nhân tố chủ chốt tác động đến lạm phát trong 24 tháng Hệ thống bao gồm cả biến tín dụng và lãi suất cho vay cho thấy biến tín dụng giải thích đến 18% tỷ lệ lạm phát, trong khi, lãi suất cho vay lại không có ý nghĩa thống kê Các hệ thống chỉ bao gồm một trong hai biến lại có ý nghĩa nhưng không cao Điều này cho thấy tầm quan trọng của kênh dẫn truyền tiền tệ Giá xăng, gạo cùng với sự thay đổi trong tỷ giá cũng là nhân tố quan trọng đối với sự biến động lạm phát Bên cạnh đó, cung tiền M3 Mỹ cũng cho thấy ý nghĩa thống kê cao

Nghiên cứu chủ yếu xem xét các nhân tố tiền tệ và nhân tố tác động về phía cầu Áp lực cung chỉ được thể hiện qua giá xăng và giá gạo, trong khi, các nhân tố như kỳ vọng, tiền lương chưa được nhắc đến Hơn nữa, thời kỳ nghiên cứu không bao gồm giai đoạn lạm phát Việt Nam có nhiều biến động như 2008 – 2011

Bằng phương pháp VECM, Nguyễn Thị Thùy Vinh và Fujita (2007) – “The Impact

of Real Exchange Rate on Output and Inflation in Vietnam: A VAR Approach” [12]

nghiên cứu tác động của tỷ giá lên sản lượng và lạm phát trong giai đoạn 1992 – 2005 Ngoài các biến chính là sản lượng công nghiệp, CPI, tỷ giá thực VND/USD, lãi suất danh nghĩa (được xem như biến ngoại sinh) Bên cạnh đó, biến cung tiền M1 và thâm hụt thương mại được đưa vào để tạo ra kênh truyền dẫn từ tỷ giá đến sản lượng và lạm phát Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy cho thấy, cú sốc mất giá đồng tiền dẫn đến sự gia tăng trong mức giá cả của nền kinh tế Tuy nhiên, việc phân rã phương sai lại cho thấy, đây không phải là nguyên nhân chính Lạm phát biến động chủ yếu do cú sốc từ chính bản thân nó, tỷ giá chỉ là nhân tố làm gia tăng biến động Bên cạnh đó, tác động của tỷ giá đến lạm phát càng được khẳng định khi biến cán cân thương mại và cung tiền được đưa vào

mô hình Nghiên cứu đưa ra bằng chứng ủng hộ chính sách tỷ giá mở cửa

Với mục tiêu tương tự, Võ Văn Minh (2009) – “Exchange Rate Pass-Through and Its Implications for Inflation in Vietnam” [13] đã nghiên cứu kênh dẫn truyền tỷ giá và

tác động của nó đến tỷ lệ lạm phát bằng phương pháp VAR đơn giản Ngoài các biến giá dầu, tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng, M2, lỗ hổng sản lượng, CPI nghiên cứu đã xem xét

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

22

được tác động của giá nhập khẩu danh nghĩa đến tỷ lệ lạm phát Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khi kênh dẫn truyền tỷ giá có tác động đến lạm phát một cách vừa phải Cú sốc giá dầu và chính sách tiền tệ cũng tác động có ý nghĩa lên chỉ số giá tiêu dùng Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy áp lực về phía cầu của lạm phát Việt Nam không cao Phân tích phản ứng đẩy và phân rã phương sai cho thấy tác động của lỗ hổng sản lượng lên lạm phát là không lớn

Tương tự Nguyễn Thị Thùy Vinh và Seiichi Fujata (2007), Võ Văn Minh (2009)

tuy đưa ra được các bằng chứng thực nghiệm về các biến tác động đến tỷ lệ lạm phát Việt Nam nhưng mục tiêu chính của bài nghiên cứu thiêng về nhân tố tỷ giá Do đó, nhiều nhân

tố tác động đến lạm phát không được xem xét một cách đầy đủ Hơn nữa, giai đoạn nghiên cứu quá ngắn không mang tính đại diện cũng như ý nghĩa thống kê cao

Với phương pháp và mục tiêu tương tự, Phạm Thế Anh (2009) “Ứng dụng mô hình SVAR [2] trong việc xác định hiệu ứng của chính sách tiền tệ và dự báo lạm phát ở Việt

Nam” nghiên cứu trên hệ thống gồm sáu biến: CPI, IND, M2, tỷ giá danh nghĩa VND/USD, lãi suất tiền gửi và giá dầu thô trong giai đoạn từ 1994 – 2008 Kết quả cho thấy, chỉ có biến giá dầu không có tác động có ý nghĩa do chính sách kiểm soát giá của chính phủ Vai trò của lạm phát quá khứ được giải thích như tầm quan trọng của nhân tố

kỳ vọng thích nghi và tính dai dẳng của lạm phát

Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) – “Nguồn gốc lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010: phát hiện mới từ những bằng chứng mới” [3] đã nghiên

cứu nhân tố tác động đến tỉ lệ lạm phát Việt Nam giai đoạn từ 2000 – 2010 bằng mô hình VECM

Việc đưa biến vào mô hình được giải thích dựa vào ba quan điểm chính: tiền tệ, cấu trúc và cân bằng sức mua Các biến trong mô hình được chia thành hai thành phần: (i) nhóm số liệu truyền thống gồm CPI, sản lượng công nghiệp, cung tiền M2, lãi suất, tỷ giá, giá dầu quốc tế; (ii) nhóm mở rộng bao gồm tín dụng, PPI, thâm hụt ngân sách, giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán, chỉ số giá nhập khẩu và giá gạo quốc tế

Kết quả thực nghiệm cho thấy hầu hết các biến đều tác động có ý nghĩa đến lạm phát, trừ thâm hụt ngân sách Cụ thể, lạm phát chịu sự chi phối lớn từ các trễ của nó Hơn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

23

nữa, các biến vĩ mô tác động lên chỉ số giá tiêu dùng trước chỉ số giá sản xuất vài tháng

Do đó, có thể khẳng định vai trò to lớn của kỳ vọng lạm phát đối với biến động lạm phát ở Việt Nam

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khuyết điểm của nghiên cứu này do thiếu số liệu các biến liên quan đến giá cả có kiểm soát, tiền lương, chỉ số giá nhập khẩu Bên cạnh đó, tuy có nghiên cứu được vai trò của kỳ vọng lạm phát nhưng chưa xem xét cái cách mà loại kỳ vọng này được thiết lập khi lấy số liệu quá khứ của lạm phát thay cho kỳ vọng

Tóm tắt chương 1

Chương 1 đã tổng quan những lý luận cơ bản về lạm phát Những cách nhìn cũng như các cách tiếp cận khác nhau về lạm phát, nguyên nhân chung gây ra lạm phát, phân loại lạm phát Điều khiến cho lạm phát trở thành vấn đề bức thiết đó là khi lạm phát gia tăng quá mức nó gây nên những tác động tiêu cực đến kinh tế quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân Với những gì đề cập ở chương 1 sẽ giúp chúng ta có được cách nhìn toàn diện và tổng quan để bước sang chương 2, chúng ta sẽ đến với thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014 và các yếu tố đã và đang tác động đến lạm phát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

CHƯƠNG 2 Xây dựng mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát

tại Việt Nam

2.1 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam từ 2000 đến 2014

2.1.1 Lạm phát trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003

Số liệu thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn từ năm 2000 đến năm

2003 của nước ta ở mức thấp và ổn định dưới 5%

Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003

Nguồn: Tổng cục thống kê

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

25

Chỉ số giá tiêu dùng năm 2000 là -0.6, chỉ số giá tiêu dùng một số tháng trong giai đoạn này cũng ở mức âm Nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát, thuật ngữ “kích cầu” lần đầu tiên xuất hiện trong các chính sách điều hành kinh tế của chính phủ, một kế hoạch kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện từ năm 2000 Tổng số vốn đầu tư phát triển năm 2002 tăng trên 20 nghìn tỷ

so với năm 2001, vốn đầu tư trong dân tăng 20,7% chiếm 25,3% trong tổng số vốn đầu tư phát triển

Nhờ những biện pháp kích cầu đó, một chuyển biến quan trọng được ghi nhận trong năm 2002 là nền kinh tế đã chuyển từ thiểu phát liên tục và kéo dài sang lạm phát nhẹ, CPI tăng 4%, vừa đủ kích thích đầu tư trong nước (tăng trưởng kinh tế đạt 7.04% hoàn thành mục tiêu 7-7.3% mà Quốc Hội đã đề ra cho năm 2002) Cùng với việc kiểm soát được lạm phát, vấn đề giải quyết việc làm cũng đạt thành tích đáng kể

Bước sang năm 2003, lạm phát được tiếp tuc giữ ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3%, tăng trưởng GDP năm 2003 vẫn tiếp tuc đà của năm 2001, đạt 7,24% Cùng với

đó, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở thành thị giảm từ 6.01% năm 2002 xuống còn 5.8% năm 2003 Tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn tăng 2.29%, đạt 77.7% (nguồn: tổng cục thống kê)

2.1.2 Lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006

Sau một thời gian hạ nhiệt thì đến năm 2004 lạm phát lại tăng trở lại Chỉ số CPI của năm 2004 ở mức 9,5% Vượt xa so với kế hoạch quốc hội đề ra là 4 – 5 % Nhưng các chỉ tiêu kinh tế xã hội còn lại đều hoàn thành so với kế hoạch đề ra

Bảng 2.2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004

Nguồn: Tổng cục thống kê

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

26

Trước tình hình lạm phát tăng cao, Quốc hội đã cố gắng để tỷ lệ lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (6.5 % so với 8-8.5%), tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 14 - 16%, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống còn 5.5% cuối cùng thì tỷ lệ lạm phát đã được giữ ở mức 8.3%, bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế

Bước sang năm 2006, chính phủ lại tiếp tục thành công trong việc khống chế lạm phát, tỷ lệ lạm phát là 6.6% thấp hơn 1.6% so với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Điểm lưu ý trong giai đoạn này là lạm phát không theo quy luật vốn có, đó là tăng vào quý cuối năm và quý I năm sau, tăng ít hoặc giảm vào quý II và quý III mà tăng liên tục qua các quý

Bảng 2.3: Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006

Nguồn: Tổng cục thống kê

2.1.3 Lạm phát giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009

Lạm phát Việt Nam tăng mạnh trong giai đoạn này Giá tiêu dùng tháng 12 năm

2007 tăng tới 2,91%, không những cao hơn so với các tháng trong năm mà còn tăng cao nhất so với tốc độ tăng trong tháng 12 của hơn mười năm qua Lạm phát năm 2007 tăng lên 8.3% nhưng vẫn chưa cao như năm 2008 Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2008 chỉ số CPI của cả nước đã tăng 18.44%, cao nhất so với mức tăng cả năm trong 15 năm qua kể từ năm 1993 (diễn biến lạm phát 6 tháng đầu năm 2008 lần lượt là: T1: 2,38%; T2: 3,56%; T3: 2,99%; T4: 2,2%; T5: 3,91%; T6: 2,14%) mặc dù đến hết 6 tháng đầu năm, khi GDP tăng khoảng 6,8% thì tốc độ tăng M2 đã được khống chế chỉ còn ở mức tăng khoảng 6% so với đầu năm và tốc độ tăng tín dụng cũng chỉ ở mức 12%, nguy cơ thiếu thanh khoản của nhiều NHTM đã được giải toả từ giữa tháng 7 và tình hình diễn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

27

biến thị trường nói chung cũng như vấn đề chống lạm phát nói riêng, trong 6 tháng cuối năm 2008 có rất nhiều dấu hiệu khả quan nhưng lạm phát cả năm 2008 vẫn ở mức cao 22.96% Đến cuối năm 2009 lạm phát có xu hướng giảm, lạm phát năm 2009 ở mức 6.88%

Bảng 2.4: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009

Tháng trước = 100% 2007 2008 2009

Tháng 1 101.1 102.4 100.3 Tháng 2 102.2 103.6 101.2

Tháng 4 100.5 102.2 100.4 Tháng 5 100.8 103.9 100.4 Tháng 6 100.9 102.1 100.6 Tháng 7 100.9 101.1 100.5 Tháng 8 100.6 101.6 100.2 Tháng 9 100.5 100.2 100.6 Tháng 10 100.7 99.8 100.4 Tháng 11 101.2 99.2 100.6 Tháng 12 102.9 99.3 101.4 Bình quân tháng 101.0 101.5 100.5

Nguồn: tổng cục thống kê

2.1.4 Lạm phát giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014

Tình hình lạm phát năm 2010: diễn biến phức tạp

Tổng cục Thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2010 tăng 1,98%, mức cao nhất kể từ đầu năm 2010 Như vậy, lạm phát cả năm 2010 sẽ là 11,75%, ứng với CPI tháng12/2010 so với tháng 12/2009, vượt qua mức chỉ tiêu kế hoạch về lạm phát đặt

ra cho năm nay Lạm phát bình quân năm là 9,19%.Vẫn đúng với quy luật tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, hai điểm cơ bản khác biệt của diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm nay là mức tăng có độ vênh lớn, tháng cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn 1,5% Trong khi đó xu hướng diễn biến chỉ số giá khá liền mạch với

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

28

các bước chuyển chỉ trong khoảng thời gian ngắn Ba tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng ngay sau đó có liền 5 tháng tăng thấp về gần mức 0%, để rồi lạivượt lên trên 1% trong 4 tháng còn lại của năm Trong 4 tháng chỉ số giá tăng vượt 1% thì 2 tháng cuối năm CPI đạt mức tăng gần 2%, tạo thành xu hướng tăng mạnh mẽ, đẩy lo ngại lạm phát những tháng đầu năm 2011 dấy lên

Biểu đồ 2.1: Diễn biến lạm phát năm 2010

Trang 34

29

Diễn biến lạm phát năm 2011 khá phức tạp, thể hiện ở việc tăng cao những tháng đầu năm và giảm dần từ quý II Trong 4 tháng cuối năm, lạm phát có dấu hiệu giảm tốc, chỉ tăng dưới 1% mỗi tháng

Lạm phát liên tiếp bị đẩy lên, CPI theo tháng tăng 2,17% vào tháng 3 Chưa kịp hết ngỡ ngàng về sự gia tốc sau Tết Nguyên đán, CPI lập tức đạt đỉnh vào tháng 4 ở mức 3,32%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây Đến lúc này, CPI so với cuối năm trước đã tăng 9,64%, vượt xa mục tiêu 7%, hiện thực hóa nỗi lo lạm phát

Tỷ lệ lạm phát cả năm 2011 lên tới 18,58%, với chỉ số giá cả các mặt hàng lương thực thực phẩm, nhà ở, giáo dục và giao thông tăng mạnh nhất Trong năm này, chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp siết chặt kiểm soát tiền tệ và giảm chi tiêu công nhằm kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, lạm phát ở Việt Nam vẫn ở mức cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

30

Khác thông lệ, trong năm 2012, CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng 1% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng lại tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục Trong năm, có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng dưới 0,5% Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm nay là CPI không giảm vào sau Tết Âm lịch mà giảm vào 2 tháng giữa năm là tháng 6 và tháng 7 Hai tháng nay, chỉ số giá thậm chí có giá trị âm

Tình hình lạm phát năm 2013

Lạm phát - trong năm 2013 dừng ở con số 6,04%, thấp nhất trong 10 năm trở lại đây Trong khi đó, nếu tính bình quân, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6,6% so với bình quân năm 2012 Lạm phát năm 2013 như vậy đã ở mức khá thấp, một phần do tổng cầu nền kinh tế tiếp tục suy giảm Lạm phát thấp được cho là sẽ khiến tăng trưởng kinh tế khó ở mức cao

Biểu đồ 2.4: Diễn biến lạm phát năm 2013

Nguồn: Tổng cục thống kê

Tình hình lạm phát năm 2014

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng cuối năm 2014 chỉ tăng 1,84% so với tháng 12 năm

2013 CPI bình quân năm 2014 so với năm 2013 tăng 4,09%

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

31

Cả hai chỉ số này đều ở mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua với tác động trực tiếp

và gián tiếp từ các đợt giảm giá xăng dầu trên thị trường

Các đợt giảm giá xăng dầu trong năm qua đã kéo theo chỉ số giá nhóm hàng “nhà ở

và vật liệu xây dựng” và “giao thông” giảm mạnh Bên cạnh đó, nguồn cung về lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào nên chỉ số giá nhóm “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” chỉ tăng nhẹ Mặt khác, mức độ điều chỉnh giá của nhóm hàng do Nhà nước quản lý như dịch

vụ giáo dục, dịch vụ y tế thấp hơn so với năm trước

Biểu đồ 2.5: Diễn biến lạm phát năm 2014

Nguồn: Tổng cục thống kê

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

32

2.2 Nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam từ 2000 đến 2014

2.2.1 Nhóm nguyên nhân trong nước

2.2.1.1 Đầu tư công kém hiệu quả

Trong thời gian vừa qua để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chính phủ đã có kế hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm Nguồn thu ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Vay nợ là một trong những giải pháp mà chính phủ lựa chọn để bù đắp thâm hụt ngân sách Phần lớn nguồn vay nợ của Chính phủ là vay nợ nước ngoài trong dài hạn, việc này sẽ gây sức ép nghiêm trong lên tỷ giá và đến lượt tỷ giá gây sức ép và làm tăng lạm phát trong nước Bên cạnh đó chính sách tài khóa nới lỏng đã kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, nền kinh tế lấy dần lại được tốc độ tăng trưởng cao nhưng kéo theo đó CPI cũng gia tăng

Biểu đồ 2.6: Chi trả nợ và bội chi ngân sách giai đoạn 2003 - 2013

Nguồn: Bộ tài chính

Vốn đầu tư chảy vào nền kinh tế chủ yếu thông qua kênh dẫn là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và dự án đầu tư do nhà nước quản lý Đầu tư nhiều song hiệu quả thấp cộng với tình trạng lãng phí, tham ô, thất thoát tài sản nhà nước, đầu tư sai mục đích đã và đang là những nhân tố đẩy giá thành sản phẩm của khu vực nhà nước lên cao và kéo theo việc tăng chi phí đầu vào của cả nền kinh tế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

tư công bố mới đây trong số 34.607 dự án đang thực hiện đầu tư, thì có tới 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ

2.2.1.2 Chính sách tiền tệ

Thường thì chính sách tiền tệ của chính phủ thường có độ trễ nhất định lên nền kinh

tế chính vì thế mà CSTT theo hướng kích cầu của chính phủ trước đây bây giờ mới phát huy “hậu quả” của nó

Chính sách tiền tệ kích cầu mà chính phủ áp dụng có tác dụng khơi thông dòng vốn, kích thích tiêu dùng của các tầng lớp dân cư và làm tăng tổng cầu, cũng từ chính sách đó

mà lượng tiền trong lưu thông tăng lên Như năm 2000, khi NHNN bãi bỏ lãi suất trần, chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, tạo điều kiện cho cung-cầu về vốn theo cơ chế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

34

thị trường và các NHTM chủ động hơn trong kinh doanh Và vào ngày 24/5/2001 TTCP ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP quy định lãi suất tín đụng đầu tư phát triển của nhà nước giảm xuống còn 5.4%/năm Riêng lãi suất cho vay ngân hàng phục vụ người nghèo đối với khu vực III là 5.4%/năm và đối với khu vực khác là 6%/năm Lãi suất tiền gửi của

hệ thống ngân hàng cũng liên tục giảm xuống đến mức thấp Có nhiều tiền hơn và dễ hơn thì việc tiêu dùng cũng thoáng hơn Chính sách kích cầu trong giai đoạn này và việc duy trì chính sách kích thích tương đối liên tục trong những năm sau đó, một mặt giúp nền kinh tế lấy lại phần nào đà tăng trưởng, nhưng mặt khác đã tích tụ những mầm mống gây

ra lạm phát cao bắt đầu bộc lộ từ giữa năm 2007

Gần đây nhất khi đứng trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế Từ đầu năm 2009, chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế Gói kích thích kinh tế đã triển khai được phân thành các phần: (1) gói hỗ trợ lãi suất 4%; (2) gói hỗ trợ tiêu dùng bao gồm miễn thuế thu nhập cá nhân và hỗ trợ người nghèo ăn Tết; (3) gói hỗ trợ đầu tư bao gồm miễn, giảm, giãn thuế doanh thu, thuế VAT cho các doanh nghiệp và cho nông dân vay vốn không lãi suất để mua thiết bị, máy móc sản xuất công nghiệp; (4) đầu tư công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh viên và khu chung cư cho người thu nhập thấp Về cơ bản gói kích thích kinh tế này đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế, góp phần quan trọng làm cho

hệ thống ngân hàng cải thiện được tính thanh khoản và duy trì khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, gói kích thích kinh tế đã bộc lộ nhiều tồn tại và hệ lụy Đó là việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây nguy cơ tái lạm phát, gây đột biến trên thị trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường bất động sản Góp phần đẩy lạm phát lên cao trong thời gian vừa qua

Cùng với chính sách kích cầu thì chính sách cung tiền và lãi suất của chính phủ cũng tác động đến lạm phát Việt Nam Chúng ta biết rằng một trong những đơn thuốc chống lạm phát trong cơ chế thị trường là thực hiện lãi suất thực dương Tức là lãi suất tiền cho vay phải cao hơn lãi suất tiền huy động và lãi suất tiền huy động phải cao hơn mức lạm phát Nhưng đến trước năm 2007, NHNN vẫn chưa thực hiện nguyên tắc này khiến đồng Việt Nam bị coi rẻ và kéo dài nạn dư thừa tiền trong lưu thông, trong khi các ngân hàng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 08/04/2017, 21:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003 - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003 (Trang 29)
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004 - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004 (Trang 30)
Bảng 2.3: Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006 - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.3 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006 (Trang 31)
Bảng 2.4: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009 - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.4 Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009 (Trang 32)
Bảng 2.5: Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.5 Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước (Trang 38)
Bảng 2.6: Các biến được sử dụng trong nghiên cứu - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.6 Các biến được sử dụng trong nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 2.7: Kết quả kiểm định Unit Root Test-ADF - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.7 Kết quả kiểm định Unit Root Test-ADF (Trang 51)
Bảng 2.8: Xác định độ trễ tối ưu - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.8 Xác định độ trễ tối ưu (Trang 52)
Bảng 2.9: Tóm tắt kết quả kiểm định nhân quả Granger - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.9 Tóm tắt kết quả kiểm định nhân quả Granger (Trang 52)
Bảng 2.10: Tác động giải thích lạm phát của các biến - Ứng dụng mô hình VAR trong nghiên cứu lạm phát tại việt nam
Bảng 2.10 Tác động giải thích lạm phát của các biến (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w