1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Bằng thực tiễn lịch sử, hãy chứng minh rằng, đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước

28 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 441,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới Tại Việt Nam, năm 1986, với việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Tiểu luận kết thúc môn học LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trần Minh Hải Nguyễn Phương Thảo Phạm Thị Tân Lý Đoàn Duy Khánh

: :

Trang 3

STT HỌ & TÊN MÃ SINH VIÊN Nhiệm vụ được giao và kết quả

Đánh giá của trưởng nhóm

1 Đỗ Thị Thùy Dương (Nhóm trưởng) 19051053 hợp, chỉnh sửa hình Phân công, Tổng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

PHẦN 1: Phân tích đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 4

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và nội dung đường lối 4

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 4

1.1.2 Nội dung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 5

1.2 Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân 18

1.2.1 Thành tựu đạt được và ý nghĩa 18

1.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 20

1.3 Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới 21

1.3.1 Chủ trương, nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới .21 1.3.2 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 22

1.4 Bài học 24

PHẦN 2: Bằng thực tiễn lịch sử, hãy chứng minh rằng, đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước 27

2.1 Về xây dựng 27

2.1.1 Hội nhập quốc tế về mặt chính trị 27

2.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế 28

2.2 Về vấn đề bảo vệ đất nước 30

2.2.1 Bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa 30

2.2.2 Hội nhập quốc tế về lĩnh vực văn hóa xã hội 31

2.2.3 Hội nhập quốc tế về lĩnh vực quốc phòng - an ninh 32

KẾT LUẬN 34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 5

MỞ ĐẦU

Trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiềuchủ trương, đường lối có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển nước.Xuyên suốt chặng đường đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chuyển biến, thành tựutrong tư duy về đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới Đường lối đối ngoạikhông chỉ giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới mà còn là điều kiện để xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; duy trì hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với cácnước trên thế giới; góp phần thúc đẩy vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bêncạnh đó, đường lối đối ngoại còn hướng nhân dân ta tới kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhthời đại, nâng cao ý chí tự cường, tự lực giữ gìn vững bản sắc dân tộc Việt, bồi dưỡng và rèn luyệnthêm bản lĩnh chính trị của Nhà nước Theo cương lĩnh năm 2011, Đảng đã xác định được toàndiện nhiệm vụ đối ngoại từ nguyên tắc, mục tiêu, phương châm và định hướng Thực hiện nhấtquán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạnghóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia,dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên cótrách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội trên thế giới Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở nhữngnguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế Trước sau như một ủng hộcác đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mụctiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảngkhác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác

và phát triển Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dâncác nước trên thế giới Phấn đấu cùng các nước Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xâydựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh Từ đó em

chọn đề tài “Phân tích đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới Bằng thực tiễn lịch

sử, hãy chứng minh rằng, đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước”, trong bài nghiên cứu sẽ đề cập đến những nhiệm vụ, tư duy đổi mới

của Đảng và Nhà nước trong đường lối đối ngoại thông qua các văn kiện, nghị quyết của các Đạihội nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển

1

Trang 6

PHẦN 1: Phân tích đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và nội dung đường lối

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Từ đầu thập niên 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển tăng tốc,với các đợt sóng công nghệ cao, nổi bật là công nghệ thông tin đem lại những biến đổi ngày càng tolớn và nhanh chóng mọi mặt đời sống nhân loại Sự phổ cập nhanh chóng của hệ thống Internet vàcác phương tiện hiện đại khác ngày càng mở rộng giao lưu quốc tế Đồng thời, xu thế khu vực hóa

và toàn cầu hóa được tăng cường, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia và làm gia tăng các hoạtđộng kinh tế thương mại quốc tế Cải cách và mở cửa tồn tại như một trào lưu tại nhiều nước trênthế giới Để đẩy mạnh cải cách kinh tế và hiện đại hóa, một số nước tiến hành ở mức độ khác nhauquá trình dân chủ hóa và cải cách chính trị Những thay đổi to lớn và cơ bản trong đời sống kinh tế,chính trị thế giới dẫn tới những tập hợp lực lượng mới trên thế giới

Lần đầu tiên trong lịch sử từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á trải qua mộtthập niên phát triển năng động trong cuộc hành trình vào thiên niên kỷ mới với những bước tiếntriển lớn đầy triển vọng Với việc ký Hiệp định Paris về Campuchia tháng 10 năm 1991, quan hệgiữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương thay đổi cơ bản, chuyển từ trạng thái đối đầu sangđối ngoại, thúc đẩy hòa bình, hữu nghị và hợp tác Và nó đã trở thành xu hướng chính ở Đông Nam

Á sau chiến tranh lạnh và bước sang thế kỷ mới Các nước trong khu vực phấn đấu hiện thực hóa ýtưởng biến Đông Nam Á thành khu vực phi vũ khí hạt nhân, thống nhất trong đa dạng, hòa bình, ổnđịnh, hợp tác và phát triển đồng đều, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước ngoài khuvực

Tuy thế, môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực chưa thật vững chắc Vẫncòn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định Trong nội bộ một số nước và giữa các nước vớinhau còn tồn tại mâu thuẫn, xung đột về chính trị, sắc tộc, tôn giáo, kinh tế, xã hội

Như vậy, các nước muốn thoát khỏi nguy cơ bị biệt lập, kém phát triển, tụt hậu, thì phải tíchcực, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cáchcẩn trọng các yếu tố bất lợi để vượt qua Ngoài việc tận dụng các nguồn lực trong nước, cũng cầntận dụng các nguồn lực bên ngoài, trong đó mở rộng và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước,tham gia các cơ chế hợp tác đa phương có ý nghĩa to lớn và đặc biệt quan trọng Vì vậy, Đảng vàNhà nước cần xác định quan điểm và hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới

1.1.2 Nội dung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

Tại Việt Nam, năm 1986, với việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, là một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ, mở

ra một giai đoạn mới với những chuyển biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hộicũng như trong đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được từng bước định hình, hoàn chỉnh và triển khai thànhcông trong hiện thực cuộc sống

2

Trang 7

Trước sự phát triển mới của tình hình trong nước và quốc tế, tháng 7 năm 1986, Bộ Chính trịkhóa V của Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết, điều chỉnh bước đầu chính sách đối ngoại củaViệt Nam Nghị quyết đề ra nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam là kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại, tận dụng những điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc, chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dựng kinh tế Nghị quyết cũng nhấn mạnh cầnchủ động chuyển sang thời kỳ cũng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành mộtkhu vực hợp tác, ổn định và hòa bình; giải pháp về Campuchia phải đảm bảo giữ vững được thànhquả cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia, nạn diệt chủng được khắc phục, tạo ra môi trườnghòa bình, để mỗi nước trên bán đảo Đông Dương nhanh chóng phát triển kinh tế

Đường lối đối ngoại rộng mở do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản ViệtNam, tháng 12 năm 1986, đề ra xác định nhiệm vụ hàng đầu là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuậnlợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”1

Những phương hướng chính sách về đối ngoại, thông qua tại Đại hội lần thứ VI là: Phát triển

và củng cố quan hệ Việt Nam, Lào, Campuchia, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗinước, hợp tác toàn diện; Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sáchđối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam2; Sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộcquan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước; Mở rộng quan hệvới tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình

Thực hiện đường lối của Đại hội VI, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã ra sức giữvững và củng cố hòa bình, tập trung xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xem đó là lợi ích caonhất, là nhân tố quyết định để bảo vệ độc lập, duy trì an ninh của đất nước Cùng nhau thực hiệnyêu cầu đó, Việt Nam đã thỏa thuận với Cộng hòa Nhân dân Campuchia rút dần quân tình nguyệnkhỏi Campuchia

Ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị khóa VI ra Nghị quyết Trung ương mười ba với chủ đề “Giữvững hòa bình, phát triển kinh tế”, xác định ngoại giao phải ưu tiên giữ vững hòa bình để phát triển

và khẳng định rằng trong tình hình mới ở khu vực và trên thế giới, nước ta lại càng có những cơ hộilớn để có thể giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế Không những thế, nước ta có khả năng giữvững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội một khi nước ta có một nền kinh tế mạnh

mẽ và quan hệ hợp tác quốc tế được rộng mở Nghị quyết Bộ Chính trị nhấn mạnh chính sách đadạng hóa quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi và chỉ ra những nhiệm

vụ trước mắt cho ngoại giao, trong đó quan trọng là: bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vàgóp phần giải quyết vấn đề Campuchia

Các nghị quyết của Đảng trong trên lĩnh vực đối ngoại các năm 1986 - 1988 đánh dấu mộtbước tiến rất quan trọng trong đổi mới tư duy nhận thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại củaĐảng Cộng sản Việt Nam, giải đáp kịp thời một loạt quan điểm về chiến tranh và hòa bình, anninh, về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, giữa yếu tốdân tộc và yếu tố quốc tế, về làm nghĩa vụ quốc tế, đoàn kết quốc tế, quan hệ đồng minh… Cácnghị quyết không chỉ đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa chiến lược đường lối chính sách đối ngoại

1 Nguyễn Đình Bin, Ngoại Giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 323

2 Vũ Văn Hiền (2016), "Những thành tựu trong đối ngoại, hội nhập quốc tế", Báo Nhân Dân điện tử

3

Trang 8

của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà còn đặt cơ sở cho việc đổi mới công tác đối ngoại và hoạtđộng của ngành ngoại giao trong tình hình mới.

Tháng 6/1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam xácđịnh nhiệm vụ ngoại giao là duy trì hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiệnthuận lợi quốc tế thuận lợi nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc đấutranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đại hộithông qua tuyên bố chính sách: “Với chính sách đối ngoại, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn

là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”3.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Đạihội Đảng lần thứ VII đã đưa ra chủ trương mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, chủ độngtạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam Đại hội và Cương lĩnh đề ra chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, hợptác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ xã hội, chính trị khác nhautrên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, không ngừng phát triển và củng cố quan hệ hữunghị, hợp tác truyền thống với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước anh em trên bán đảo ĐôngDương; phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á, tích cực góp phần xây dựng khu vực nàythành khu vực hòa bình và hợp tác, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau với cácnước đang phát triển, mở rộng hợp tác cùng có lợi với các nước phát triển

Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, tháng 6 năm 1992, đã nêu lên

tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là giữ vững nguyên tắc vìđộc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợpvới vị trí, điều kiện và hoàn cảnh của nước ta, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khuvực, phù hợp với từng đối tượng Việt Nam có quan hệ

Tháng Giêng 1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII khẳng định: việc

mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị trí của Việt Nam trên thế giới, tạo môi trườngquốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một trong ba thành tựu của côngcuộc đổi mới Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, xem đó là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu, nhằm đưa nước ta thoát khỏinguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo vệđộc lập, chủ quyển và định hướng của xã hội nghĩa Nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển đấtnước, hội nghị xác định phát huy những kết quả đạt được, “tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chínhsách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, hạn chế bất đồng”, trong quan

hệ với các nước “phải thấy rõ khó khăn và thách thức cũng như thuận lợi và cơ hội của nước ta,theo dõi sát diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế để có chủ trương thích hợp, giữ vững nguyêntắc năng động, linh hoạt”4

Trên cơ sở các thành tựu đối ngoại, từ năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII củaĐảng, tháng Sáu 1996, đã quyết định tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 147

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, lưu hành nội bộ, tháng Mười một 1994, tr 55-56

4

Trang 9

triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa đất nước Đại hội khẳng định mạnh mẽ việc đẩy nhanh quátrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam theo những lộ trình phù hợp với Việt Nam

Chính sách đối ngoại “muốn là bạn với tất cả các nước” được triển khai trong thực tiễn quốc

tế đã tạo điều kiện thuận lợi mở rộng sự hợp tác về chính trị và kinh tế trong khi vẫn kiên trì địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng kịp thời yêu cầu của công cuộc đổi mới, bảo đảm để cách mạngViệt Nam tiếp tục giành thắng lợi

Để đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, bản sắc vănhóa dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ươngkhóa VIII, tháng 12 năm 1997, đã nêu lên tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là tiếp tục đẩy mạnh côngcuộc đổi mới và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm để đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nâng cao ý chí tự cường, tự lực nhằm giữ vững bản sắc dântộc Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế5 Đa dạng dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đốingoại, hội nhập và hợp tác quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ Độc lập, tự chủ, tự lực, tựcường là cơ sở vững chắc để đẩy mạnh hơn nữa đoàn kết, hợp tác và hội nhập quốc tế nhằm gópphần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Tư tưởng đối ngoại đó xuất phát từ thực tiễn quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế khi toàn cầuhóa đang trở thành một thực tế khách quan và từ nhu cầu của đất nước cần phải tiếp tục khai tháccác điều kiện quốc tế thuận lợi, sử dụng tốt sự hợp tác quốc tế để phục vụ sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) của Đảng được tổ chức vào thờiđiểm có ý nghĩa quan trọng Đây là đại hội đầu tiên của Đảng trong thế kỷ XXI , và được tổ chứctrong bối cảnh đất nước đang có những cải cách được đề xuất ra từ Đại hội Đảng Cộng Sản ViệtNam VI hơn 15 năm và đã đạt được những thành tựu to lớn, giành được sự ủng hộ trong nước vàquốc tế Nhiệm vụ của Đại hội lần thứ IX là kiểm điểm và đánh giá những thành tích và khuyếtđiểm thời gian qua, để quyết định cho giai đoạn tiếp theo, phấn đấu nâng cao hơn nữa vai trò lãnhđạo và hiệu lực chiến đấu của Đảng, huy động và nâng cao sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục cậpnhật, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa, để vững bước bước vào thế kỷ mới Những phương hướng, chính sách về đối ngoại, thôngqua đại hội lần thứ IX là :

Luôn theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá cácquan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển dân tộc ta

Nhiệm vụ của đường lối đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điềukiện quốc tế để Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm nền độc lập và vùng lãnh thổ quốc gia, đồng thời gópphần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội trong thời gian tới

5 Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ tư khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1998, tr 29-30

5

Trang 10

Bên cạnh đó, mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các nước và các trung tâmchính trị, các tổ chức quốc tế lớn và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa;bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làmthất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

Trên tinh thần sử dụng tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập

và đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dântộc, bảo vệ môi trường, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Chính phủ cùng với các bộ,ban ngành và các doanh nghiệp khẩn trương xây dựng và triển khai kế hoạch hội nhập kinh tế quốc

tế với lộ trình hợp lý và kế hoạch hành động cụ thể để phát huy sự hăng hái , chủ động của các banngành và các doanh nghiệp, các cấp; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cập nhật kinh tế xã hội

cơ chế quản lý và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vànền kinh tế Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và cácnước láng giềng Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng nhau xâydựng Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, không vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác và pháttriển

Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ, giao lưu, trao đổi với các nước bạn bè truyền thống,các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ latinh,cùng nhau ủng hộ và phát triển, phối hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của nhau Đẩy mạnh hoạt động

ở các diễn đàn đa phương nhằm thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chứcquốc tế

Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu Nhân dân thế giới đang chung sức xóa bỏhoàn toàn vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và tất cả các phương tiện chiến tranh hủy diệt hàng loạthiện đại khác để duy trì hòa bình, đương đầu với hiểm họa chiến tranh và đấu tranh chạy đua vũtrang Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lựa chọn con đường phát triển củanhân dân các nước trên thế giới; góp phần xây dựng trật tự kinh tế, chính trị quốc tế dân chủ, côngbằng Củng cố và tăng cường đoàn kết và hợp tác với các Đảng Cộng sản và Công nhân, các đảngcánh tả, Phong trào Giải phóng dân tộc và Độc lập, Phong trào Tiến bộ và Cách mạng Thế giới.Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền

Mở rộng hơn nữa hoạt động ngoại giao phi chính phủ, tăng cường quan hệ song phương và

đa phương với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chínhphủ trong nước và quốc tế, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị, hợp tác giữanhân dân ta và người dân khu vực này và thế giới

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thông tin, làm tốt công tác dự báo tình hình khu vực và thếgiới, có chủ trương, chính sách đối ngoại tương ứng, kịp thời khi tình hình thay đổi Tăng cườnghơn nữa công tác thông tin đối ngoại và công tác văn hóa đối ngoại Bồi dưỡng thêm, rèn luyện bảnlĩnh chính trị, đạo đức liêm khiết và phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm kinh tế đối ngoại Phối hợpchặt chẽ hoạt động ngoại giao dân tộc, đối ngoại đảng, đối ngoại nhân dân Hoàn thiện cơ chế quản

lý thống nhất về đối ngoại, hình thành lực lượng chung để thực hiện có hiệu quả công tác đối ngoại,

để thế giới hiểu rõ hơn về đất nước, con người và công cuộc đổi mới của dân tộc ta và có được sựđồng thuận, hỗ trợ và hợp tác trên toàn thế giới

6

Trang 11

Đại hội thông qua tuyên bố chính sách “ với chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở,

đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chúng ta tuyên bố chính sách của Đại hội chúng

ta rằng : Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấnđấu vì hoà bình, độc lập và phát triển6"

Từ khi đổi mới năm 1986, sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết Hộinghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX là Văn kiện thứ hai có ý nghĩa chiếnlược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và xác định các nguyên tắc và phương pháp củachính sách đối ngoại của Việt Nam với tất cả các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, khôngphân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển các dân tộc Với những phát triển mới trong đườnglối đối ngoại Đại hội IX, chúng ta càng tin tưởng vào sự nghiệp đối ngoại dưới sự lãnh đạo củaĐảng sẽ tiếp tục thu được những thành tựu mới Tuy nhiên, để đường lối sớm đi vào cuộc sống, cầnphải có nỗ lực vượt bậc trong tất cả các khâu, từ cụ thể hóa đường lối thành chính sách đến xâydựng và triển khai chiến lược, kế hoạch, đề án đối ngoại

Trên cơ sở những thành tựu đạt được, tháng 4/2006, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xcủa Đảng được triệu tập tại Hà Nội Hội nghị đã đưa ra những chủ trương lớn nhằm mở rộng quan

hệ đối ngoại và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đường lối và chính sách ngoại giao được Đại hội

X thông qua là tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các đối tác và các nước, đồng thời tậptrung triển khai, triển khai tập trung, củng cố triển khai, hoàn thiện khuôn khổ ổn định Quan hệ lâudài với các nước, nhất là các nước láng giềng trong khu vực, các cường quốc và đối tác quan trọng;quan hệ hợp tác đang có bước tiến mới theo hướng đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, xâydựng lòng tin lẫn nhau

Trên cơ sở lấy lợi ích quốc gia làm mục tiêu và nguyên tắc tối cao, chủ động hội nhập vớicác thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương một cách sâu rộng và toàn diện hơn vào nềnkinh tế quốc tế, trở thành xu hướng chủ đạo, đồng thời tuân thủ các công ước quốc tế, linh hoạt Cam kết thương mại, đầu tư và mở cửa thị trường; chuẩn bị cho việc ký kết các hiệp định thươngmại tự do song phương, đặc biệt là với nước có nền kinh tế phát triển; ký kết các hiệp định hợp táckinh tế đa phương và khu vực; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện có hiệu quả với các nước thuộcHiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN), các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Tăng cường hơn nữa vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại, tạo môi trường pháp lý thuậnlợi, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), các khoản viện trợkhông hoàn lại (ODA); kết hợp tốt và hài hòa giữa chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, gópphần tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài, phục vụ tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xây dựng và củng cố nền hòa bình, hợp tác phát triển với các nước láng giềng, đặc biệthoàn thành việc phân giới, cắm mốc với Trung Quốc và Cam-pu-chia như kế hoạch đã đề ra; kịpthời giải quyết các vấn đề nảy sinh, góp phần tạo môi trường hòa bình thuận lợi cho phát triển, bảo

vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Sẵn sàng trao đổi, với các nước, các tổ chức quốc

tế và khu vực về những vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để

họ hiểu rõ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta; không chấp nhận bất cứ hành động nàolợi dụng các vấn đề này để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

6 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX

7

Trang 12

Cùng với các hoạt động ngoại giao song phương, cần tăng cường hơn nữa hoạt động trêncác diễn đàn đa phương ở khu vực và trên thế giới; mở rộng sự hợp tác nhiều mặt với các tổ chứckhu vực và quốc tế; chủ động tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu; tiếp tục củng cố, nâng caovai trò, vị thế của Việt Nam trong các định chế quốc tế Đặc biệt, trong thời gian trước mắt, mụctiêu chính của chúng ta là tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 14 vào cuối năm 2006 tại HàNội; tích cực hướng tới mục tiêu ứng cử trở thành ủy viên không thường trực tại Hội đồng Bảo anLiên hợp quốc khóa 2008 - 2009; nâng cao hơn nữa vai trò của Việt Nam trong ASEAN; đẩy mạnh

sự tham gia và đóng góp của chúng ta vào Phong trào Không liên kết và xa hơn là xem xét, nghiêncứu bước đầu tham gia có chọn lọc vào một số hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc

Tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với ngườiViệt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ ổn định cuộc sống; bảo vệ quyền lợichính đáng, đưa ra các chính sách để người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về quê hương, cónhững đóng góp xây dựng đất nước Hội nghị tiếp tục khẳng định rằng đồng bào ta đang định cư ởnước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng người dân Việt Nam, lànhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, trao đổi, hữu nghị giữa nhân dân ViệtNam và nhân dân quốc tế

Đẩy mạnh và cải thiện chất lượng thông tin tuyên truyền và văn hóa đối ngoại, tăng cường

sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân trên thế giới, gópphần làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ và biết nhiều hơn về công cuộc Đổi mới, cải cách về đất nước

và con người Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển, ủng hộ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước của chúng ta

Cuối cùng là xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đối ngoại ngang tầm với yêu cầucủa sự nghiệp cách mạng Đội ngũ cán bộ này phải có những hiểu biết sâu rộng, thành thạo ngoạingữ, giỏi về nghiệp vụ và kỹ năng đối ngoại; có lập trường chính trị vững vàng, tuyệt đối trungthành với Đảng và Tổ quốc; có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao; trở thành cán bộđối ngoại "vừa hồng, vừa chuyên" Với đội ngũ cán bộ đó cùng với việc quán triệt sâu sắc đườnglối đối ngoại do Đại hội X của Đảng đề ra, sẽ hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao phó và gópphần vào việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu chung của đất nước; đưa nước ta tiến nhanh, tiếnmạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện thành công mục tiêu cao đẹp dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.7

Tiếp đến, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng Cộng Sản Việt Nam được

tổ chức vào tháng 1 năm 2011, đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, đưa ra nhiều đường lối cảicách và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới Đường lối đối ngoại củaĐại hội XI là sự tiếp nối đường lối đối ngoại của các Đại hội trước trong thời kỳ đổi mới, đượckhởi xướng từ Đại hội VI năm 1986 Đồng thời, những cải cách này có những phát triển mới phùhợp với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn Việt Nam hội nhậpsâu rộng vào khu vực và thế giới.8 Đại hội khuyến khích tiếp tục thực hiện tốt chủ trương: Mở rộnghoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Luôn theo đuổi đường lối đối ngoạiđộc lập, tự chủ, đa phương hoá và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình,

7 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

8 Cổng thông tin điện tử - Sở ngoại vụ

8

Trang 13

ổn định cho sự phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Tiếp tục phát huy tối đa nội lực và giữ gìn bản sắcdân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế song phương và đa phương vì lợi ích quốcgia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng Chủ động, tíchcực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh; tăng cường quan

hệ với các đối tác trong khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Phát triển quan

hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, đảng cầm quyền và các chính đảng khác trên cơ

sở bảo đảm lợi ích, độc lập, tự chủ của đất nước Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng,ngoại giao của Nhà nước, đối ngoại nhân dân; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; chính trị đốingoại, kinh tế và văn hoá đối ngoại

Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giaiđoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội Qua

30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnhvực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng - an ninh đượctăng cường, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dânđược cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của ViệtNam trên trường quốc tế được nâng cao Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng

và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đadạng hóa các quan hệ Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhândân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triểnđất nước trong những năm qua.9

Đại hội đại biểu lần thứ XII (năm 2016) đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả trong hoạtđộng đối ngoại và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa bây giờ, giữ vững môi trường hòabình, tạo điều kiện để đất nước phát triển Kế thừa quan điểm chỉ đạo về đối ngoại ở các kỳ đại hộitrước, Đại hội XII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những phương hướng, chủ trương cóbước ngoặt về đường lối đối ngoại trong điều kiện mới, với mục tiêu đặt ra: bảo đảm lợi ích quốcgia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạnghóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đốitác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm “phục vụ mục tiêu giữ vữngmôi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nângcao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục đưa các mốiquan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại

tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý; phù hợp với lợi ích của đất nước.Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước

9 Đảng cộng sản Việt Nam: Báo điện tử

9

Trang 14

lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước Chủ động tham gia và phát huyvai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc Chủ động, tích cực thamgia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác

ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyềnthống và các hoạt động khác10

Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với thế và lực mới do những thành tựu và kinhnghiệm 30 năm đổi mới mang lại, với vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, cơ hội rất lớn

và thách thức cũng không nhỏ Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội nhất làĐại hội XII đã thể hiện sự nhất quán, sáng tạo và hệ thống với tầm cao mới Chúng ta tin tưởngrằng, với kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng và đặc biệt trong 30 năm đổi mới toàn diệnđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp để đưa sự nghiệp cáchmạng nước ta sang một bước ngoặt mới Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trongthời gian tới hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta sẽ đạt được nhiều thành tựu tolớn, giữ vững môi trường hòa bình và phát huy ngoại lực sớm đưa nước ta trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tháng 2-2021) của Đảng diễn ra trong bối cảnhtình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; đất nước đang đứng trướcnhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra phải giảiquyết; cán bộ, đảng viên, nhân dân đặt niềm tin và kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh

mẽ của Đảng để phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn Đại hội được tổ chức vào thời điểmtoàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụđược xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếptục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác Chủđộng tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàncầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiếnlược, đối tác toàn diện và các đối tác khác Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhândân được triển khai đồng bộ và toàn diện Tiếp tục hoàn thiện và thực thi có hiệu quả cơ chế quản

lý thống nhất các hoạt động đối ngoại; tăng cường công tác bảo hộ công dân và công tác người ViệtNam ở nước ngoài Hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, tạo không gianquan hệ rộng mở, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế Vị thế, uy tín, vai tròcủa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao.11

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là kim chỉ nam cho việc triển khai công tácđối ngoại, thể hiện mạnh mẽ tính kế thừa và tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp thực tiễn, cũng nhưvới thế và lực mới của đất nước Cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tậptrung của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, đồng lòng nhất trí của toàn hệ thống chính trị và toànthể nhân dân, chúng ta mới thực hiện được thắng lợi đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế, thựchiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước trong những năm tới

10 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII

11 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại đại hội lần thứ XIII

10

Ngày đăng: 19/12/2021, 06:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w