1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam . Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam

28 510 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 348,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên lí thuyết về lạm phát, hãy phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam . Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam. Trong nền kinh tế thị trường lạm phát và thất nghiệp là vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ với những nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô mà còn là mối quan tâm rất lớn của người dân bởi tầm quan trọng của nó. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập việc làm và đời sống của mọi tầng lướp trong xã hội. Có thể nói lạm phát và thất nghiệp là thước đo thành tựu nền kinh tế của một quốc gia. Lạm phát và thất nghiệp ở chừng mực vừa phải và được phát huy tích cực là nhân tố giúp cho ổn định và phát triển kinh tế, trái lại nó sẽ gây ra đình đốn trong sản xuất. Ở Việt Nam vào những năm 1989 cho thấy tình trạng lạm phát rất nghiêm trọng với mức tăng giá 3 chữ số, năm cao nhất đạt chỉ số 557% vượt qua lạm phát phi mã với chỉ số trên tác hại và biểu hiện của nó không kém gì siêu lạm phát. Đời sống nhân dân khổ cực khó khăn, hàng hóa ngày càng khan hiếm đắt đỏ,thị trường rối loạn. Sau năm 1989, với quyết tâm của Đảng và Chính phủ với những đổi mới tích cực trong hệ thống kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng và những thay đổi của chính sách tiền tệ, chúng ta đã có những bước đầu thành công không những kiềm chế lạm phát ở mức thấp mà vẫn đảm bảo ổn định kinh tế cao giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ mới là những thành công bước đầu chưa ổn định. Trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta còn non yếu cho việc nghiên cứu về lạm phát và thất nghiệp cũng như mối quan hệ giữa chúng trở thành điều hết sức quan trọng. Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn qua đường cong Philips của A.William Phillips đến mối quan hệ giữa chúng trong dài hạn ở Việt Nam sẽ diễn biến như thế nào để có thể nhận định một cách đúng đắn bản chất thật của mối quan hệ này. Qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra nhữngchính sách kinh tế vĩ mô hợp lý và kịp thời để giải quyết khó khăn không chỉ trong ngắn hạn mà có thể duy trì lâu dài nền kinh tế bền vững. Vì những lí do trên nhóm 8 đã chọn đề tài “Dựa trên lí thuyết về lạm phát, hãy phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam . Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam” . Nhóm 8 xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Thanh Huyền – Giảng viên học phần “Kinh tế vĩ mô” đã hướng dẫn tận tình chúng em trong quá trình thảo luận, xây dựng đề tài. Chúng em hi vọng sẽ nhận được những ý kiến góp ý của cô và các bạn để đề tài của nhóm 8 được hoàn thiện hơn . Xin chân thành cảm ơn MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về lạm phát và các phạm trù liên quan đến lạm phát, đặc biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là đề tài đã đi vào thực tiễn về mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, từ đó tìm ra tính quy luật phổ biến của diễn biến rất phức tạp của lạm phát và thất nghiệp trong một quốc gia đang phát triển như là nước ta và các bài học kinh nghiệm,các giải pháp can thiệp về kiềm chế lạm phát, thất nghiệp trong nền kinh tế đã có yếu tố hội nhập ở Việt Nam. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm về lạm phát của các nhà kinh tế hiện đại của nước ngoài và Việt Nam, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước về kiềm chế lạm phát, thất nghiệp ở Việt Nam để phân tích, lý giải các chỉ số và đề xuất các giải pháp can thiệp thông qua các phương pháp: Nghiên cứu tài liệu, trao đổi.. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Cấu trúc của đề tài gồm 2 vấn đề lớn: Lý thuyết về lạm phát và thực trạng lạm phát tại Việt Nam Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 20142018 B. PHẦN NỘI DUNG I. Lý thuyết lạm phát, thất nghiệp và thực trạng lạm phát của VN 1. Lạm phát 1.1. khái niệm Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung bình theo thời gian Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả ( chỉ số lạm phát): Công thức tính: Ip= ∑ip.d trong đó: Ip chỉ số giá của cả giỏ hang ip – chỉ số giá của từng loại hangf, nhóm hang trong giỏ d – tỷ trọng mức tiêu dung của từng loại, nhóm hangf trong giỏ 1.2. Tỷ lệ lạm phát: (gp) tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ 1.3. Công thức tính + theo chỉ số giá tiêu dùng CPI: gp= (CPIp(CPIp1)1)x100 trong đó: gp – tỷ lệ lạm phát

Trang 1

A.PHẦN MỞ ĐẦULỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường lạm phát và thất nghiệp là vấn đề được quan tâm đặcbiệt không chỉ với những nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô mà còn là mối quantâm rất lớn của người dân bởi tầm quan trọng của nó Điều này ảnh hưởng trực tiếp tớithu nhập việc làm và đời sống của mọi tầng lướp trong xã hội Có thể nói lạm phát vàthất nghiệp là thước đo thành tựu nền kinh tế của một quốc gia

Lạm phát và thất nghiệp ở chừng mực vừa phải và được phát huy tích cực là nhân tốgiúp cho ổn định và phát triển kinh tế, trái lại nó sẽ gây ra đình đốn trong sản xuất

Ở Việt Nam vào những năm 1989 cho thấy tình trạng lạm phát rất nghiêm trọng vớimức tăng giá 3 chữ số, năm cao nhất đạt chỉ số 557% vượt qua lạm phát phi mã với chỉ

số trên tác hại và biểu hiện của nó không kém gì siêu lạm phát Đời sống nhân dân khổcực khó khăn, hàng hóa ngày càng khan hiếm đắt đỏ,thị trường rối loạn

Sau năm 1989, với quyết tâm của Đảng và Chính phủ với những đổi mới tích cựctrong hệ thống kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng và những thay đổi của chính sáchtiền tệ, chúng ta đã có những bước đầu thành công không những kiềm chế lạm phát ởmức thấp mà vẫn đảm bảo ổn định kinh tế cao giải quyết công ăn việc làm cho ngườilao động

Tuy nhiên, đây chỉ mới là những thành công bước đầu chưa ổn định Trong hoàn cảnhnền kinh tế nước ta còn non yếu cho việc nghiên cứu về lạm phát và thất nghiệp cũngnhư mối quan hệ giữa chúng trở thành điều hết sức quan trọng

Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn quađường cong Philips của A.William Phillips đến mối quan hệ giữa chúng trong dài hạn

ở Việt Nam sẽ diễn biến như thế nào để có thể nhận định một cách đúng đắn bản chấtthật của mối quan hệ này Qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ranhữngchính sách kinh tế vĩ mô hợp lý và kịp thời để giải quyết khó khăn không chỉtrong ngắn hạn mà có thể duy trì lâu dài nền kinh tế bền vững

Vì những lí do trên nhóm 8 đã chọn đề tài “Dựa trên lí thuyết về lạm phát, hãy phântích tình hình lạm phát của Việt Nam Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và thất

Trang 2

nghiệp tại Việt Nam” Nhóm 8 xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Thanh Huyền –Giảng viên học phần “Kinh tế vĩ mô” đã hướng dẫn tận tình chúng em trong quá trìnhthảo luận, xây dựng đề tài Chúng em hi vọng sẽ nhận được những ý kiến góp ý của cô

và các bạn để đề tài của nhóm 8 được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

và thất nghiệp trong một quốc gia đang phát triển như là nước ta và các bài học kinhnghiệm,các giải pháp can thiệp về kiềm chế lạm phát, thất nghiệp trong nền kinh tế đã

có yếu tố hội nhập ở Việt Nam

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm về lạm phát của các nhàkinh tế hiện đại của nước ngoài và Việt Nam, các quan điểm, đường lối chính sách củaĐảng và Nhà Nước về kiềm chế lạm phát, thất nghiệp ở Việt Nam để phân tích, lý giảicác chỉ số và đề xuất các giải pháp can thiệp thông qua các phương pháp: Nghiên cứutài liệu, trao đổi

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Cấu trúc của đề tài gồm 2 vấn đề lớn:

I Lý thuyết về lạm phát và thực trạng lạm phát tại Việt Nam

II Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2018

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I Lý thuyết lạm phát, thất nghiệp và thực trạng lạm phát của VN

1 Lạm phát

1.1 khái niệm

- Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung bình theo thời gian

- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả ( chỉ số lạm phát):

Công thức tính: Ip= ∑ip.d

trong đó: Ip- chỉ số giá của cả giỏ hang

ip – chỉ số giá của từng loại hangf, nhóm hang trong giỏ

d – tỷ trọng mức tiêu dung của từng loại, nhóm hangf trong giỏ

CPIp –chỉ số giá của thời kỳ nghiên cứu

CPIp-1 - chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó

+ Theo chỉ số giảm phát:

Chỉ số giảm phát GDP= DGDP= GDP danh nghĩa GDPthực tế

gp=( Dgdp¿ ¿ Dgdpn - 1)

Trang 4

trong đó: Dgdpn chỉ số giảm phát GDp của năm hiện tại

Dgdp(n-) – chỉ số giảm phát GDP của năm gốc

- Quy mô lạm phát:

+ Lạm phát vừa phải: có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm

+ Lạm phát phi mã: khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong mộtnăm

+ siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao hơn lạm phát phi mãt( thường trên 200% một năm )

Trang 5

Nguyên nhân đẩy chi phí lên cao là do các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào – đặcbiệt là các vật tư cơ bản ( xăng, dầu, điện, …) ( thiên tai, chiến tranh, sự biến động chínhtrị, kinh tế…)

+ Lạm phát tiền tệ:

Xảy ra khi lượng cung tiền tăng , khiến cho tiền trong lưu thông nhiều

Trang 6

+ Lạm phát do cơ cấu:

Nghành kinh doanh không có hiệu quả vì thế không thể tăng tiền công trên danh nghĩacho người lao động của mình Nhưng để đảm bảo lợi nhuận của mình , nghành kinhdoanh sẽ tăng giá thành nên lạm phát diễn ra

+ Lạm phát do xuất khẩu :

Xảy ra khi xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung , hoặc sản phẩn đượchuy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phảm cho thị trường trong nước giảmkhiến tổng cung thấp hơn tổng cầu

+ Các nguyên nhân khác:

Tâm lý người dân: khi ng dân không tin tưởng vào đồng tiền nhà nước, họ sẽ khônggiữ tiền mà đẩy vào lưu thong bằng việc mua hàng hóa hay đầu tư vào lĩnh vực kinhdoanh nào đấy làm cho cầu tăng lên mà không cung cấp không đáp ứng đc sẽ gây ra lạmphát

Do thâm hụt NSNN

Trang 7

Ngoài ra còn do chính sách của nhà nước, chính sách thuế, chính sách cơ cấu khônghợp lý, mất cân đối.

2 Thất nghiệp

2.1 Khái niệm thất nghiệp

 Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm màkhông tìm được việc làm

2.2 Tỷ lệ thất nghiệp

- là % số người thất nghiệp sp với tổng số người trong lực lượng lao động

Tỷ lệ thất nghiệp = tổng số người trong lực lượng lao động Số ngườithất nghiệp x 100%

2.3 Các loại thất nghiệp

- phân theo loại hình thất nghiệp

- Phân loại theo lý do thất nghiệp

- Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp

+ Thất nghiệp tạm thời:

Loại này chủ yếu bao gồm những người đang đi tìm việc, xuất thân từ thành phần bỏ việclàm cũ đi tìm việc làm mới vì họ không thỏa mãn với mức lương và môi trường làm việchiện tại, họ sẵn sàng bỏ việc để tìm cho mình một công việc phù hợp nhất với khả năng

và mong muốn của bản thân

+ thất nghiệp cơ cấu:

Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động Sự mất cân đối có thể xảy ra do

2 nguyên nhân:- Sự thay đổi cơ cấu ngành hoặc công việc đòi hỏi trình độ cao hơn đốivới người lao động làm cho những kỹ năng hiện tại của họ không còn phù hợp nữa

+ Thất nghiệp do thiếu cầu:

là tình hình trong đó tổng cầu (AD) quá thấp, vì vậy không đủ việc làm cho những ngườimuốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành trên thị trường

+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường:

Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơnmức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động

2.4 Thất nghiệp tự nhiên

Trang 8

- Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp mà nền kinh tế đạt được ứng với mức sảnlượng tiềm năng

3 Tình hình lạm phát của Việt Nam

3.1 Thực trạng:

3.1.1 Lạm phát ở nước ta trong thời kỳ đổi mới(1986)

Trước thời kỳ đổi mới,nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trungquan liêu bao cấp nên vấn đề giá cả chưa chịu tác động của quy luật thị trường,mà đượcđịnh ra theo mệnh lệnh và qui định ,do vậy lạm phát không xuất hiện Tuy nhiên bướcvào giai đoạn 1976-1985,nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện suy thoái, khủng hoảng và lạmphát Lạm phát thời kì này là lạm phát phi mã 700-800%.Lạm phát này phá vỡ hoàn toànmọi cân đối và hệ thống tài chính-tiền tệ rối loạn,kinh tế-xã hội có nhiều biến độngxấu.Sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vậtchất cao, thu nhập quốc dân tăng không đáng kể, đời sống của người dân giảm sút, giá cả

ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen có khoảng cách khá xa Nông nghiệp với tỷtrọng chiếm trên 40%tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân nhưng giátrị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân chỉ ở mức 3,8%/năm.Độc canh cây lúa với tổngsản lượng lương thực chỉ đạt 18,2 triệu tấn vào năm 1985 nên tình trạng thiếu lương thực

và đói ăn của người dân kéo dài triền miên,công nghiệp cũng chỉ tăng 5,2%/năm.Dịch vụhầu như không phát triển, xuất khẩu thì với số lượng nhỏ bé, chỉ đạt khoảng 746 triệuUSD vào năm 1985, trong khi thâm hụt cán cân thương mại lại cao(844 triệu USDnăm1985) gấp 1,13 lần so với xuất khẩu Thời kì 1976-1980, vay nợ và viện trợ nướcngoài chiếm 38,2% tổng số thu ngân sách Nhà nước và bằng 61,9% tổng số thu trongnước Bội chi ngân sách Nhà nước vào 1980 là 18,1% và năm1985 là 36,6% so với GDP.Đây là tình trạng đất nước làm không đủ ăn, tình hình kinh tế –xã hội khó khăn không thể

kể hết

3.1.2 Thời kì bắt đầu đổi mới 1986-1990

Bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.Sau Đại hội Đảng lần VI, công cuộc đổi mới đã đạt được những kết quả bước đầu rấtđáng khích lệ, nhất là từ năm 1989.Tuy nhiên,nền kinh tế nước ta vẫn đang ở trong tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế –xã hội:kinh tế phát triển chậm không ổn định;bình quân thời

kì 86-90 tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất nông nghiệp là 3,5%, công nghiệp là

Trang 9

6,2% và tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%,trong khi dân số tăng 2,3% Trong giai đoạnnày hầu hết các cân đối lớn đều căng thẳng:thâm hụt ngân sách ở mức 8% so với GDP,kim nghạch xuất khẩu chỉ đạt ở mức thấp và chỉ bằng 54% kim nghạch nhậpkhẩu(1986,kim nghạch xuất khẩu đạt 499 triệu USD và năm 1990 đạt 1734 triệu USD.Lạm phát phi mã tuy đã được đẩy lùi nhưng vẫn còn rất cao(từ 487,2% năm 1986 còn67,1% năm 1990)

Giai đoạn 1986-1990,mặc dù Đảng và chính phủ đã có nhiều biện pháp đổi mới về cơ chếchính sách và có nhiều giải pháp điều hành mới như :đề ra ba chương trình kinh tếlớn(chương trình lương thực –thực phẩm,chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và chươngtrình sản xuất hàng xuất khẩu), nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5/4/1988) về đổi mớitrong nông nghiệp, quyết định 217/HĐBT trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanhcho doanh nghiệp quốc doanh, luật đầu tư nước ngoài ra đời(12/1987), thả nổi giá cả đốivới tất cả các loại hàng hoá và vật tư, xoá bao cấp qua giá, nhưng đời sống nhân dân vẫncòn gặp nhiều khó khăn, số người không có việc làm ngày càng lớn, chiếm trên 10% lựclượng lao động xã hội…Thu nhập bình quân trên đầu người thấp cộng với lạm phát caonên mức sống thực của người dân đã thấp lại còn thấp hơn Trong giai đoạn 1986-1990,điểm đáng nhớ là hàng hoá sản xuất ra không bán được, hàng hoá tồn đọng, nhiều

cơ sở phải thu hẹp hoặc ngừng sản xuất, tài chính doanh nghiệp rối ren, tình trạng ngănsông cấm chợ vẫn còn diễn ra

Cuối giai đoạn 1986-1990 tình hình kinh tế –xã hội đã có nhiều cải thiện, tổng sản phẩm

xã hội tăng bình quân mỗi năm 4,8%, thu nhập quốc dân bình quân đầu người mỗi nămtăng 3,9%, sản lượng lương thực đã đạt 21,5 triệu tấn,phân phối lưu thông đã có nhữngbước tiến quan trọng, nhu cầu tiêu dùng giả tạo đã giảm đáng kể, hoạt động kinh tế đốingoại có nhiều khởi sắc, tốc độ xuất khẩu có tăng nhanh hơn, các thành phần kinh tếngoài quốc doanh bắt đầu phát triển

3.1.3 Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định(1991-1995)

Bước sang giai đoạn 1991-1995, tình hình kinh tế –xã hội nước ta có nhiều chuyển biếntích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượtqua khủng hoảng để đi vào thế ổn định Tổng sản phẩm trong nước thời kì 1991- 19995tăng bình quân 8,2%(năm 1991 tăng 6%,1992 tăng 8,6%,1993 tăng 8,1%,1994 tăng 8,8%

và 1995 tăng 9,5%), giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm tăng5,2%, sảnlượng lương thực hàng năm tăng 4%, lương thực bình quân đầu người đã tăng liên tục từ324,9kg năm 1991 lên 400kg năm 1998, và từ nước nhập khẩu gạo đến giai đoạn này đã

Trang 10

là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, nhiều nhân tố mới trong nông nghiệp xuấthiện, hình thành nhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi và khoảng 11,5 vạn hộ phát triển kinh

tế trang trại Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 13%, vượtqua nhiều thử thách gay gắt của thị trường, thích nghi dần với cơ chế mới, nhiều sảnphẩm quan trọng tác động quyết định đến nền kinh tế đều tăng trưởng khá Các ngànhdịch vụ phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống củanhân dân Lưu thông vật tư hàng hoá và dịch vụ phát triển phong phú, đáp ứng nhu cầungày càng tăng của xã hội về số lượng, chất lượng và chủng loại đã góp phần tạo nênnhững biến động sâu sắc trên thị trường trong nước Trong giai đoạn 1991-1995, điểmnổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn tất cả các giai đoạn trước đó với tốc độtăng trưởng cao nhất, ổn định và liên tục,tăng trưởng từ bản thân nền kinh tế ít dựa vàobao cấp và trợ lực từ bên ngoài Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng từ 2,9% năm

1991 lên 6,6% năm 1995(năm 1992 tăng 8,4%, 1993 tăng 6,7%,1994 tăng 4,9%).Sảnlượng lương thực đã tăng từ 14,3 triệu tấn giai đoạn 1976- 1980,17 triệu tấn/năm giaiđoạn 1986-1990 lên 25,1 triệu tấn giai đoạn 1991-1995 Thành công trong quá trình đổimới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là bước đầu chặn được lạm phát, chỉ số giá tiêudùng giảm từ 67,1% năm 1990xuống 12,7% năm 1995(năm 1991 tỉ lệ lạm phát là67,5% , năm 1992 là 17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm 1994 là 19,4%, năm 1995 là12,7%).Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng vẫn ở mức hai con số, nhưng đây là một chỉ số rấtnhỏ bé so với các năm trước đó, tình hình kinh tế-xã hội đã có nhiều khởi sắc và đangcàng ngày đi vào thế ổn định và phát triển, đời sống nhân dân đã được cải thiện mộtbước Do vậy, giai đoạn này, tình hình chính trị xã hội đã có nhiều hứng khởi, lòng dânđược khích lệ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hơn

3.1.4 Thời kỳ kinh tế có nhiều dấu hiệu trì trệ(1996-2000)

Bước sang giai đoạn này, tình hình kinh tế –xã hội đã đi vào thế ổn định và phát triển.Đây là giai đoạn được xác định là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới-đẩymạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Năm 1996,kế thừa những thành quả đã đạtđược trong giai đoạn trước, tình hình kinh tế xã hội có những chuyển biến tích cực,đạt tốc

độ tăng trưởng kinh tế khá cao(9,3%) Tuy nhiên khủng hoảng kinh tế khu vực đã có tácđộng không nhỏ đến nền kinh tế nước ta Nền kinh tế nước ta đã phải đối mặt với nhữngthách thức quyết liệt từ những yếu tố không thuận lợi bên ngoài và thiên tai liên tiếp ởtrong nước Bên cạnh đó lại có những yếu kém từ nội tại nền kinh tế bộc lộ ra:Sản xuấtkinh doanh một số nghành có phần bị trì trệ, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, tốc độ tăngthu hút vốn đầu tư nước ngoài chậm lại Trước tình hình đó,Đảng và chính phủ đã cónhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hạn chế sự giảm sút, duy trì và ổn định tốc độ tăng

Trang 11

trưởng kinh tế Tuy nhiên tốc độ tăng GDP theo các năm có giảm chút ít và năm 2000 tốc

độ tăng trưởng kinh tế có tăng lên, chặn được đà giảm sút các năm trước đó(GDP năm

1996 tăng 9,34%, 1997 tăng 8,15%,1998 tăng 5,76%,1999 tăng 4,77%,năm 2000 đạt6,79%) Trong giai đoạn 1996-2000,đã bảo đảm duy trì được nhịp độ tăng trưởng kinh tếkhá ,GDP bình quân tăng 7%/năm,giá trị sản xuất nông,lâm,ngư nghiệp tăng5,8%/năm,giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm,giá trị các nghành dịch vụ tăng6,8%/năm,GDP bình quân đầu người năm 2000 tăng gấp 1,8 lần năm 1990 Trong giaiđoạn này, điều đặc biệt làm chúng ta quan tâm là đi cùng với tốc độ tăng trưởng nền kinh

tế có chiều hướng chững lại và đi xuống thì tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, giảm xuốngmức thấp đáng kể và chuyển sang xu thế thiểu phát Điều này được thể hiện ở chỗ tỷ lệlạm phát năm 1995 là 12,7% thì năm 2000 là một số âm (-0,6%)(năm 1996 tỷ lệ lạm phát

là 4,5%,1997 là 3,6%,1998 là 9%, 1999 là 0,1%) Vào các năm cuối của giai đoạn 2000,tình hình lạm phát có thay đổi,tỷ lệ lạm phát ở mức thấp như không thể thấp hơnđược nữa và nguy cơ thiểu phát đã xuất hịên Đi cùng với chỉ số giá ở mức 0,1% năm

1996-1999 và (-0,6%)năm 2000 là sản xuất trì trệ,các hoạt động kinh doanh có nhiều dấu hiệuđình đốn Chúng ta đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát bảo đảm lạm phát từ 3con số xuống còn 2 con số và giữ nguyên ở mức 1 con số Nhưng kiềm chế được lạmphát thì lại phát sinh vấn đề thiểu phát và từ thiểu phát tốc độ tăng trưởng kinh tế cũnggiảm xuống Như vậy diễn biến tình hình lạm phát và tăng ttrưởng trong giai đoạn 1996-

2000 là không tốt đối với nền kinh tế 4-Thời kỳ kinh tế có bước phát triển mới 2004) Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn 2001-2005,chúng ta đã

(2001-áp dụng nhiều biện ph(2001-áp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ lạm phát lên mộtmức hợp lí và nhằm đạt được tộc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn Với mục tiêu tăngtrưởng kinh tế nhanh , bền vững và ổn định,trong bốn năm vừa qua 2001-2005, nền kinh

tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khả quan:năm 2000 chặn đứng đà giảm sút của tốc

độ tăng trưởng GDP, năm 2001 tốc độ tăng trưởng GDP được cải thiện, bắt đầu tăng vàđạt 6,89%,năm 2002 tốc độ này đạt 7,04%, năm 2003 tăng 7,24% và năm 2004 tăng7,62% Trong bốn năm vừa qua kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao , cơ cấukinh tế đã chuyển dịch theo định hướng công nghiệp hoá, hiên đại hoá, vốn đầu tư vào cơ

sở hạ tầng của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể, đời sông của nhân dân tăng lên rõ rệt,tỷ lệđói nghèo đã giảm đi trông thấy, xã hội đang đi vào thế ổn định và hưng thịnh Mọi mặtcủa đời sống xã hội đã được cải thiện và phát triển Tỷ lệ lạm phát trong các năm tronggiai đoạn này cũng tăng dần lên từ (-0,6%) năm 2000 lên 9,5% năm 2004(năm 2001 chỉ

số giá ở mức 0,8%, 2002 là 4%, năm 2003 là 3%) Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triểnmạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2004 như đã nói ở trên, thì lạm phát lại cónguy cơ tái diễn Năm 2004 tình hình biến động trên thị trường thế giới và biến động trên

Trang 12

thị trường trong nước lạm phát lại như một bóng ma một lần nữa rập rình gây bất ổn nềnkinh tế.

3.1.5 Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2014 đến 2018

Chỉ tiêu Năm

2014

Năm2015

Năm2016

Năm2017

Năm2018

Tên biểu đồ:biểu đồ thể hiện giá trị GDP và CPI của Việt Nam giai đoạn 2014- 2018

Từ bảng số liệu trên và biểu đồ đã vẽ cho thấy: Từ bảng trên cho thấy thực trạng lạmphát của nước ta cao nhất là vào năm 2016, khi mà chỉ số CPI đạt 4,74% rồi giảm dầnvào những năm sau đó Thấp nhất là vào năm 2015, chì số CPI chỉ đạt 0,6%., từ năm

2016 cho đến 2018,Mức lạm phát thấp và duy trì tường đối ổn định (dao động ở khoảng4%)

-Năm 2014: trong nước, do ưu tiên hàng đầu của Chính phủ là ổn định vĩ mô, kiểm soát

lạm phát, kết hợp với các điều kiện tích cực của kinh tế vĩ mô trong năm 2013, lạm phátnăm 2014 của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức thấp, phù hợp với diễn biến chung của xu

Trang 13

thế lạm phát trong khu vực Tính chung cả năm 2014, lạm phát Việt Nam chỉ tăng 1,84%

so với năm 2013, trong đó, giáo dục có mức tăng cao nhất 8,25%, riêng dịch vụ giáo dụctăng 8,96%, các nhóm hàng hoá khác đều có mức tăng khá thấp (khoảng 1 - 2%), riênghai nhóm hàng hoá có tỷ trọng lớn trong CPI là giao thông và nhà ở - vật liệu xây dựng làgiảm giá (giảm 5,57% và 1,95%) Ngoài ra, trong suốt 5 năm qua, chỉ số giá tiêu dùng(CPI) và giá của hầu hết các nhóm hàng trong rổ CPI đều diễn biến cùng xu hướng, chỉriêng nhóm giáo dục - y tế là diễn biến khác với xu thế chung, do ảnh hưởng của lộ trìnhđiều chỉnh giá dịch vụ y tế và giáo dục Tuy nhiên, nếu xét riêng năm 2014, lạm phát đã

có diễn biến khác so với quy luật thông thường, điều này cần lưu ý bởi các yếu tố mangtính bất thường thì không ổn định trong dài hạn và có thể gây nên những tín hiệu khôngchuẩn xác trong điều hành chính sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ, do độ trễ của phảnứng chính sách thường cần thời gian dài để phát huy ảnh hưởng

Như vậy, lạm phát 2014 chỉ đạt khoảng 37% mức lạm phát mục tiêu do Chính phủ đặt ra

Nếu xét theo mức lạm phát bình quân, lạm phát năm 2014 tăng 4,09% so với năm 2013,đạt 80% mục tiêu Dù xét theo chỉ tiêu nào thì đây vẫn là điều đáng mừng bởi lần đầu tiêntrong 10 năm qua, lạm phát tăng thấp hơn tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao chấtlượng đời sống của người dân và giá trị đồng nội tệ, tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhànước (NHNN) nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua giảm lãi suất cho vay trong thời giantới Bên cạnh đó, lạm phát thấp của năm 2014 đã chấm dứt xu thế “2 năm tăng, 1 nămgiảm” kể từ năm 2000, nếu căn cứ vào triển vọng hàng hoá trong thời gian tới, có khảnăng Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ lạm phát tăng thấp hơn tăng trưởng kinh tế

Sau nhiều năm đứng trong nhóm các nước có lạm phát cao nhất thế giới, lạm phát thấptrong năm 2014 đã đưa Việt Nam vào vị trí thứ 58 trong bảng xếp hạng lạm phát toàn thếgiới (theo thứ tự từ thấp đến cao), đây là mức xếp hạng tích cực nhất trong vòng 13 nămqua

-Năm 2015: Tổng cục thống kê tổng kết lạm phát năm 2015 có mức tăng tương đối thấp

so với 14 năm trở lại đây

-Năm 2016: được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá

một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng nhờ lạm phát thấp nên Nhà nước vẫn có dư

Trang 14

địa điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2016 tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước (lạm phátsau khi loại trừ giá lương thực-thực phẩm, giá năng lượng và giá các mặt hàng doNhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tăng nhẹ so với mức

Một thước đo khác là lạm phát GDP cũng chỉ ở mức 1,1% (cao hơn so với mức 0,2% trong năm 2015), bởi năm 2016 trong khi GDP thực tăng 6,2%, thì GDPdanh nghĩa cũng chỉ tăng 7,3% (từ 4192 nghìn tỷ đồng lên 4502 nghìn tỷ đồng).Như vậy, có thể thấy rằng, nếu loại trừ các yếu tố làm tăng giá mang tính ngắnhạn, lạm phát của Việt Nam chỉ vào khoảng 1-2% và là mức tương đối thấp Hơnnữa, mức lạm phát thấp này đã được duy trì tương đối ổn định kể từ giữa năm

Ngày đăng: 11/04/2020, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w