Người quảng cáo sẽ bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ đối với vi phạm của mình.4Thứ hai, Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Đề tài: Quy định của pháp luật Việt Nam về quảng
cáo trên truyền hình
GVHD: ThS Nguyễn Thị Phương Thảo
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2016
Trang 2HÌNH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH DỊCH VỤ QUẢNG CÁO TRÊN
TRUYỀN HÌNH 1
1.1 Tổng quan về hoạt động quảng cáo trên truyền hình 1
1.1.1 Khái niệm quảng cáo trên truyền hình 1
1.1.2 Chủ thể trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình 1
1.1.3 So sánh hình thức quảng cáo trên truyền hình và hình thức quảng cáo khác 4
1.2 Những quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam 7
1.2.1 Định nghĩa hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình 7
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình 7
1.3 Một số quy định pháp luật khác về quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam 9
1.3.1 Quy định về thời điểm phát quảng cáo trên truyền hình 9
1.3.2 Quy định về thời lượng phát quảng cáo trên truyền hình 9
1.3.3 Quy định về nội dung quảng cáo trên truyền hình 10
1.3.4 Quy định về hình thức quảng cáo trên truyền hình 13
1.4 Pháp luật về thẩm quyền quản lý Nhà nước trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình 14
1.5 Pháp luật một số quốc gia về dịch vụ quảng cáo trên truyền hình 15
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM 17
2.1 Thực trạng của quảng cáo trên truyền hình của Việt Nam trong những năm qua 17
2.1.1 Những thành công đã đạt được 17
2.1.2 Những bất cập của quảng cáo trên truyền hình 19
2.2 Thực trạng và giải pháp 22
Trang 3MỞ BÀI
Trong những chương trình phát sóng của đài truyền hình, chúng ta đã quá quen thuộc của những chương trình quảng cáo cho các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Các quảng cáo trên truyền hình đã đem lại cho người tiêu dùng nhiều thông tin về sản phẩm từ đó giúp người tiêu dùng đưa ra những sự lựa chọn đúng đắn Nhưng bên cạnh đó, hoạt động quảng cáo trên truyền hình đã có những biến tướng mà pháp luật chưa điều chỉnh đến Chính vì những lỗ hổng ấy, đã tạo điều kiện cho thương nhân “lách luật”, xâm phạm đến một số lợi ích mà pháp luật bảo vệ
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động quảng cáo truyền hình nói riêng và quảng cáo thương mại nói chung cùng với những thiếu sót cần phải điều chỉnh trong hoạt động này, chúng tôi đã thực hiện đền tài “ Quy định về pháp luật Việt Nam về quảng cáo trên truyền hình”
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH DỊCH VỤ QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH
1.1 Tổng quan về hoạt động quảng cáo trên truyền hình
1.1.1 Khái niệm quảng cáo trên truyền hình
Hiện nay quảng cáo là một hoạt động hết sức phổ biến Quảng cáo là một trong những hoạt động giúp cho doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng một cách dễ dàng và nhanh chóng nhất Một trong những phương tiện quảng cáo đó là truyền hình Ngày nay quảng cáo trên truyền hình rất phổ biến do tính phổ cập rộng và đối tượng tác động tới nhiều Vì vậy mà doanh nghiệp dành không ít chi phí cho hoạt động này Vì hoạt động quảng cáo trên truyền hình là một hình thức quảng cáo vì vậy quảng cáo trên truyền hình có những đặc điểm, tính chất; phải tuân theo những quy định pháp luật của quảng cáo nói chung và của riêng loại hình này
Dựa trên quy định tại Điều 102 Luật thương mại 2005 và tại Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012, có thể hiểu quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình cũng thể hiện những thông điệp quảng cáo nhất định.1
1.1.2 Chủ thể trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình
Chủ thể của hoạt động quảng cáo trên truyền hình giống chủ thể của hoạt động quảng cáo Trong hoạt động quảng cáo các chủ thể tham gia là người có sản phẩm quảng cáo, người cung cấp dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo (trong nhiều trường hợp người quảng cáo có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm quảng cáo, người tiếp nhận quảng cáo
1 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/ ,
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-ngày truy cập: 20/10/2016
Trang 5Theo Luật Quảng cáo 2012 thì người quảng cáo có thể là bất kì cá nhân, tổ chức nào có nhu cầu, tuy nhiên trong Luật thương mại 2005 thì chỉ có những chủ thể được quy định trong Điều 103 và cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh quy định tại Khoản 3, Điều 2 Luật Thương mại2
mới được thực hiện quảng cáo, do Luật thương mại điều chỉnh hoạt động quảng cáo nhằm mục đích sinh lợi Vì vậy, chúng ta cần chú ý là phải xem xét tất cả các văn bản pháp luật có liên quan để không bị
vi phạm pháp luật
Thứ nhất, Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó.3
Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo được quy định tại Điều 12, Luật quảng cáo 2012 Ngoài ra nếu hoạt động quảng cáo nhằm mục đích sinh lợi thì người quảng cáo
sẽ có quyền và nghĩa vụ khi thuê người kinh doanh dịch vụ quảng cáo được quy định tại Điều 111, 112 Luật thương mại 2005
Căn cứ theo những quy định trên thì người quảng cáo hay còn gọi là bên thuê quảng cáo có nghĩa vụ cung cấp thông tin cụ thể, chính xác, cần thiết, trung thực về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình cho bên cung ứng dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo Nếu người quảng cáo trực tiếp tạo ra sản phẩm quảng cáo thì phải chịu trách nhiệm đối với chính sản phẩm đó và phải liên đới chịu trách nhiệm đối với sản phẩm quảng cáo mà bên cung ứng dịch vụ quảng cáo làm ra Pháp luật quy định như vậy để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, do người tiêu dùng thì sẽ khó có thể xác định được ai là chủ thể vi phạm; còn đối với cơ quan nhà nước cũng như vậy “ nắm
kẻ có tóc chứ không ai nắm kẻ trọc đầu”, cơ quan nhà nước ra quyết định xử lý đối với chủ thể cung ứng dịch vụ tuy nhiêm chủ thể này không có khả năng để thực hiện hình phạt thì người quảng cáo cũng phải liên đới chịu trách nhiệm, sau đó hai chủ thể này sẽ tự tính toán với nhau Vì vậy mới có quy định về quyền của người quảng cáo: kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo, quy định này tăng tính trách nhiệm
2 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương
mại, Điều 2, Khoản 3
3 Luật Quảng cáo 2012, Điều 2, Khoản 5
Trang 6cho người quảng cáo Người quảng cáo sẽ bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ đối với vi phạm của mình.4
Thứ hai, Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch
vụ quảng cáo với người quảng cáo.5
Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải là thương nhân, hoạt động theo đúng phạm vi, lĩnh vực đã được quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định của pháp luật về quảng cáo.6
Người cung cấp dịch vụ quảng cáo có quyền yêu cầu cung cấp thông tin cần thiết, chính xác, nhận thù lao…; bên cạnh những quyền đó đi kèm là những nghĩa vụ mà bên cung cấp dịch vụ quảng cáo phải chịu: kiểm tra thông tin, chịu trách nhiệm trước những sản phẩm mà do chính mình trực tiếp sản xuất…7 Cũng như người quảng cáo, người cung ứng dịch vụ quảng cáo cũng sẽ bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ đối với vi phạm của mình.8
Người phát hành quảng cáo là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáo
thuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, chủ trang thông tin điện tử, người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác.9
Cũng như hai chủ thể nêu trên thì người phát hành quảng cáo có những quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 14 Luật Quảng cáo 2012 và Điều 116 Luật Thương mại 2005; cụ thể người phát hành quảng cáo có nghĩa vụ kiểm tra các tài liệu liên quan đến
4
Luật Quảng cáo 2012, Điều 11;
Nghị định 159/2013/NĐ-CP, Quy định xử phạt hành chính trong hoạt động báo trí, xuất bản;
Luật Hình sự 2015, Điều 197
5 Luật Quảng cáo 2012, Điều 2, Khoản 6
6
Luật Quảng cáo 2012, Điều 10, Khoản 1
7 Luật Quảng cáo 2012, Điều 13;
Luật Thương mại 2005, Điều 113,114
8
Luật Quảng cáo 2012, Điều 11;
Nghị định 159/2013/NĐ-CP, Quy định xử phạt hành chính trong hoạt động báo trí, xuất bản;
Luật Hình sự 2015, Điều 197
9 Luật Quảng cáo 2012, Điều 2, Khoản 7
Trang 7điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo Nếu vi phạm pháp luật có thể bị xử phạt hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.10
Người tiếp nhận quảng cáo là người tiếp nhận thông tin từ sản phẩm quảng cáo
thông qua phương tiện quảng cáo.11
1.1.3 So sánh hình thức quảng cáo trên truyền hình và hình thức quảng cáo khác
Quảng cáo trên truyền hình là một trong những hình thức quảng cáo phổ biến hiện nay Quảng cáo trên truyền hình có một số điểm khác biệt so với các hình thức khác:
Thứ nhất, quảng cáo trên truyền hình có phương thức cung cấp thông tin đặc biệt:
Nếu như quảng cáo trên báo tạp chí, pano, áp phích thông tin được thể hiện ở hình ảnh, chủ yếu chỉ tác động tới thị giác của người xem, không thể truyền tải hết sự sống động cũng như toàn bộ đặc điểm của sản phẩm Quảng cáo trên đài phát thanh được thể hiện qua âm thanh, mà việc truyền thanh chỉ có thể tác động vào thính giác của người nghe nên hạn chế về nội dung cần quảng cáo và hiệu quả gây sự chú ý Thì quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh cộng thêm cử động, các kĩ xảo riêng truyền hình, mang đến cho người xem sự sống động, hiện thực của việc xảy ra trước mặt
do đó tạo sự chú ý, cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả cung cấp cho khán giả được nhiều thông tin hơn Đó là điều mà các phương tiện quảng cáo khác không làm được.12
Thứ hai, cách thức truyền tải thông tin đến người tiếp nhận quảng cáo trên truyền
hình Người tiếp nhận thông tin trên quảng cáo truyền hình thường bị động khi tiếp nhận thông tin Tính bị động của người tiếp nhận thông tin thể hiện ở chỗ, trong quảng cáo truyền hình người xem không được lựa chọn về thời điểm xem, nội dung xem, thời lượng
10 Luật Quảng cáo 2012, Điều 11;
Nghị định 159/2013/NĐ-CP, Quy định xử phạt hành chính trong hoạt động báo trí, xuất bản;
Luật Hình sự 2015, Điều 197
11 Luật quảng cáo 2012, Điều 2, Khoản 9
12 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/;
ngày truy cập: 20/10/2016
Trang 8xem cũng như có xem hay không quảng cáo Đối với những kênh truyền hình chuyên quảng cáo thì người xem truyền hình cũng chỉ có thể chủ động trong việc lựa chọn có xem quảng cáo hay không chứ không thể lựa chọn nội dung quảng cáo Thực tế cho thấy, nếu như đang xem một chương trình nào đó và bị quảng cáo xen vào thì người xem có hai sự lựa chọn một là xem tiếp đợi hết quảng cáo, hai là chuyển kênh; tuy nhiên việc chuyển sang một kênh khác cũng vẫn có thể gặp các quảng cáo khác Không chỉ vậy, nếu như người xem truyền hình có thích xem một chương trình quảng cáo nào cũng không thể lựa chọn sẽ xem khi nào, vì việc phát sóng truyền hình hoàn toàn theo chương trình của đài truyền hình Kể cả khi lên khung chương trình hay lịch phát sóng được đăng tải trên tạp chí truyền hình …cũng không có mục nào thể hiện thời điểm phát sóng quảng cáo và các sản phẩm sẽ được quảng cáo Trong khi đó, nếu như xem quảng cáo trên một tạp chí, hay internet cùng như quảng cáo khác người đọc có thể chọn quảng cáo bắt mắt
mà mình thích để xem hoặc có thể bỏ qua luôn mục quảng cáo để xem mục khác.13
Thứ ba, quảng cáo truyền hình có tính xã hội hóa cao: Có thể nói, so với các loại
hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình có số lượng người tiếp cận thông tin nhiều nhất Nói chung, truyền hình hầu như không có tính chọn lọc khán giả như những phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí hay có thời lượng quảng cáo nhiều như Internet 24/24 giờ, người tiếp cận sản phẩm quảng cáo không cần bắt buộc phải đạt trình độ văn hoá nào đó như các loại hình quảng cáo khác, ngay cả những đứa trẻ vẫn có thể tiếp nhận, nghe và hiểu những thông tin được truyền tải thông qua các sản phẩm quảng cáo được phát sóng trên đài truyền hình Cho nên quảng cáo trên truyền hình chiếm được lượng khán giả theo dõi nhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thông Do truyền hình thuộc về mọi người, và nhất là ở Việt Nam các kênh truyền hình phổ biến chủ yếu là kênh truyền hình miễn phí số lượng người xem đài truyền hình là rất lớn, thuộc mọi tầng lớp đối tượng, vùng miền Trong khi đó các loại hình quảng cáo khác lại có sự giới hạn về đối tượng tiếp nhận, như quảng cáo trên báo chí, ấn phẩm người tiếp nhận cần có khả năng đọc và hiểu thông tin, còn đối với quảng cáo trên internet thì ngoài
13 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/ ; ngày truy cập: 20/10/2016
Trang 9yêu cầu có khả năng đọc và tiếp nhận thông tin cần có kỹ năng sử dụng internet, có các điều kiện để tiếp cận (như máy tính, cáp internet…).14
Thứ tư, thông điệp trên quảng cáo trên truyền hính có tính tập thể cao hơn các
loại thông điệp quảng cáo khác, điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi chúng ta tiếp nhận các sản phẩm quảng cáo trên các loại hình quảng cáo khác nhau Nếu như đối với quảng cáo trên truyền hình, một sản phẩm quảng cáo được phát trên truyền hình có thể có nhiều người cùng một lúc cùng xem sản phẩm quảng cáo đó trên cùng một cái tivi thì đối với các loại hình quảng cáo khác thì việc nhiều người cùng xem một quảng cáo với nhau thường rất khó xảy ra, chẳng hạn khi đọc một tờ báo, rất ít khi có năm bảy người cùng ngồi để đọc chung một thông điệp quảng cáo trên tờ báo đó như đối với việc tiếp nhận thông điệp quảng cáo trên truyền hình Hơn nữa, việc nhiều người cùng tiếp nhận thông điệp quảng cáo như quảng cáo truyền hình còn tăng khả năng trao đổi thông tin về thông điệp quảng cáo thể hiện trong sản phẩm quảng cáo, giúp cho các thông điệp quảng cáo đem lại hiệu quả cao hơn.15
Thứ năm, chủ thể tham gia quảng cáo truyền hình: Có thể nói quảng cáo trên
truyền hình chính là một hoạt động kinh doanh, trong đó đài truyền hình là một trong các chủ thể của hoạt động quảng cáo chứ không phải là một phương tiện quảng cáo thông thường Điều này có thể lý giải trong việc phân tích quan hệ quảng cáo, có sự tham gia của 3 loại chủ thể: người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo Với những cách thức quảng cáo trên pano, ấn phẩm báo chí…thì người phát hành quảng cáo là tổ chức cá nhân đưa sản phẩm quảng cáo đến người tiêu dùng, bao gồm, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, tổ chức quảng lý mạng lưới thông tin, máy tính,
14 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/;
ngày truy cập 20/10/2016
15 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/;
ngày truy cập 20/10/2016
Trang 10người tổ chức chương trình văn hóa thể thao, hội chợ, triển lãm… 16 Nhưng trong quảng cáo truyền hình, đài truyền hình chính là người phát hành quảng cáo.17
1.2 Những quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam
1.2.1 Định nghĩa hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình
Theo Điều 6 Luật Quảng cáo 2012 thì “Việc hợp tác giữa các chủ thể trong hoạt động quảng cáo phải thông qua hợp đồng dịch vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật.” Vậy hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình là một loại hợp đồng dịch vụ phát sinh giữa bên thuê quảng cáo và bên cung ứng dịch vụ quảng cáo, đối tượng của hợp đồng này là việc quảng cáo trên truyền hình nhằm xúc tiến thương mại cho bên thuê dịch
vụ
Điều 518 Bộ luật Dân sự 2005 đã nêu khái niệm về “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”
Dựa vào đó, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình như sau: “Hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện việc quảng cáo trên truyền hình cho
bên thuê dịch vụ, và được hưởng thù lao từ bên thuê dịch vụ.”
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình
Đầu tiên, hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình phải đáp ứng các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng cung ứng dịch vụ nói chung là:
Đối tượng của hợp đồng: là những công việc mà bên cung ứng phải thực hiện
cho bên sử dụng
16 Luật quảng cáo 2012, Điều 2, Khoản 7
17 Nguyễn Thị Hồng Nhung-Lương Thị Hồng Nhung; Tóm tắt đề tài:“Quảng cáo truyền hình-thực trạng và
cơ chế hoàn thiện”;
nguồn:https://luatsuhip.wordpress.com/2012/02/26/qu%E1%BA%A3ng-cao-truy%E1%BB%81n-hinh-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-va-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hoan-thi%E1%BB%87n/;
ngày truy cập 20/10/2016
Trang 11Nội dung của hợp đồng: là các điều khoản do các bên tự do thỏa thuận nhưng
không được trái với quy định của pháp luật và vi phạm đạo đức xã hội
Mục đích của bên cung ứng dịch vụ: được hưởng thù lao từ bên sử dụng dịch vụ
Ngoài ra, hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình có những đặc điểm riêng như sau:
Chủ thể thực hiện: Trong quan hệ quảng cáo trên truyền hình, bên sử dụng dịch
vụ (người quảng cáo) là thương nhân; bên cung ứng dịch vụ có thể là thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên truyền hình hoặc là đài truyền hình – đơn vị sự nghiệp có thu của Nhà nước có chức năng kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên truyền hình Tương tự các hợp đồng thương mại khác, điều khoản về chủ thể của hợp đồng quảng cáo trên truyền hình thường bao gồm hai bên: bên A – bên cung ứng dịch vụ, bên B – bên sử dụng dịch vụ Điều khoản này thường ghi nhận: tên, địa chỉ, điện thoại, fax, số tài khoản, mã
số thuế, đại diện pháp luật của các bên
Nội dung của hợp đồng: Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định về
những điều khoản nội dung bắt buộc của hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình
Vì thế, mọi điều khoản trong hợp đồng đều hình thành từ sự thỏa thuận thống nhất giữa các bên
Hình thức của hợp đồng: Điều 110 Luật thương mại 2005 đã quy định: “Hợp
đồng dịch vụ quảng cáo thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.18
Pháp luật quy định hợp đồng dịch vụ quảng cáo trên truyền hình phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức có giá trị pháp lý tương đương nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết kinh doanh và nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại giao dịch kinh doanh, quyền và nghĩa vụ các bên, đảm bảo cho hợp đồng
được thực hiện và thực hiện đúng tiến độ, đúng pháp luật
18 Luật Thương mại 2005, Điều 3, Khoản 15
Trang 121.3 Một số quy định pháp luật khác về quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam
1.3.1 Quy định về thời điểm phát quảng cáo trên truyền hình
Quy định của pháp luật phải điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên truyền hình đạt đến hai tiêu chí: vừa thuận lợi cho việc theo dõi các chương trình truyền hình của người xem vừa đáp ứng nhu cầu quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nhân Ví dụ : Quảng cáo trên truyền hình không được xen kẽ trong các chương trình thời sự, chương trình truyền hình trực tiếp về các sự kiện chính trị đặc biệt, kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc (khoản 3, điều 22 Luật Quảng cáo 2012)
1.3.2 Quy định về thời lƣợng phát quảng cáo trên truyền hình
Khoản 10, Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 đã quy định: “Thời lượng quảng cáo là thời gian phát sóng các sản phẩm quảng cáo trong một kênh, chương trình phát thanh, truyền hình; thời gian quảng cáo trong tổng thời gian của một chương trình văn hoá, thể thao; thời gian quảng cáo trong một bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác.”
Với thời lượng phát sóng quảng cáo của một kênh truyền hình, Luật Quảng cáo
2012 đã có một bước tiến mới khi quy định sự khác nhau về thời lượng quảng cáo trong kênh truyền hình quảng bá và kênh truyền hình trả tiền Theo đó, thời lượng quảng cáo trên báo hình không được vượt quá 10% tổng thời lượng chương trình phát sóng một ngày của một tổ chức phát sóng, trừ thời lượng quảng cáo trên kênh, chương trình chuyên quảng cáo Trong khi đó, thời lượng quảng cáo trên kênh truyền hình trả tiền không vượt quá 5% tổng thời lượng chương trình phát sóng một ngày của một tổ chức phát sóng, trừ kênh, chương trình chuyên quảng cáo.19
Trang 13chương trình vui chơi giải trí không được ngắt để quảng cáo quá bốn lần, mỗi lần không quá 05 phút.”20
Quy định này bắt nguồn từ thực tế là các chương trình phim truyện, chương trình vui chơi giải trí trên truyền hình là những chương trình có lượng người theo dõi đông nhất Mức độ thu hút khán giả kéo theo sức hấp dẫn các doanh nghiệp Doanh nghiệp nào cũng muốn được quảng cáo trong những chương trình này Do đó, đứng trước lợi nhuận, các đài truyền hình rất dễ rơi vào tình trạng lạm dụng quảng cáo Để hạn chế việc đó, pháp luật đã quy định giới hạn số lần ngắt để quảng cáo trong các chương trình, tránh tình trạng chia nhỏ chương trình, khiến chương trình rời rạc, gây khó chịu cho người xem
1.3.3 Quy định về nội dung quảng cáo trên truyền hình
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng về quảng cáo trên truyền hình mà nó được rút ra từ quy định chung áp dụng cho tất cả các loại hình quảng cáo Nội dung quảng cáo trên truyền hình phải đáp ứng những điều kiện, chuẩn mực chung, tương
tự như quảng cáo trên các phương tiện khác
Thứ nhất, nội dung quảng cáo trên truyền hình phải đảm bảo tính trung thực,
chính xác, rõ ràng (Khoản 1 Điều 19 Luật Quảng cáo 2012)
Quảng cáo trên truyền hình là cách thức xúc tiến thương mại vô cùng hiệu quả bởi sức lan tỏa truyền thông mạnh mẽ Để đảm bảo tính trung thực, chính xác của sản
phẩm quảng cáo, Nhà nước đã đặt ra những điều kiện đối với quảng cáo như sau: (i) Chỉ
có thương nhân mới được cung cấp dịch vụ quảng cáo trên truyền hình; (ii) Quảng cáo
cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải có các tài liệu chứng minh về sự hợp
chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật; (iii) Quảng
cáo tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản; (iv)
Quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt như thuốc, mỹ phẩm, hóa chất diệt côn trùng, sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, dịch vụ khám chữa bệnh, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, trang thiết bị y tế, phân bón, chế phẩm sinh học, thuốc thú y, thuốc
20 Luật Quảng cáo 2012, Điều 22, Khoản 4
Trang 14bảo vệ thực vật… phải có các giấy chứng nhận chất lượng hoặc giấy phép lưu hành của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
Để đảm bảo sự trung thực, chính xác, rõ ràng thì pháp luật quảng cáo còn cấm
“Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng
ký hoặc đã được công bố.” (Khoản 9 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012)
Tư tưởng này cũng được quy định tại khoản 7 điều 109 Luật thương mại 2005 và khoản 3 điều 45 Luật cạnh tranh nhằm loại trừ hành vi quảng cáo sai sự thật, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Đây cũng là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, gây ảnh hưởng xấu đến tính minh bạch của môi trường kinh doanh Quảng cáo gian dối đã vi phạm nguyên tắc trung thực một trong những nguyên tắc cơ bản của thương mại Với những thông tin sai lệch, khách hàng là người phải chịu thiệt hại đầu tiên, sau
đó các đối thủ cạnh tranh cũng bị mất thị phần một cách không chính đáng
Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng của sản phẩm quảng cáo trên truyền
hình, Luật Quảng cáo 2012 còn quy định cấm: “Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ
“nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.”
Thứ hai, quảng cáo trên truyền hình không được gây thiệt hại cho người sản xuất
kinh doanh
Quảng cáo là một hoạt động xúc tiến thương mại cho thương nhân Nó không chỉ giúp doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đến công chúng mà còn lôi kéo, định hướng cách tiêu dùng của khán giả Chính vì thế, nếu người quảng cáo đưa ra các thông tin dễ gây nhầm lẫn có thể ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Do đó, pháp luật hiện hành đã có những quy định trong Luật Quảng cáo, Luật thương mại, Luật cạnh tranh để đảm bảo quảng cáo trên truyền hình không trở thành công cụ chơi xấu nhau trên thương trường
Trang 15Khoản 12 điều 8 Luật Quảng cáo 2012 và khoản 9 điều 109 Luật thương mại
2005 đã cấm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật Điều 45 Luật cạnh tranh 2004 cũng nêu ra những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như: (i) So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; (ii) Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; (iii) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây: Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; Cách thức sử dụng, phương thức phục
vụ, thời hạn bảo hành; Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác (iv) Dùng các quảng cáo pháp luật cấm nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Thứ ba, quảng cáo trên truyền hình không được gây thiệt hại đến người tiếp nhận
quảng cáo
Người tiếp nhận quảng cáo là chủ thể chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ quảng cáo trên truyền hình Vì vậy, Nhà nước quy định chặt chẽ những điều kiện của quảng cáo nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khán giả Trong đó, pháp luật nghiêm cấm những quảng cáo có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của người xem, đặc biệt là trẻ nhỏ
Thứ tư, quảng cáo trên truyền hình không được gây thiệt hại đến lợi ích của cá
nhân, tổ chức
Quảng cáo là một hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo cao nhưng không được ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác của các cá nhân, tổ chức Vì vậy, để loại trừ những hành vi trên, pháp luật quảng cáo cấm: (i) Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân; (ii) Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép; (iii) Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
Thứ năm, quảng cáo trên truyền hình không được gây ảnh hưởng tiêu cực hay
làm phương hại đến xã hội, dân tộc, quốc gia
Trang 16Quảng cáo là một hoạt động có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn đến mọi lĩnh vực trong xã hội Với tính chất truyền thông nhanh, phạm vi phổ biến rộng khắp, quảng cáo trên truyền hình trở thành một hoạt động hết sức nhạy cảm Do đó, Điều 8, Luật Quảng cáo cấm những hành vi sau: (i) Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng; (ii) Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam; (iii) Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội; (iv) Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng
kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; (v) Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật
1.3.4 Quy định về hình thức quảng cáo trên truyền hình
Ngoài nội dung, hình thức là yếu tố thiết yếu thứ hai cấu tạo nên sản phẩm quảng cáo trên truyền hình Do đặc thù của truyền hình, quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng này cũng có nhiều công cụ để thể hiện hơn so với các phương tiện quảng cáo khác Trong đó, chúng ta có thể kể đến các công cụ tiêu biểu như: âm thanh, hình ảnh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng…Mặc dù quảng cáo trên truyền hình rất đa dạng về cách thức thể hiện nhưng những quy định pháp luật về hình thức quảng cáo lại rất ít ỏi Trong Luật Quảng cáo 2012 chỉ có điều 18 quy định về tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng Theo đó, quảng cáo trên truyền hình phải được thể hiện bằng tiếng Việt, trừ những trường hợp như: (i) Nhãn hiệu hàng hoá, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hoá không thể thay thế bằng tiếng Việt; (ii) Chương trình truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
Trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khi phát trên đài truyền hình, phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài
Nếu quảng cáo bằng hình thức chạy chữ hoặc một chuỗi hình ảnh chuyển động thì sản phẩm quảng cáo phải được thể hiện sát phía dưới màn hình, không quá 10% chiều cao màn hình