Cõi vĩnh hằng ở đây chính là ‘thế giới bên kia’ - thế giới mà người chết hoặc linh hồn của họ sẽ tồn tại vĩnh viễn sau khi chết, chúng tôi tạm dùng một thuật ngữ chung là âm giới.3 Do mỗ
Trang 1Âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người Mường1
(Nguồn: Đinh Hồng Hải, “Âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người Mường,” Tạp chí Văn hóa dân gian số 2, 2013 ISSN: 0866-7284)
Cùng với các nghi lễ và hoạt động có liên quan đến vòng đời người như sinh
đẻ, trưởng thành, kết hôn, tang ma là một trong những hoạt động có tính lễ nghi quan trọng nhất trong cuộc đời một con người Do tính chất đặc biệt quan trọng của
nó, tang ma đã trở thành một phần không thể thiếu trong các nghi lễ vòng đời người của các tộc người ở khắp nơi trên thế giới Tang ma là nghi lễ mà những người thân và cộng đồng tiễn đưa người quá cố (hay linh hồn của họ) đi đến cõi vĩnh hằng Theo
Accurate and Reliable Dictionary,2 tang ma (funeral) có các nghĩa chính như sau: 1 Các nghi lễ trang trọng được sử dụng trong việc ứng xử với người chết dưới các hình thức mai táng như chôn cất, hoả táng hoặc những hình thức khác, là một dạng nghi lễ tưởng niệm trọng thể 2 Tiến trình tham dự vào nghi lễ mai táng người chết thông qua một số loại hình diễn xướng dành cho tang lễ 3 Bài cúng/điếu văn trong tang lễ
(sermon) Loại nghi lễ này hết sức phức tạp và có sự khác biệt rất lớn ở mỗi nền văn hoá, mỗi tôn giáo, mỗi tộc người, tuỳ thuộc quan niệm của họ vào cõi vĩnh hằng Cõi vĩnh hằng ở đây chính là ‘thế giới bên kia’ - thế giới mà người chết hoặc linh hồn của họ sẽ tồn tại vĩnh viễn sau khi chết, chúng tôi tạm dùng một thuật ngữ chung là
âm giới.3
Do mỗi tộc người, mỗi tôn giáo hay mỗi nền văn hoá có một cách thể hiện riêng đối với tang ma, phụ thuộc vào quan niệm văn hoá của chủ thể, nên quan niệm
về âm giới cũng hết sức khác biệt Chẳng hạn, những người phương Tây tin vào Thiên chúa cầu mong sau khi chết linh hồn của họ sẽ được lên Thiên đàng và được sống bên cạnh Đức Chúa Giê-su (về bên Chúa) Trong khi, những người dân châu Á theo Phật giáo mong muốn được lên cõi Niết bàn của Đức Phật, hoặc được đầu thai (theo quan
niệm luân hồi) vào các pháp giới tốt đẹp như cõi Phật, cõi Trời, cõi Người, tránh bị
đày đoạ ở cõi Atula, Ngạ quỷ, Súc sinh hay Địa ngục Những người Hồi giáo Ả Rập lại mong sau khi chết được về bên thánh Ala của họ, Có thể nói âm giới là một thế giới mang tính biểu tượng và sự thể hiện âm giới thông qua tang lễ cũng được tạo nên bằng vô số những biểu tượng Tính biểu tượng ở đây được mô phỏng bằng chính quan niệm và hoạt động sống của chủ thể văn hoá Vì vậy, muốn tìm hiểu về tang ma hay quan niệm về âm giới ở mỗi nền văn hoá hay ở mỗi tộc người cần phải xét đến quan
niệm về vũ trụ luận (cosmology) của tộc người hay của nền văn hoá đó. 4
Bỏ qua những ý nghĩa được sử dụng cho khoa học tự nhiên, chúng tôi sẽ tập
trung vào ý nghĩa xã hội của thuật ngữ vũ trụ luận, đặc biệt là vai trò của nó trong tôn
1 Bài viết này được thực hiện trên cơ sở đề tài khoa học do Quỹ khoa học & công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ, nhân đây tác giả xin chân thành cảm ơn.
2 Accurate and Reliable Dictionary tạm dịch là Từ điển Chính xác và Tin cậy Một từ điển trực tuyến có
uy tín http://ardictionary.com/Funeral/7005
3 Xem thêm: Đinh Hồng Hải, Âm giới và Thập điện Diêm vương trong văn hoá Việt Nam, Tạp chí văn
hoá dân gian số 5, 2005.
4 Theo Từ điển Merriam Webster vũ trụ luận là:
1- a)Một nhánh của lý thuyết siêu hình có mối liên hệ với bản chất tự nhiên của vũ trụ; b) Một lý thuyết hay học thuyết mô tả sự sắp đặt tự nhiên của vũ trụ 2- Một nhánh của thiên văn học có mối liên hệ với nguồn gốc, cấu trúc, và các mối quan hệ thời-không gian của vũ trụ http://www.merriam-webster.com/dictionary/cosmology
Còn theo Bách khoa thư Triết học của Đại học Standford thì vũ trụ luận là “những cố gắng của con
người trong việc tìm hiểu ý nghĩa về vũ trụ với các học thuyết về vũ trụ Hơn thế, quan niệm về thần linh cũng thường đóng vai trò trung tâm trong các học thuyết về vũ trụ.” http://plato.stanford.edu/search/searcher.py?query=religious+cosmology
Trang 2giáo, tín ngưỡng Theo đó, vũ trụ luận là quan niệm và cách lý giải của con người về
vũ trụ Do quan niệm về vũ trụ luận ở mỗi nền văn hoá, mỗi tộc người hết sức khác biệt và cũng hết sức phức tạp nên chúng ta không thể thống kê một cách đầy đủ Vì vậy, chúng ta chỉ có thể đi sâu tìm hiểu từng trường hợp Trong nội dung bài viết này, chúng tôi xin được đi sâu tìm hiểu những quan niệm về vũ trụ luận của người Mường, trong mối quan hệ với khái niệm âm giới đã đề cập ở trên, được thể hiện trong tang
ma của họ Qua đó tìm hiểu tính biểu tượng trong vũ trụ luận của người Mường trong mối quan hệ với văn hoá Mường nói chung và những hành vi ứng xử mang tính biểu tượng đối với người đã khuất thông qua tang lễ nói riêng
Âm giới là một quan niệm tồn tại trong hầu hết các nền văn hóa từ cổ đại, trung đại, cận đại đến hiện đại Đây không chỉ là một quan niệm về sự sống và cái chết, giữa cái còn và cái mất, giữa thể xác và linh hồn mà nó còn phản ánh nhân sinh quan, vũ trụ quan trong đời sống tinh thần của con người Xa hơn, nó còn thể hiện nét đặc trưng của mỗi nền văn hóa Đây là một dạng biểu hiện đặc biệt của các hoạt động tinh thần chỉ tồn tại trong đời sống của con người Con người ở nhiều nền văn minh trên thế giới đã biểu tượng hóa, hệ thống hóa và khái quát hóa toàn bộ dương gian và
âm giới của họ thành một vũ trụ với 3 tầng: Tầng trên cùng là nơi tồn tại vĩnh viễn của những con người "chết đẹp" với những vị thần của họ Nơi này thường được gọi bằng
những cái tên hết sức đẹp đẽ như thiên đường, cõi niết bàn, chốn cực lạc, Tầng thứ
hai là nơi con người đang sống Tầng này được xem như "nơi trung chuyển đời sống thực"6 của con người để đi lên thiên đường hay xuống địa ngục Vì vậy, kết quả của những việc làm trong thực tại sẽ tạo hệ quả cho “đời sống vĩnh hằng” của họ ở thiên đường hay địa ngục trong tương lai
Trong lịch sử Việt Nam, tín ngưỡng về âm giới tồn tại trong văn hoá dân gian
các tộc người qua những biểu hiện của một vũ trụ quan 3 tầng: trời - người - địa ngục hoặc hai thế giới: Âm giới và dương thế Sau khi tiếp nhận văn hoá Trung Hoa với sự
thâm nhập mạnh mẽ của Đạo giáo, tín ngưỡng âm giới của người Việt được chia làm
ba hướng phát triển riêng biệt:
1 - Hướng cung đình hoá (thờ trời - tế giao Dạng tín ngưỡng này do nhà
vua và triều đình độc chiếm);
2 - Hướng tôn giáo hoá (theo mô hình Đạo giáo cuả người Trung Hoa);
3 - Hướng gia đình hoá (tức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên)
Cho tới nay, tín ngưỡng âm giới theo hướng cung đình hoá đã không còn tồn tại Hình bóng của nó, nếu còn, chỉ là một dạng biến thái trong hội đền Hùng, nơi vị lãnh đạo cao cấp nhất của nhà nước (Chủ tịch nước) hành lễ nhân dịp ngày Giỗ Tổ 10/3 Âm lịch Tuy nhiên, hoạt động này khác xa với các nghi lễ mang tính cung đình
xưa trong lễ tế giao mà các Vua triều Nguyễn vẫn còn cử hành cách đây hơn nửa thế
kỷ vì nó mang tính “gia đình” hơn là “cung đình.”
Tín ngưỡng âm giới theo hướng tôn giáo hoá với mô hình Đạo giáo Trung Hoa
có một lịch sử phát triển hết sức phức tạp Về cơ bản, hướng phát triển này cũng hưng thịnh và suy tàn theo sự tồn vong của Đạo giáo Trung Hoa tại Việt Nam Giai đoạn hưng thịnh nhất là vào khoảng thế kỷ 15-16 với nhiều Đạo Quán nổi tiếng như Linh Tiên Quán, Hưng Thánh Quán, Hội Linh Quán, nhưng tới cuối thế kỷ 16, các Đạo Quán dần bị thu hẹp hoặc bị xoá sổ Một số bị Phật giáo hoá thành chùa như chùa Mui, chùa Sổ (ở Hà Tây cũ) Các vị thần, thánh của Đạo giáo được đưa vào thờ ở
5 Xem thêm chi tiết trong cuốn sách của tác giả: Những biểu tượng đặc trưng trong văn hoá truyền
thống Việt Nam, mục: Thập điện tr 207-226.
6 Quan niệm "sống gửi thác về"cho rằng: Cuộc sống hiện tại chỉ là tam thời và cuộc sống sau khi chết mới là cuộc sống vĩnh hằng.
Trang 3trong chùa và gọi bằng những cái tên mới như Tam Thanh biến thành Tam Thánh, Quan Nguyên Sư biến thành Quan Công hay Đức Ông, Ngọc Hoàng Đại Đế biến thành Ngọc Hoàng, Cho tới nay, âm giới theo hướng này chỉ tồn tại một cách mờ nhạt bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo (các hướng tôn giáo hoá theo mô hình Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo ít phổ biến hơn chúng tôi sẽ đề cập đến trong một chuyên khảo khác) Sự phát triển của tín ngưỡng âm giới trong Phật giáo hiện nay là
sự kết hợp đặc biệt giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Phật của người Việt Có thể coi đây như một hiện tượng dân gian hoá Phật giáo hay Phật giáo hoá tín ngưỡng dân gian
Ngoài những biểu hiện của tín ngưỡng về âm giới mà chúng tôi đã thống kê ở trên thì ở Việt Nam, tín ngưỡng âm giới còn được biểu hiện ở một trạng thái đặc biệt:
thế giới của các âm hồn Đây là một thế giới đối lập với thế giới thực tại/thế giới hữu
hình/thế giới mà con người chúng ta đang sống Thế giới của âm hồn không thuộc âm phủ (tầng dưới) hay thiên đàng (tầng trên) mà là một thế giới riêng của những linh hồn đã rời thể xác Theo đó, những linh hồn này có sức mạnh siêu nhiên nên có thể điều khiển con người ở âm giới cũng như dương thế Những âm hồn này không được
định danh một cách cụ thể như ở các tôn giáo nên người Việt chỉ gọi chung là người cõi âm Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, người cõi âm bao gồm các vong
linh ông bà tổ tiên, cô gì, chú, bác thuộc mọi thành phần trong xã hội, những người này có thể phù hộ cho con cháu họ hoặc giáng hoạ cho họ Đây là một dạng tín ngưỡng này vừa mang tính gia đình vừa mang tính xã hội với nhiều nghi lễ và hoạt động tín ngưỡng liên quan đến văn hoá xã hội của người Việt Hiện nay dạng tín ngưỡng này đang phát triển mạnh mẽ và có những biến đổi hết lớn, tuy nhiên, dạng tín ngưỡng này không nằm trong nội dung của nghiên cứu này nên chúng tôi sẽ tìm hiểu trong một chuyên khảo khác
2 Âm giới trong vũ trụ luận của người Mường
Cùng có một nền tảng văn hoá của nhóm ngôn ngữ Việt-Mường nên những biểu hiện trong quan niệm về âm giới và vũ trụ luận của người Mường rất đáng để chúng ta đặt mối quan tâm Điều này đã được PGS Từ Chi chứng minh qua việc tìm hiểu cội nguồn văn minh Việt-Mường dựa trên hoa văn cạp váy của người Mường.7
Trong bối cảnh hiện nay, khi các thành tố văn hoá truyền thống của người Việt đã và đang bị mai một nhanh chóng, thậm chí nhiều thành tố đã bị xoá sổ thì việc tìm hiểu cội nguồn văn hoá Mường là một trong những cách thức tốt nhất để chúng ta tìm thấy
“hình bóng” của tổ tiên người Việt từ hàng nghìn năm trước
Giống như nhiều tộc người khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới, âm giới trong quan niệm của người Mường là nơi linh hồn sẽ cư ngụ ở đó sau khi rời khỏi thể xác Việc cử hành tang lễ chính là một hình thức “hướng dẫn” linh hồn đi đến âm giới khi nó không còn nơi trú ngụ ở dương thế Và nghệ thuật diễn xướng (mà cụ thể ở đây
là mo Mường) là một trong những công cụ quan trọng nhất để thực hành nghi lễ này Theo PGS Từ Chi: “Nếu quả thực, như chúng tôi nghĩ, khái niệm “linh hồn” là hạt nhân của mọi tư tưởng tôn giáo, thì tang lễ ắt phải là biểu hiện rõ nét nhất của khái niệm ấy Vì ma chay là gì nếu không phải là giải pháp cao nhất và cuối cùng - giải pháp tối chung – mà một cộng đồng người sống đưa ra để khuôn xếp số phận của linh hồn một thành viên Theo dõi diễn biến của tang lễ, thông qua đường đi nước bước của hồn người chết, cũng có thể biết được một số vùng thuộc vũ trụ ấy.” (Từ Chi,
1996, tr 11-17)
Rõ ràng đường đi của linh hồn chính là con đường giúp chúng ta tìm hiểu vũ trụ luận theo quan niệm của các tộc người nói chung và của người Mường nói riêng
7 Xem: Từ Chi, “Hoa văn cạp váy, hoa văn hình học,” trong Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người,
Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội 1996
Trang 4Theo một quan niệm tồn tại ở hầu hết các tộc người và các nền văn hoá, mỗi con người đều có một linh hồn, nó cư ngụ trong thể xác khi còn sống và rời bỏ thể xác khi con người tắt thở.8 Do đó, điểm khởi đầu trong hành trình của linh hồn để “trở về với
cát bụi” là khi con người trút hơi thở cuối cùng Sau đó, linh hồn sẽ đi đến một thế giới khác Cái thế giới khác này là nơi mà chúng ta đang bàn đến, đó chính là vũ trụ
quan của các tộc người và đối tượng mà chúng tôi đặt mối quan tâm ở đây chính là
âm giới Như vậy, âm giới bao gồm cả những nơi tốt đẹp hoặc không tốt đẹp, hoặc một thế giới nào đó mà các linh hồn sẽ trú ngụ sau khi rời thể xác Trong quan niệm
vũ trụ luận của người Mường thì vũ trụ là một hệ thống “ba tầng, bốn thế giới.” Vũ trụ này đã được PGS Từ Chi mô phỏng như sau:
H1 Vũ trụ luận của người Mường
Theo đó, “1 Hệ thống vũ trụ “ba tầng-bốn thế giới” của người Mường lấy mường Pưa, thế giới của người sống, làm trung tâm, mọi đường đi đều xuất phát từ đây, mọi thế giới khác đều qui tụ về đây 2 Tuy đều ở trong những không gian hữu hạn cả, mỗi thế giới lại có một bản chất riêng, do đó, sự thông thương giữa các thế giới bị hạn chế Mường Pưa là thế giới tự nhiên, là “cõi sống” của người Mường Mường Pưa tín, vốn thông thương với mường Pưa, cũng là thế giới tự nhiên, nhưng thấp kém hơn Mường Klơi (mường Trời) là thế giới siêu nhiên hoàn chỉnh nhất: thời gian ở đây là vô tận Mường Vua Khú, mang nặng tính chất cổ tích hơn tôn giáo, cũng
là một thế giới siêu nhiên 3 Vượt qua ranh giới giữa thế giới tự nhiên và thế giới siêu
nhiên, phải có môi giới của pháp thuật” (Từ Chi, tr 24-25) Sự môi giới của pháp thuật ở đây đóng vai trò là yếu tố quyết định để hình thành nên tôn giáo-tín ngưỡng
mà tang ma chính là một quá trình mô phỏng cụ thể nhất Chúng tôi sẽ trở lại với vấn
đề này khi tìm hiểu về mo Mường trong chuyên mục sau
Có thể thấy quan niệm về một vũ trụ ba tầng của người Mường là một dạng thức phổ biến ở rất nhiều nền văn hoá và nhiều tộc người trên thế giới, đây là một trong những dạng quan niệm sơ khai nhất về vũ trụ luận Hầu hết các tộc người ở Việt Nam như người Việt/Kinh, người Thái, người Ba-na, người Cơtu, người Bru-Vân
8 Trong tiếng Anh, chữ spirit vừa có nghĩa là tinh thần (của người sống) vừa là linh hồn (của người đã
khuất).
Trang 5Kiều, đều có quan niệm vũ trụ luận tương tự Một số tộc người đa số có trình độ phát triển cao như Kinh, Chăm, Kh’mer thì sự ảnh hưởng của tôn giáo, thiên văn học, triết học, đến từ Ấn Độ và Trung Hoa khiến cho quan niệm vũ trụ luận của họ biến đổi ít nhiều Mặc dù vậy, quan niệm về vũ trụ ba tầng hầu như không thay đổi với tầng trên cùng là Trời hoặc thần thánh; Tầng giữa là thế giới người sống gọi là trần gian hay dương thế; Tầng dưới là cõi âm, âm phủ,cõi ma,thế giới ma Đây là một vũ trụ mang tính ước lệ và tính biểu tượng
3 Tính biểu tượng 9 trong vũ trụ luận của người Mường
Mặc dù hầu hết mọi người trong chúng ta ít nhiều đều nhắc tới hoặc nghĩ tới linh hồn và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến đối tượng này Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn chưa ai có thể xác định một cách cụ thể linh hồn là gì Bởi theo các nguyên tắc của khoa học thực nghiệm hiện nay thì linh hồn không/chưa phải là một vật thể hay một thành tố cụ thể để có thể đem ra cân-đong-đo-đếm Do đó sẽ không có một loại linh hồn ở thể khí, thể lỏng, hay thể rắn để chúng ta có thể xác định sự tồn tại của nó trong điều kiện của khoa học hiện nay Những quy ước có đề cập đến linh hồn trong các tôn giáo, tín ngưỡng ở mọi nền văn hoá chỉ mang tính ước lệ và tính biểu tượng Vì vậy, vũ trụ luận của nguời Mường là một vũ trụ mang tính biểu tượng Vì lý
do này mà biểu tượng của thế giới âm/dương như quan niệm về thế giới Ma và thế giới Người của người Mường dưới đây có thể sắp xếp một cách tương đối theo chiều
ngang - trên dưới, hoặc chiều dọc - hai bên:
H2 biểu tượng hai thế giới của người Mường (minh họa của Từ Chi)
Đây chính là dạng quan niệm trần sao – âm vậy, hoặc dương sao – âm vậy khá
phổ biến ở Việt Nam Có nghĩa là bên cạnh (hoặc bên dưới) thế giới mà con người đang sống có một thế giới khác giống như một “bản sao âm bản” cuộc sống thực tại Quan niệm này đã tồn tại từ lâu đời và vẫn đang được thể hiện ngay trong giai đoạn hiện tại với một hiện tượng hết sức phổ biến là “đốt vàng mã.” Hiện tượng đốt vàng mã với đủ mọi loại sản phẩm dành cho ‘người âm” hệt như cuộc sống “trên trần” với nhà lầu, xe hơi, du thuyền, tivi, tủ lạnh, xe máy,
9 Bên cạnh ý nghĩa là tính từ của biểu tượng, “tính biểu tượng” ở đây còn là đặc trưng triết học về các
hình mẫu biểu tượng (symbolic forms), đó là mối quan tâm đến các dạng thức "nguyên thủy" về mô tả
thế giới dưới các dạng thức văn hoá cao hơn và phức tạp hơn Xem thêm: Ernst Cassirer, The
phylosophy of symbolic forms, Yale university Press 1971.
Trang 6cho thấy quan niệm về thế giới âm do chính những con người đang sống tạo nên Theo chúng tôi, đây chính là những minh chứng hữu hình về một thế giới vô
hình, là cái biểu đạt của một thế giới biểu tượng.
H3 Nhà lầu, xe hơi, dành cho “người âm.” Ảnh: TG
Như vậy, tính biểu tượng trong quan niệm về hai thế giới (âm và dương) khá
rõ ràng và dễ hiểu Tuy nhiên, quan niệm về vũ trụ ba tầng phức tạp hơn do có sự tách
bạch giữa hai phần tốt và xấu của âm giới (giống như ở trên dương thế) mà các đại
diện cụ thể là mường Klơi/Trời và mường Pưa tín Nhưng tại sao lại có hai phần đó? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời Theo chúng tôi, đây có thể là một sự phân chia dựa trên quy luật nhân-quả10 giữa cái tốt và cái xấu vốn luôn tồn tại trong mọi xã hội Trong một xã hội luôn có người thiện - kẻ ác, người thật thà - kẻ gian manh, người
trung thành - kẻ phản bội, Các cặp đối lập này thường song hành tồn tại và những
con người “cùng thời” đó sẽ chết trong cùng một khoảng thời gian Vậy thì hai loại người khác hẳn nhau đó dĩ nhiên không thể có cái kết cục giống nhau khi từ giã cõi
đời: Kẻ gieo nhân thiện sẽ gặp quả ngọt, kẻ gieo nhân ác sẽ gặp quả đắng
Rốt cuộc, phải có hai phần đối lập của âm giới để đưa những linh hồn “đối lập” nói trên vào “cư ngụ” ở hai nơi khác nhau Mường Trời và mường Pưa tín chính
10 Quy luật về nhân-quả được Phật giáo nhấn mạnh trên nhiều khía cạnh nhưng đây không phải là một
quy luật chỉ duy nhất có trong Phật giáo Trên thực tế nó tồn tại ở hầu hết các nền văn hoá dựa trên quan niệm về tốt-xấu Chẳng hạn người Việt quan niệm “ở hiền gặp lành” hay “thiện giả thiện báo-ác giả ác báo”
Trang 7là những biểu hiện cụ thể của hai phần đối lập này, chúng là những biểu tượng trọng tâm trong vũ trụ luận của người Mường bên cạnh thế giới thực của những người đang sống Dưới góc nhìn cấu trúc, vũ trụ luận của người Mường chính là sự mô phỏng các cặp đối lập trong văn hoá của tộc người Trong chuyên mục dưới đây, chúng tôi xin được làm rõ thêm nội dung này qua nghệ thuật diễn xướng Mo Mường
4 Tính biểu tượng của mo11 trong vũ trụ luận của người Mường
Để tìm hiểu tính biểu tượng trong nghệ thuật diễn xướng mo Mường, chúng ta
cần đặt nó trong một trường lý thuyết phù hợp và trường lý thuyết mà chúng tôi sử
dụng ở đây là quá trình diễn ngôn12 đối với một hệ thống ký hiệu được sử dụng trong ngôn từ mà các Pộ Mo đã và đang sử dụng Hệ thống ký hiệu này chính là những yếu
tố đã tạo nên cấu trúc đặc biệt của các áng mo mà giá trị của nó đã được nhiều nhà nghiên cứu như Vương Anh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đức Từ Chi, Jeanne Cuisinier, đánh giá cao, thậm chí, nó còn được xếp vào loại hình “sử thi sáng thế” của Việt Nam
Chính quá trình diễn ngôn, hệ thống ký hiệu và cấu trúc đặc biệt nói trên đã
kiến tạo nên vũ trụ luận của người Mường bằng nghệ thuật ngôn từ được sử dụng trong mo Mường Cấu trúc đặc biệt của mo Mường giúp cho các Pộ Mo dựa vào đó
để thực hiện các áng mo của riêng họ bằng thủ pháp nghệ thuật diễn xướng Chính vì vậy mà các áng mo không hoàn toàn giống nhau, dài ngắn khác nhau, có nhiều dị bản khác nhau, Nói một cách ví von, cấu trúc đặc biệt của mo Mường chính là phần
“xương” và ngôn từ (thông qua diễn ngôn của các Pộ Mo) là phần “thịt” cấu tạo nên
“cơ thể” của áng mo
Để có thể hiểu rõ hơn những phân tích nói trên, chúng ta cần đặt các đối tượng
đó dưới góc nhìn của cấu trúc luận.13 Theo đó, “cấu trúc luận “lược quy mọi hình thức diễn ngôn vào một hệ thống kí hiệu”, quan niệm hệ thống ngôn ngữ có tính tự trị, giữa
kí hiệu và vật được chỉ định không có mối liên hệ tất yếu nào, kí hiệu ngôn ngữ có nghĩa vì nó ở thế đối lập với các kí hiệu khác trong cùng một hệ thống chứ không phải
nó quy chiếu về hiện thực.”14 Dựa vào cấu trúc luận chúng ta có thể xác định được cấu
11 Từ MO trong tiếng Mường có nhiều nghĩa: 1) Danh từ chỉ loại giáo sĩ chuyên hành lễ trong đám tang 2) Danh từ chỉ những bài lễ ca mà bố Mo phải xướng lên trong quá trình hành lễ Lưu ý: người Mường không gọi là “thầy Mo” như nhiều người lầm tưởng, mà gọi là Pộ Mo (bố Mo) hay Ôông Mo (ông Mo) 3) Động từ chỉ hành động xướng các lễ ca nói trên Để tránh nhầm lẫn, mỗi khi từ MO được dùng theo nghĩa 1 thì chúng tôi viết hoa (Mo), còn khi dùng theo hai nghĩa sau thì chúng tôi không viết
hoa (mo) Theo Từ Chi.
12 Diễn ngôn là một thuật ngữ quan trọng trong ngôn ngữ học, văn học và nghệ thuật học Phạm vi sử dụng của thuật ngữ này hết sức rộng và hết sức phức tạp nên chúng tôi chỉ đưa ra một cách lý giải dễ hiểu nhất như sau: Quan niệm của R Barthes về diễn ngôn không chỉ bó hẹp trong ngôn ngữ mà mở rộng đến các hệ thống kí hiệu khác Ông nói: diễn ngôn có thể được viết ra, cũng có thể được thể hiện ở các hình thức chụp ảnh, phóng sự, thể thao, quảng cáo; và với tư cách một diễn ngôn, văn chương tạo thành cái biểu đạt, sự biểu đạt; hoặc trong tư cách hình thức, lối viết, cái biểu đạt trở thành diễn ngôn.
Ở chỗ khác, R Barthes còn giải thích: khái niệm diễn ngôn tương tự với văn bản do ngôn ngữ học
nghiên cứu Mỗi diễn ngôn bao gồm một đoạn lời nói hữu tận bất kì), tạo thành một thể thống nhất xét
từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức
nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại đoạn lời này gắn bó với những nhân tố văn hoá khác
nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ.”Xem: Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận
diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ, trong: http://lyluanvanhoc.com/?p=2167
13 Cấu trúc luận (structuralism) là một hệ hình (paradigm) lý thuyết có liên quan chặt chẽ đến ký hiệu
học, ngôn ngữ học, nhân học, văn học, nghệ thuật học, được hình thành cách đây hơn một thế kỷ và phát triển mạnh mẽ trong suốt thế kỷ qua với những tên tuổi nổi tiếng như Ferdinand des Sausure, Charles Sander Peirce, Roman Jakobson, Roland Barthes, Michael Foucault, Mặc dù có nhiều tranh luận xoay quanh hệ thống lý thuyết này nhưng tác động của nó đã ảnh hưởng ở phạm vi toàn thế giới Góc nhìn mà chúng tôi đặt ra ở đây là mối tương quan giữa hệ thống ký hiệu, ngôn ngữ, văn hoá đặt trong hệ hình mà các nhà cấu trúc luận đã sử dụng.
14 Xem: Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện Bđd.
Trang 8trúc của các áng mo (cũng như cấu trúc của thần thoại15 hay sử thi sáng thế) có những quy luật riêng Vì vậy, nhà nghiên cứu có thể dựa vào đó để tìm hiểu, phân tích hoặc phỏng đoán các dị bản tương đương của cùng một thể loại Trên đây là những thông tin tóm lược về trường lý thuyết mà chúng tôi sử dụng trong quá trình tìm hiểu vũ trụ luận của người Mường trên cơ sở phân tích nghệ thuật ngôn từ được sử dụng trong
mo Mường, qua đó làm rõ hơn một số chi tiết về tính biểu tượng của mo Mường
Theo nội dung của các áng mo, sau khi rời khỏi thể xác, linh hồn bắt đầu hành trình đến âm giới dưới sự dẫn dắt của Pộ Mo qua nhiều trường đoạn khác nhau và
những bối cảnh khác nhau “Cuốn phim quay chậm” này bắt đầu với Đẻ đất đẻ nước16
và tiếp đó là ba chuyến đi quan trọng tới mường Ma gặp gỡ những người thân đã qua đời gọi là “nhòm họ,” tới nơi “chôn rau cắt rốn” gọi là “nhòm mường” và chuyến thứ
ba lên mường Trời Sau khi hoàn tất “thủ tục” của những chuyến đi này, linh hồn sẽ vĩnh viễn tồn tại ở thế giới bên kia.17 Với một “vật thể không xác định” như linh hồn cùng những không gian cũng không kém phần “mông lung” như mường Ma hay mường Trời, rõ ràng, sự “diễn tả” bằng hình ảnh là điều rất khó Đây chính là căn nguyên để một loại hình nghệ thuật diễn xướng có tên gọi “mo” ra đời và phát triển rực rỡ trong văn hoá của người Mường, bởi chỉ có mo mới hội đủ khả năng diễn ngôn
cho nghệ thuật ngôn từ trong mo Mường
Chúng tôi nhấn mạnh đến yếu tố nghệ thuật ngôn từ trong mo Mường vì trên
thực tế loại hình diễn xướng này tuy có sự đóng góp của nhạc khí và giai điệu mo nhưng yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị bất hủ của mo Mường chính là nội dung của các áng mo Có thể nói, mo Mường chính là diễn ngôn quan trọng nhất trong sự hình thành vũ trụ luận của người Mường và yếu tố cấu thành những áng mo bất hủ đó chính là tính biểu tượng Có thể tóm tắt quá trình biểu tượng hoá của mo Mường để hình thành nên vũ trụ luận của người Mường thông qua các cặp đối lập trong hệ thống cấu trúc mo Mường như sau:
Các cặp đối ngẫu trong cấu trúc mo Mường
Tính biểu tượng của mo Mường không chỉ được biểu hiện qua ngôn từ -những thành tố không nhìn thấy (invisible) mà còn được thể hiện qua -những thành tố
có thể nhìn thấy (visible) Đó là “thức ăn, nước uống, nón, gậy đi đường, con gà báo thức,” và đặc biệt là “lá phướn ghi tên họ và quê quán của người chết” nó được coi như “chứng minh thư của linh hồn” (Từ Chi tr 33-34) Cũng như mọi loại hình nghệ thuật diễn xướng khác, các áng mo Mường không chỉ có lời thoại, lời kể, hay lời hát
mà còn được minh hoạ bằng các “đạo cụ” dành riêng cho chúng Dĩ nhiên, các đạo cụ này là sự mô phỏng những dụng cụ có thực trong đời sống của của con người nhưng đôi khi chúng chỉ là những hình ảnh tượng trưng như hình nhân thế mạng, hay tiền âm phủ, Đây chính là “ý thức nhân bản của người Mường xâm nhập vào cả thế giới siêu
15 Xem “Cấu trúc của thần thoại” trong Claude Levi-Strauss, Structural anthropology, Basic Books,
New York 1963 p.206-231
16 "Đẻ đất đẻ nước" là tác phẩm thơ dân gian đồ sộ trong kho tàng văn học cổ Việt Nam, cấu trúc chặt
chẽ, có yếu tố lịch sử và thần thoại mang đậm màu sắc tượng trưng, biểu hiện sáu sự kiện lớn của dân tộc Mường: hình thành đất nước, con người; xây dựng cơ sở vật chất, văn hoá; thu xếp công việc gia
đình; lo việc nước, các xung đột, các chiến công; bảo vệ lãnh thổ và hoàn chỉnh chế độ cai trị." Đẻ đất
đẻ nước" đã khắc hoạ bước phát triển ban đầu của dân tộc Mường Theo http://daitudien.net.
17 Xem chi tiết trong phần mô tả của Từ Chi, tlđd tr.30.
Trang 9nhiên”(Từ Chi, tr.34) Rõ ràng, vũ trụ luận của người Mường mô phỏng thế giới siêu
nhiên nhưng các chất liệu để xây dựng lên nó lại là những chất liệu có thực trong thế
giới tự nhiên Dĩ nhiên, thế giới siêu nhiên đó sẽ không thể được kiến tạo nếu thiếu đi một yếu tố quyết định, đó là tính biểu tượng
Thay lời kết
Trên đây là những nghiên cứu bước đầu của chúng tôi trong quá trình tìm hiểu
âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người Mường thông qua một
hoạt động nghi lễ đặc biệt: tang ma Trong bối cảnh “trăm hoa đua nở” về quan niệm
âm giới cùng hàng nghìn loại dịch vụ dành cho tang ma hiện nay ở Việt Nam, việc xác định “đường đi” cho linh hồn của người thân quá cố trong mỗi gia đình là một việc hết sức khó khăn Bên cạnh những khó khăn do các đối tượng được hướng đến chỉ
mang tính biểu tượng nên rất khó xác định như linh hồn, âm giới, một khó khăn
khác trong “bối cảnh hậu hiện đại”18 là những tác động của khoa học công nghệ, văn hoá, từ bên ngoài du nhập vào Việt Nam nói chung và các tộc người thiểu số như người Mường nói riêng Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống như những áng mo trong tang lễ của người Mường là một việc làm hết sức cần thiết Công việc đó không chỉ nhằm bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của một tộc người, mà hơn thế, nó còn giúp cho thân nhân của những người quá cố an lòng với sự ra đi của người thân Xa hơn, nó giúp cho linh hồn của người quá cố (nếu có!) “thanh thản” ra đi hoặc được “siêu thoát” theo quan niệm luân hồi
Từ góc nhìn của một nghiên cứu nhân học văn hoá xã hội, chúng tôi cho rằng quan niệm về âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người Mường là một quan niệm mang tính nhân văn sâu sắc Nó khác xa với cách nghĩ “chết là hết”
trong quan niệm của những người theo vô thần luận (atheism) Tính nhân văn xuất
phát từ quan niệm này không chỉ có tác động tốt đối với những người thân ở lại mà nó còn có tác động tốt đối với người ra đi hay linh hồn của họ Đối với người thân đang sống, nó giúp cho họ giảm bớt hoặc gạt bỏ được những cảm xúc buồn đau lúc phải chia tay người ra đi Hơn thế, nó giúp họ báo hiếu, trả nghĩa bằng một suy nghĩ đậm
tính nhân văn: “nghĩa tử là nghĩa tận.” Đối với người ra đi thì một sự an lành trong
vòng tay người thân trong gia đình, trong dòng họ hay được tổ chức bởi tôn giáo của
mình chính là một cảm giác mãn nguyện cần thiết (“vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng”- Tố Hữu) trước lúc rời xa thế gian Và nếu như thực sự linh hồn có tồn tại thì
việc hướng dẫn linh hồn đi “nhòm họ,” “nhòm mường,” rồi lên trời như trong tang lễ của người Mường lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trước chuyến đi xa Suy
cho cùng thì sự mãn nguyện của người ra đi là điều cần thiết nhất cho dù linh hồn có
tồn tại hay không
Đ.H.H Tài liệu trích dẫn:
Vương Anh Cb., Mo-Sử thi dân tộc Mường, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1997 Antoine Compagnon, Bản mệnh của lý thuyết (Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào dịch), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006
Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội
1996
Ernst Cassirer, The phylosophy of symbolic forms, Yale University Press 1971
Đinh Hồng Hải, Âm giới và Thập điện Diêm vương trong văn hoá Việt Nam, Tạp chí văn hoá
dân gian số 5, 2005
Đinh Hồng Hải, Những biểu tượng đặc trưng trong văn hoá truyền thống Việt Nam,
Nhà xuất bản Tri Thức 2012
18 Láy tên một tác phẩm nổi tiếng của Jean-Francois Lyotard đề cập đến những tác động và biến đổi của
xã hội sau giai đoạn hiện đại.
Trang 10Đinh Hồng Hải,Cấu trúc luận với nghiên cứu biểu tượng: Từ kí hiệu học đến nhân học biểu tượng, 2012, trong trang Lý luận văn học của Viện Văn học:
www.lyluanvanhoc.com
Jeanne Cuisinier, Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội 1995
Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ, trong:
http://lyluanvanhoc.com/?p=2167
Claude Levi-Strauss, Structural anthropology, Basic Books, New York 1963 p.206-231 Nguyễn Hưng Quốc, Thơ v.v… và v.v…, Nhà xuất bản Văn nghệ, California 1996
Từ điển trực tuyến:
http://ardictionary.com/Funeral/7005
http://www.merriam-webster.com/dictionary/cosmology
http://plato.stanford.edu/search/searcher.py?query=religious+cosmology14
http://www.merriam-webster.com/dictionary/cosmology