Nếu tốc độ tăng trưởng này của doanh nghiệp có thể giảm xuống trong tương lai gần do doanh nghiệp đã đạt mức bão hoà, thì vấn đề này chỉ xảy ra tạm thời, đo đó có thể giải quyết bằng việ
Trang 1tăng trưởng vμ quản lý tăng trưởng
trong doanh nghiệp
ThS Nguyễn quỳnh sang
Bộ môn Kinh tế xây dựng Khoa Vận tải – Kinh tế - Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Báo cáo lμm rõ tăng trưởng trong doanh nghiệp vμ đưa ra một số giải pháp khi
doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh vμ quá thấp
Summary: This report explains basic questions on the growth of enterprises and provides
some solutions for the too much growth and the too little growth of enterprises
i mở đầu
KT-ML
Tăng trưởng và quản lý tăng trưởng ngày nay là những vấn đề đặc biệt quan trọng trong hoạch định tài chính, một phần bởi vì, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xem tăng trưởng giống như là tối đa hoá lợi nhuận Họ viện lý do đơn giản rằng khi gia tăng tốc độ tăng trưởng, gia tăng thị phần thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng Tuy nhiên, nhìn từ góc độ tài chính, tăng trưởng không phải luôn là điều tốt đẹp một cách tuyệt đối Nói rộng hơn, tăng trưởng
có thể đặt các nguồn lực của một doanh nghiệp trong một trạng thái căng thẳng mà có thể dễ dàng nhìn thấy được Trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông nói chung hiện nay doanh thu năm sau bao giờ cũng tăng hơn năm trước nhưng đi kèm theo đó là các khoản nợ phải trả cũng tăng nhất nhanh Vì vậy, nếu các doanh nghiệp không nhận thức được sự ảnh hưởng này
và tạo các bước đi cần thiết để kiểm soát chúng, tăng trưởng có thể dẫn đến phá sản Một
doanh nghiệp có thể bị phá sản nếu tăng trưởng quá nhanh hoặc quá chậm
ii tăng trưởng lμ gì
Định nghĩa đơn giản nhất về tăng trưởng là sự tăng lên của sản lượng hμng hoá vμ dịch vụ
mμ sự tăng trưởng nμy được duy trì trong một thời gian dμi (Pramit Chaudhuri, Economic theory
of Growth 1989) Như vậy, tăng trưởng của một doanh nghiệp là sự tăng lên của doanh số tiêu
thụ sản phẩm và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định nào đó Hay, tăng trưởng có thể được hiểu
lμ mức độ phát triển cả về lượng vμ về chất của doanh nghiệp sau từng giai đoạn nhất định Do
việc tính mức độ tăng trưởng dựa vào giá trị gia tăng thêm của sản lượng, doanh số, cho nên
Trang 2cần làm rõ một số khái niệm:
Thứ nhất, tăng trưởng cần xem xét theo quan điểm động, bởi vì những nguồn lực tạo ra
tăng trưởng là thay đổi theo thời gian và nó làm cho tăng trưởng về sản lượng kéo dài liên tục
Do đó, những yếu tố tạo ra sự thay đổi rời rạc về sản lượng từ mức thấp lên mức cao không phải
là tăng trưởng theo quan niệm trình bày ở đây
Thứ hai, đó là phân biệt rõ sản lượng và sản lượng tiềm năng Phần lớn các lý thuyết tăng
trưởng nghiên cứu đến quá trình tăng lên của lực lượng lao động và mức tăng lên của vốn, có
liên quan đến sự thay đổi sản lượng tiềm năng Trong khi đó những thay đổi thực tế của sản
lượng qua thời gian lại chịu sự chi phối bởi khả năng của doanh nghiệp, hiệu quả của việc sử
dụng lực lượng lao động và vốn Nói khác đi, khi tính toán sản lượng thực tế cần thiết phải xét tới
khả năng tận dụng các nguồn lực, các cơ hội hiện có của doanh nghiệp trong khoảng thời gian
đó
Thứ ba, trong khi tỷ lệ tăng trưởng có thể tính toán được, dựa vào phần tăng lên của sản
lượng thì sai lầm của chúng ta là thường bỏ qua, hoặc tối thiểu hoá vai trò của chất lượng tăng
trưởng Mặt chất cũng là cấu thành quan trọng của tăng trưởng vì nó tác động tới thị trường hàng
hoá và thị trường các yếu tố đầu vào Đối với thị trường hàng hoá, tăng trưởng không đơn giản
chỉ nhìn thấy số lượng hàng hoá tăng, mà còn thể hiện ở chất lượng của các hàng hoá được
nâng cao, đa dạng hoá các loại sản phẩm và giành được thị phần xứng đáng Đối với thị trường
các yếu tố đầu vào, tăng trưởng có tác dụng cải thiện điều kiện lao động, hợp lý hoá sản xuất,
tăng năng suất lao động
Tăng trưởng quá nhanh
KT-ML
Đây là vấn đề then chốt của tăng trưởng bền vững đối với các doanh nghiệp phát triển quá
nhanh Do việc gia tăng hiệu quả hoạt động không phải lúc nào cũng khả thi và việc thay đổi
chính sách tài chính không phải lúc nào cũng là hành động khôn ngoan, hoàn toàn hợp lý khi
cho rằng một doanh nghiệp phát triển quá nhanh là điều tốt cho doanh nghiệp Đây là điều đặc
biệt đúng đối với các doanh nghiệp nhỏ vì không có điều kiện thực thi kế hoạch tài chính đầy đủ
Các doanh nghiệp này cho rằng tăng trưởng doanh thu là việc cần được tối đa hoá và ít khi nghĩ
tới các hệ quả tài chính của vấn đề Họ không nhận thức được rằng tăng trưởng nhanh cũng có
những khó khăn riêng của nó; doanh nghiệp cμng phát triển nhanh thì cμng cần nhiều tiền, ngay
cả khi doanh nghiệp đang kinh doanh rất có lãi Doanh nghiệp có thể đáp ứng trước mắt nhu
cầu này bằng việc gia tăng đòn bẩy tài chính (tức gia tăng đòn cân nợ), nhưng một khi doanh
nghiệp đã đạt tới giới hạn của nợ vay, các chủ nợ sẽ từ chối cho vay thêm và doanh nghiệp sẽ
rơi vào tình trạng thiếu tiền để thanh toán
Tất cả các điều trên có thể tránh được nếu các doanh nghiệp nhận thức được rằng tăng
trưởng quá mức tỷ lệ tăng trưởng bền vững sẽ gây ra các khó khăn về tài chính Cần được tiên
liệu trước và đề ra hướng giải quyết thích hợp
III thực trạng tăng trưởng trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông
Thực tế hiện nay tốc độ tăng trưởng ở hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông năm
sau cao hơn năm trước cả về lao động, doanh thu, tổng vốn… Có thể thây rõ qua báo cáo của
một số Tổng công ty xây dựng giao thông sau:
Trang 3Đơn vị tính: Triệu đồng
Doanh thu Tốc độ tăng (%) Lao động Tốc độ tăng
(%) Tên TCT
Nhìn vào số liệu bảng trên cho thấy các chỉ tiêu doanh thu, lao động tăng bình quân của các tổng công ty xây dựng giao thông năm 2001 so với năm 2000 là 9%, còn năm 2000 so với
năm 1999 lên tới 41% Cá biệt có có một số doanh nghiệp tỷ lệ tăng rất cao như Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 5 về doanh thu năm 2000 so với năm 1999 tăng 29%, năm 2001
so với 2000 lên tới 63%, về lao động cũng vậy tốc độ tăng rất cao
Tuy nhiên, do tốc độ tăng về doanh thu đi kèm theo đó là các khoản nợ phải trả cũng tăng lên rất nhanh Có thể thấy rõ qua số liệu cụ thể ở Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1
sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
Doanh thu 1.114.221 1.341.167 1.500.000 1.904.208 2.384.805
Nợ phải trả 1.123.622 1.603.214 1.665.900 2.620.287 3.599.121
KT-ML
Qua số liệu ở bảng trên cho thấy tốc độ tăng trưởng về doanh thu là cao nhưng nếu so với tốc độ tăng của các khoản nợ phải trả còn cao hơn nhiều Chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng
của các năm so với năm 1999, doanh thu tăng 20%, thì nợ phải trả tăng 43%, cá biệt như năm
2003 doanh thu tăng được 114% thì nợ phải trả tăng tới 220% Từ đó, vấn đề đặt ra cho Tổng
công ty XDCTGT 1 nói riêng và các doanh nghiệp XDGT nói chung là phải có những giải pháp
sao cho vừa đảm bảo được tốc độ tăng trưởng, vừa kiểm soát được các khoản nợ phải trả Dưới
đây tác giả xin đưa ra một số giải pháp quản lý tăng trưởng, mang tính chất chung cho các loại
hình doanh nghiệp
iv một số giải pháp khi tăng trưởng thực tế lớn hơn tốc độ tăng trưởng
bền vững
Bước đầu tiên là xem tình hình này sẽ kéo dài bao lâu Nếu tốc độ tăng trưởng này của doanh nghiệp có thể giảm xuống trong tương lai gần do doanh nghiệp đã đạt mức bão hoà, thì
vấn đề này chỉ xảy ra tạm thời, đo đó có thể giải quyết bằng việc đi vay mượn thêm Theo đó,
trong tương lai, khi tốc độ tăng trưởng thực tế giảm xuống nhỏ hơn tăng trưởng bền vững, doanh
nghiệp sẽ chuyển từ kẻ tiêu tiền sang người tạo ra tiền và có thể trả được nợ vay Đối với vấn đề
tăng trưởng bền vững dài hạn, cần có một vài sự phối hợp một số giải pháp sau:
Trang 41 Huy động vốn cổ đông mới
Nếu một doanh nghiệp có ý định và có khả năng huy động vốn cổ đông mới bằng cách bán
thêm các cổ phiếu phổ thông, thì các vấn đề về tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp sẽ
không còn tồn tại Khi vốn cổ đông tăng lên, cộng với số tiền có thể vay thêm, sẽ là các nguồn
tiền nhằm trợ giúp cho sự tăng trưởng hơn nữa
Vấn đề khó khăn đối với giải pháp này là không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được
Nhất là đối với nước ta, thị trường cổ phiếu rất kém phát triển Vì vậy, để bán được cổ phiếu, các
doanh nghiệp phải làm các công việc vô cùng khó khăn và tốn kém để tìm ra từng nhà đầu tư
một, có thiện ý mua các cổ phiếu mới Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn do không có thị
trường chứng khoán hoạt động để giao dịch cổ phiếu, các nhà đầu tư mới sẽ chỉ là những người
thiểu số sở hữu các cổ phiếu không thể mua bán được Do đó, các nhà đầu tư này chỉ quan tâm
mua lại các cổ phiếu mới do bà con và bạn bè đang sở hữu
2 Gia tăng các đòn bẩy
Nếu việc phát hành ra các cổ phiếu mới không phải là giải pháp cho vấn đề tăng trưởng
bền vững của doanh nghiệp, thì hai phương thức tài chính còn lại có thể chấp nhận được
Phương thức thứ nhất lμ giảm tỷ lệ lợi nhuận chia cho các cổ đông (giảm hoặc không chia cổ
tức) và phương thức thứ hai lμ gia tăng đòn bẩy tμi chính (tăng nợ vay) Việc cắt giảm tỷ lệ chia
cổ tức để duy trì tăng trưởng bền vững sẽ làm gia tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp,
trong khi gia tăng đòn bẩy tài chính bằng cách vay nợ thêm cũng sẽ góp phần vào sự gia tăng
trong lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng các đòn bẩy tài chính cũng có
giới hạn nếu không doanh nghiệp sẽ luôn bị áp lực của các chủ nợ cho vay về khối lượng nợ
vay Ngoài ra, một khi đòn bẩy tài chính gia tăng, những rủi ro mà các cổ đông và chủ nợ phải
3 Giảm tỷ lệ chia cổ tức
Cũng giống như đòn bẩy tài chính, tỷ lệ lợi nhuận chia cho các cổ đông cũng có giới hạn
Nói chung, mối quan tâm của các cổ đông về tỷ lệ cổ tức được chia có quan hệ nghịch biến với
quan niệm của họ về cơ hội đầu tư của doanh nghiệp Nếu các cổ đông cho rằng lợi nhuận giữ
lại có thể sử dụng hiệu quả để tạo ra suất sinh lời hấp dẫn hơn, họ sẵn sàng gác qua lợi nhuận
được chia hôm nay để có thể nhận được suất sinh lợi cao hơn trong tương lai Trái lại, nếu các
cơ hội đầu tư của doanh nghiệp là không mấy sáng sủa, việc cắt giảm cổ tức sẽ làm các cổ
đông giận dữ, các cổ đông sẽ bán đi cổ phiếu và khi đó giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ giảm
ngay lập tức Thêm vào đó, điều mà các lãnh đạo doanh nghiệp phải quan tâm là tác động của
việc chia cổ tức lên các nghĩa vụ thuế và thu nhập của các cổ đông
4 Giảm bớt để sinh lợi
Ngoài việc điều chỉnh các chính sách tài chính, một doanh nghiệp có thể thực hiện các thay
đổi về hoạt động kinh doanh để kiểm soát việc tăng trưởng quá nhanh Một giải pháp được gọi
là "giảm bớt để sinh lợi"
Giảm bớt để sinh lợi sẽ làm giảm các nhược điểm của tăng trưởng bền vững theo hai
cách: Nó trực tiếp tạo ra nguồn tiền cho doanh nghiệp thông qua việc bán bớt các cơ sở có suất
sinh lợi thấp, và nó làm giảm sự gia tăng doanh số thực tế do việc bỏ bớt một số nguồn làm tăng
doanh thu
Trang 5Giảm bớt để sinh lợi cũng có thể áp dụng cho các doanh nghiệp chỉ có một sản phẩm duy nhất ý tưởng ở đây là giảm bớt các khách hàng thanh toán dây dưa kéo dài, hoặc giảm bớt hàng tồn kho luân chuyển chậm Điều này sẽ giải quyết các khó khăn trong tăng trưởng bền vững theo ba cách: nó giải phóng nguồn tiền bị chiếm dụng để đưa vào hoạt động tạo điều kiện cho sự phát triển tăng trưởng mới, nó làm tăng việc luân chuyển tài sản, và nó làm giảm doanh thu do thắt chặt các điều khoản bán chịu và giảm hàng tồn kho sẽ làm mất đi một số khách hàng
5 Sử dụng ngoại lực (thuê ngoài)
Thuê ngoài liên quan tới quyết định liệu có nên thực hiện hoạt động sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp hoặc mua nó từ những cơ sở bên ngoài Một doanh nghiệp có thể gia tăng tỷ lệ tăng trưởng bền vững của mình bằng việc thực hiện thuê ngoài nhiều hơn và giảm việc thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp Khi doanh nghiệp thực hiện chiến lược thuê ngoài, nó sẽ giải phóng một số tài sản gắn liền với các hoạt động này, và nó sẽ làm tăng việc luân chuyển tài sản của doanh nghiệp Cả hai tác dụng này sẽ làm giảm bớt các khó khăn trong vấn đề tăng trưởng
6 Giá cả
Tồn tại mối quan hệ tương hỗ rõ ràng giữa giá bán và lợi nhuận Khi doanh thu tăng quá cao làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính của doanh nghiệp thì cần thiết phải tăng giá bán để làm giảm sự gia tăng của doanh thu Nói việc tăng giá làm hệ số lợi nhuận ròng tăng thì cũng
đồng nghĩa với sự gia tăng tỷ lệ tăng trưởng bền vững
7 Sáp nhập có phải là một giải pháp?
Khi mọi giải pháp đều thất bại, thì điều cần thiết là cần phải tìm một doanh nghiệp có két sắt không đáy Có hai loại doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu tiền nếu trên Thứ nhất
đó là các doanh nghiệp ổn định, hoạt động ít rủi ro, các doanh nghiệp có nguồn tiền mặt dồi dào
và đang muốn tìm kiếm các cơ hội đầu tư có tỷ lệ sinh lời cao để tiêu thụ bớt tiền dư Loại doanh nghiệp thứ hai là các doanh nghiệp có chính sách tài chính bảo thủ Mua một công ty khác hoặc sáp nhập vào một công ty khác là một giải pháp cứng rắn nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn trong tăng trưởng
KT-ML
V Một số giải pháp khi tốc độ tăng trưởng thực tế thấp hơn tốc độ tăng trưởng bền vững
Bước đầu tiên là quyết định xem liệu tình trạng này là tạm thời hay lâu dài Nếu là tạm thời, thì đơn giản là đưa các nguồn lực tích trữ ra để phục vụ nhu cầu tăng trưởng được dự kiến trong tương lai
Nếu tình trạng này mà kéo dài, thì cần xem xét việc tăng trưởng thấp là vấn đề chung của cả ngành kinh doanh - kết quả tất yếu khi thị trường bão hoà - hay chỉ là vấn đề đơn độc của doanh nghiệp Nếu là vấn đề riêng của doanh nghiệp, các lý do của tăng trưởng thấp và các nguồn lực dự kiến phục vụ cho tăng trưởng mới cần phải được tìm kiếm trong nội bộ doanh nghiệp Trong trường hợp này doanh nghiệp cần xem xét kỹ tình hình hoạt động của doanh
Trang 6nghiệp nhằm tháo gỡ các ràng buộc bên trong gây cản trở sự tăng trưởng của doanh nghiệp, có
thể phải cải tổ cơ cấu tổ chức cũng như gia tăng việc chi tiêu
Khi một doanh nghiệp không thể đạt được tốc độ tăng trưởng cần thiết, thì thường có ba
giải pháp để lựa chọn:
- Bỏ qua vấn đề này
- Hoàn vốn lại cho các cổ đông
- Đi tìm mua sự tăng trưởng
1 Bỏ qua vấn đề
Điều này được thực hiện theo hai hình thức
- Doanh nghiệp vẫn tiếp tục đầu tư vào ngành nghề như trước mặc cho suất sinh lợi không
còn hấp dẫn, hoặc
- Cứ ngồi yên vị, mặc cho đống tài sản sử dụng không có hiệu quả ngày một to thêm Khó
khăn đối với phương án này là các tài sản bỏ không sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều người
Các nguồn lực sử dụng không hiệu quả sẽ làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp và làm cho các
cổ phiếu dễ dàng được mua bán trên thị trường và tạo điều kiện cho các đối thủ cạnh tranh
chiếm quyền lãnh đạo doanh nghiệp Nếu đối thủ cạnh tranh gom đủ số cổ phiếu cần thiết, họ
có thể bố trí lại nguồn lực doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả hơn và kiếm được số lợi nhuận
cần thiết Và họ sẽ thực hiện tái bố trí lại các nguồn lực và như vậy các đối thủ cạnh tranh đã trở
thành ban quản lý doanh nghiệp
KT-ML
2 Hoàn trả lại vốn cho cổ đông
Giải pháp này được thực hiện bằng cách tăng tỷ lệ thanh toán cổ tức hoặc mua vμo các cổ
phiếu của chính doanh nghiệp mình Giải pháp này không được một số doanh nghiệp lựa chọn
vì: thứ nhất đây không phải là thông lệ ở nhiều nước, luật thuế ở một số nước khuyến khích giữ
lại lợi nhuận doanh nghiệp để tái đầu tư bằng việc đánh thuế thu nhập hai lần, một lần ở mức
thu nhập doanh nghiệp và một lần nữa ở mức thu nhập cá nhân, do đó thậm chí mức sinh lợi
đầu tư của doanh nghiệp có thấp đi nữa thì đôi khi nó vẫn hấp dẫn các cổ đông hơn là tăng tỷ lệ
thanh toán cổ tức Thứ hai, quan trọng hơn là, rất nhiều nhà quản lý thường có khuynh hướng
thích sự tăng trưởng, dù cho sự tăng trưởng này rất nhỏ Xét về phương diện cá nhân, các nhà
quản lý không muốn gia tăng tỷ lệ thanh toán cổ tức cho các cổ đông, bởi vì nếu làm vậy thì
chẳng khác nào phơi trần sự thất bại của họ trong quản lý Các cổ đông tin tưởng giao tiền của
mình cho các nhà quản lý với nhiệm vụ làm cho đồng vốn của họ sinh sôi nẩy nở, vì vậy việc
hoàn vốn cho các cổ đông chẳng khác nào tự thừa nhận tình trạng quản lý kém cỏi của mình
3 Mua sự tăng trưởng
Các nhà quản lý với tính hãnh tiến về khả năng quản lý của mình, với mong muốn giữ lại
những nhân viên chủ chốt, và làm vơi đi nỗi lo sợ những kẻ đảo chính thôn tính doanh nghiệp,
họ thường dùng nguồn tiền dư thừa để đa dạng hoá đầu tư ra các doanh nghiệp khác, thường là
Trang 7các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh đang là trào lưu Do thời gian là một nhân tố quyết định, cho nên thường việc mua lại các doanh nghiệp đã có thời gian hoạt động đáng kể sẽ
được ưa chuộng hơn là các doanh nghiệp mới thành lập
Lộ trình và hành động hợp lý đối với chương trình mua lại một doanh nghiệp là một nhiệm
vụ nặng nề Tuy nhiên, ở đây có hai quan điểm cần lưu ý Thứ nhất, rất quan trọng về nhiều
phương diện, việc quản lý những khó khăn của vấn đề tăng trưởng của các doanh nghiệp đã bão hoà hay đang suy giảm là hình ảnh phản chiếu qua gương của những doanh nghiệp đang trên đà phát triển Đặc biệt những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng thấp thường tìm các giải pháp sử dụng có hiệu quả các nguồn tiền dư của mình, trong khi các doanh nghiệp đang có tốc
độ tăng trưởng nhanh lại đi tìm giải pháp huy động thêm tiền để tài trợ cho tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững của mình Do đó, hoàn toàn hợp tự nhiên khi các doanh nghiệp
có tốc độ tăng trưởng thấp và các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao đôi khi giải quyết việc quản lý những vấn đề khó khăn trong tăng trưởng bằng cách kết hôn với nhau Theo đó, doanh nghiệp thừa tiền thiết lập nên một tổ chức để có thể tài trợ vốn cho những doanh nghiệp đang
phát triển nhanh Thứ hai, theo quan điểm của các cổ đông, mua sự tăng trưởng là kém hơn rõ
rệt so với hoàn tiền lại cho các cổ đông Liệu có hơn không khi kỳ vọng sự tăng trưởng bằng việc mua lại doanh nghiệp khác Bởi vì sau khi bỏ ra một số tiền cần thiết để sở hữu một doanh nghiệp khác, doanh nghiệp mua phải đối diện với việc đầu tư có suất sinh lợi không đáng kể thậm chí còn tệ hơn cả trước kia
Tóm lại, hiểu thực chất tăng trưởng và quản lý tăng trưởng trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây dựng giao thông nói riêng là hết sức quan trọng Với những nội dung đã nêu trên tác giả hy vọng góp phần nhỏ giúp các doanh nghiệp đưa ra được giải pháp thích hợp để quản lý tăng trưởng của doanh nghiệp mình
KT-ML
Tài liệu tham khảo
[1] Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế - Tài chính doanh nghiệp Nhà xuất bản Tài chính,
1999
[2] Nguyễn Tất Bình Phân tích quản trị tài chính Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
2002
[3] PGS TSKH Nghiêm Văn Dĩnh, TS Phạm Văn Vạng Quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
xây dựng giao thông - Khoa Sau Đại học- Trường Đại học GTVT, 2000
[4] PTS Vũ Duy Hμo, Đμm Văn Huệ, ThS Nguyễn Quang Ninh Quản trị tài chính doanh nghiệp – Nhà
xuất bản Thống kê, 1997
[5] Nguyễn Hải Sản Quản trị tài chính doanh nghiệp Nhà xuất bản Thống kê, 2001
[6] xavier richet Kinh tế doanh nghiệp Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 1997
[7] Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một số Tổng công ty xây dựng công trình giao thông các năm 1999, 2000, 2001, 2002, 2003♦