1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CAU HI VA CAU TR LI ON TP MON TRIT

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 436,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lập, tách rời với các sự vật khác; b Xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh tại không vận động, không biến đổi, vĩnh viễn cố định; c Quá trình phát

Trang 1

CÂU HỎI VÀ CÂU TRẢ LỜI ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC

CÂU 1: Bằng kiến thức đã học anh, chị hãy chứng minh luận điểm: “ CNDV siêu hình không thể giải thích đúng được ý thức xã hội ” Liên hệ thực tế bản thân.

1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT SIÊU HÌNH: chủ trương giải thích tự nhiên từ bản thân nó Nhờ

các phương pháp phân tích, mổ xẻ giới tự nhiên thành những bộ phận tách biệt nhau mà khoa học tự nhiên đã đạt được những bước tiến khổng lồ Chính cách xem xét đó đã được Bêcơn (F Bacon) và Lôckơ (J Locke) áp dụng vào triết học, đem lại cho triết học một hình thức mới -CNDVSH

a) Xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lập, tách rời với các sự vật khác;

b) Xem xét sự vật trong trạng thái tĩnh tại không vận động, không biến đổi, vĩnh viễn cố định;

c) Quá trình phát triển được xem như là sự tăng trưởng đơn thuần về mặt số lượng chứ không có

sự thay đổi về chất lượng;

d) Tìm nguồn gốc của sự vận động và phát triển ở bên ngoài sự vật (ở Thượng đế, ở cái hích đầu tiên, vv.), chứ không tìm trong sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật; e) Có quan điểm cứng nhắc chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung hợp được; nói

có là có, không là không, cái gì vượt ra ngoài phạm vi đó chẳng có giá trị gì hết Đối với những người theo CNDVSH thì một sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; một sự vật không thể vừa là chính nó, lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, nguyên nhân và kết quả cũng đối lập nhau một cách cứng nhắc như vậy Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định CNDVSH là một giai đoạn tất yếu trong sự phát triển của triết học Nó có vai trò nhất định trong việc bảo vệ và phát triển quan điểm duy vật, nhưng tất yếu bị thay thế bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 2

2 Ý thức xã hội: là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những tư tưởng, quan điểm cùng

những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… của cộng đồng xã hội trong những giai đoạn nhất định

Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện vật chất của xã hội, gồm quan hệ

xã hội vật chất giữa người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người

Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại như thế nào thì ý thức xã hội như thế

ấy Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội sớm hay muộn cũng thay đổi theo Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng phát triển của ý thức xã hội

Như vật, nếu xét trên khía cạnh của CNDVSH thì CNDV siêu hình chỉ đúng khi giải thích về ý thức xã hội khi xem xét một cá nhân, một cá thể nào đó dưới góc độ thiển cận xét đến các yếu tố các mối quan hệ khác Tuy nhiên, thực tế cho thấy ý thức XH là sự phản ánh về mặt tinh thần các tồn tại xã hội, ý thức xã hội không thể là nguồn gốc của mọi hiện tượng xã hội, tất

cả đều xuất phát từ tồn tại xã hội, nếu chỉ đánh giá sự vật theo trạng thái tĩnh, cô lập và không có mối quan hệ vật chất với các sự vật khác, thì không phản ánh đúng được tồn tại xã hội của sự vật

đó cũng như sẽ tạo nên ý thức xã hội không đung về sự vật đó, do đó nếu chỉ nhìn theo góc độ của CDVSH thì ko thể nào giải thích đúng về YTXH

3 Liên hệ thực tế bản thân:

Từ truyện ngụ ngôn thầy bói xem voi, ta nhận thấy nếu nhìn dưới góc độ của CNDVSH, 5 ông thầy bói chỉ xem xét một bộ phận của con voi nhưng lại đánh giá là cả con voi, như vậy hoàn toàn không phản ánh đúng tồn tại xã hội cũng như làm sai lệch ý thức xã hội về con voi đó Trong cuộc sống của bản thân mỗi người chúng ta nếu chỉ đứng trên quan điểm của CNDVSH chỉ xem xét bộ phận mà không xét toàn thể, chỉ thấy tĩnh mà không thấy động, chỉ thấy cây mà không thấy rừng thì sẽ khiến cho ta dễ mắc phải sai lầm về cách nhìn nhận và ý thức

về một sự việc hoặc đánh giá sai một người nào đó

Thực tiễn cho thấy,đối với những người làm vị trí cán bộ thẩm định đối với khách hàng doanh nghiệp, nếu chỉ nhìn ở góc độ CNDVSH chỉ xét đến một mình doanh nghiệp đó, tập trung chú ý đến báo cáo tài chính của công ty mà không hề quan tâm đến tình hình thực tế của doanh nghiệp, không xem xét đánh giá đến mối quan hệ của doanh nghiệp đó với các nhóm khách hàng liên quan hay các đối tác kinh doanh, cũng như không xét đến các yếu tố ngoại cảnh khác có thể tác động đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp này như biến động của kinh tế thế giới, xu hướng hay sự quan tâm của người tiêu dung về lĩnh vực trên thì sẽ không phản ánh được hết năng lực tài chính thực sự cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp đó, như vậy có thể sẽ dẫn đến việc đưa ra các quyết định sai làm trong công tác thẩm định

Trang 3

CÂU 2: Nhận định “ Vận động, không gian, thời gian, các qui luật của tự nhiên đều có tính vật chất ” là đúng hay sai ? Vì sao ? Chứng minh ? Liên hệ thực tiễn công việc của anh, chị đang làm.

Vận động, không gian, thời gian, các qui luật của tự nhiên đều có tính vật chất” là đúng

Định nghĩa vật chất.

Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác

- Vận động là phương thức tồn tại và thuộc tính cơ bản của vật chất, gồm mọi biến

đổi và quá trình phát sinh

+ Theo Ăng – ghen, vận động “là thuộc tính cố hữu của vật chất”, “là phương thức tồn tại của vật chất” Điều này có nghĩa là vật chất tồn tại bằng cách vận động, trong vận động và thông qua vận động, các dạng vật chất thể hiện đặc tính của mình Trong quá trình khám phá thế giới khách quan việc nhận thức sự vận động của vật chất trong các dạng khác nhau của nó, về thực chất là đồng nghĩa với nhận thức bản thân vật chất “Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động; với một vật thể không vận động thì không có gì để nói cả”

+ Với tính cách là thuộc tính bên trong vốn có của vật chất, theo quan điểm của triết học Mác – Lenin, vận động là sự tự vận động, được tạo nên do sự tác động lẫn nhau của các tồn tại vật chất Điều này trái ngược với quan điểm duy tâm hoặc siêu hình về vận động Không có một sức mạnh nào nằm bên ngoài vật chất lại có thể khiến cho vật chất vận động Vật chất không

ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt cho nên vận động với tính cách là phương thức tồn tại tất yếu của vật chất

- Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

+ Trong triết học duy vật biện chứng, cùng với phạm trù vận động thì phạm trù không gian và thời gian cũng là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật chất Ăng – ghen viết: “Các phần thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian” Theo Ăng – ghen thì không gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và cả hai đều có thuộc tính cố hữu của vật chất Không thể có vật chất nào tồn tại bên ngoài không gian và thời gian, cũng như không thể có

Trang 4

khụng gian và thời gian nào tồn tại bờn ngoài vật chất Lờnin cũng đó nhận xột rằng: “ Trong thế giới, khụng cú gỡ ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động khụng thể vận động ở đõu ngoài khụng gian và thời gian”

- Lenin khẳng định thuộc tớnh chung nhất của vật chất là tồn tại khỏch quan mà cỏc quy luật tự nhiờn là quy luật nảy sinh và tỏc động trong giới tự nhiờn Cỏc quy luật này tồn tại khỏc

quan bờn ngoài và khụng phụ thuộc vào ý thức con người Do đú nú cú tớnh vật chất

Liờn hệ thực tiễn cụng việc

Lói suất và tỷ giỏ ngõn hàng luụn vận động khỏch quan theo khụng gian (tựy vào chớnh sỏch từng ngõn hàng), thời gian (theo từng thời kỳ nhất định mà NHNN quy định mức trần và mức sàn) và cỏc quy luật tự nhiờn (khủng hoảng kinh tế,thiờn tai, khủng bố) khụng do ý thức con

người quyết định, con người chỉ cú thể đưa ra cỏc gúi giải phỏp nhằm điều tiết hoặc khắc phục

mà khụng thể can thiệp vào sự vận động tất yếu của nú Vỡ vậy, đũi hỏi chỳng ta phải nắm vững nghiệp vụ cựng với kỹ năng dự đoỏn tốt mới trỏnh được rủi ro như rủi ro tỷ giỏ, tớn dụng, thanh khoản…

Nền kinh tế toàn cầu luụn vận động và thay đổi theo thời gian, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và cam go về kinh doanh dịch vụ tài chớnh - ngõn hàng như hiện nay thỡ "miếng bỏnh lợi nhuận" sẽ phần nhiều thuộc về ai biết nắm lấy cơ hội và vượt qua những khú khăn, thử thỏch Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, đũi hỏi chỳng ta phải ngày càng nõng cao trỡnh độ bản thõn để cú bắt kịp xu thế hiện nay:

Một là, nâng cao kiến thức nghiệp vụ, mỗi nhõn viờn phải có khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức mới cần thiết cho công việc của mình

Hai là, phải đào tạo đợc nguồn nhân lực có chất lợng cao thích nghi với sự đổi mới và phát triển nhanh, đáp ứng đợc nhu cầu quá trình toàn cầu húa

Ba là, phải chăm lo bồi dỡng và phát triển đội ngũ nhân tài, phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về có trình độ, năng lực quản lý, có t cách đạo đức tốt Đõy là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa trên tri thức Trong một nền kinh tế dựa vào tri thức thì mọi ngời đều phải học tập thờng xuyên, học tập

Trang 5

suốt đời để có thể thích nghi với sự phát triển và đổi mới nhanh của khoa học - công nghệ, sản xuất, kinh doanh

Bờn cạnh vấn đề nhân lực, cần phải nõng cao cũng như cải tiến những vấn đề khỏc như cải tiến hệ thống cụng nghệ thụng tin, cỏc dịch vụ ngõn hàng điện tử, thường xuyờn cập nhật những quy định mới… thỡ mới đỏp ứng được nền kinh tế luụn vận động nhu hiện nay

CÂU 3: “ Thừa nhận tớnh nhận thức vụ hạn thế giới là sức mạnh của trớ tuệ loài người ” là nhận định của trường phỏi Triết học nào ? Bằng kiến thức đó học anh, chị hóy chứng minh

và liờn hệ thực tiễn cuộc sống.

Bản chất của nhận thức và vai trũ của thực tiễn đối với nhận thức

Quan niệm về nhận thức của một số trào lưu triết học trước Mỏc

Xuất phỏt từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khỏch quan của thế giới vật chất, chủ nghĩa duy tõm chủ quan cho rằng nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giỏc của con người; chủ nghĩa duy tõm khỏch quan lại coi nhận thức là sự "hồi tưởng lại" của linh hồn bất tử về "thế giới cỏc ý niệm" mà

nú đó từng chiờm ngưỡng được nhưng đó bị lóng quờn, hoặc cho rằng nhận thức là sự "tự ý thức

về mỡnh của ý niệm tuyệt đối"

Khỏc với chủ nghĩa duy tõm chủ quan và chủ nghĩa duy tõm khỏch quan, những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thỏi hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tớnh xỏc thực của tri thức thành một nguyờn tắc của nhận thức Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người hoặc hạn chế ở cảm giỏc bề ngoài của

sự vật

Đối lập với những quan niệm đú, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ỏnh hiện thực khỏch quan vào trong đầu úc của con người Tuy nhiờn, do sự hạn chế bởi tớnh trực quan, siờu hỡnh, mỏy múc mà chủ nghĩa duy vật trước Mỏc đó coi nhận thức là sự phản ỏnh trực quan, đơn giản, là bản sao chộp nguyờn xi trạng thỏi bất động của sự vật Họ chưa thấy được vai trũ của thực tiễn đối với nhận thức Chớnh vỡ thế

mà C.Mỏc đó nhận xột rằng: "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cỏi cảm giỏc được, chỉ được nhận thức dưới hỡnh thức khỏch thể hay hỡnh thức trực quan, chứ khụng được nhận thức là hoạt động cảm giỏc của con người, là thực tiễn; khụng được nhận thức về mặt chủ quan"1

Như vậy cú thể núi, tất cả cỏc trào lưu triết học trước Mỏc đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cỏch khoa học, đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trũ của thực tiễn đối với nhận thức

Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đó tạo ra một cuộc cỏch mạng trong lý luận nhận thức Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phỏt triển một cỏch sỏng tạo và được minh chứng bởi

Trang 6

những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, của thực tiễn xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết về nhận thức Học thuyết này ra đời dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con người Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người Coi nhận thức là sự phản

ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được

Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá

trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của

nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Dựa trên những nguyên tắc cơ bản đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:

Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.

Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Phạm trù "thực tiễn"

Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác - Lênin nói chung và của lý luận nhận thức mácxít nói riêng Trong lịch sử triết học không phải mọi trào lưu đều đã đưa ra quan niệm một cách đúng đắn về phạm trù này Chẳng hạn chủ nghĩa duy tâm chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người, chứ không xem nó là hoạt động vật chất, là hoạt động lịch sử xã hội Ngược lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác, mặc dù

đã hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người nhưng lại xem đó là hoạt động con buôn, đê tiện, bẩn thỉu Nó không có vai trò gì đối với nhận thức của con người

Khắc phục những yếu tố sai lầm, kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tố hợp lý trong những quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng

Vậy thực tiễn là gì?

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội

Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng những công

cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo những mục đích của mình Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử Chính vì vậy mà thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính lịch sử - xã hội

Trang 7

Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức

cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện trước hết ở chỗ: Thực tiễn là cơ sở của

nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy lôgíc không ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng "nối dài" các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới

Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà nó còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Điều này có nghĩa là thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức C.Mác đã viết: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý"1

Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình Nhấn mạnh vai trò đó của thực tiễn, V.I.Lênin

đã viết: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận

về nhận thức"

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn,

đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải liên

hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa

Các tính chất của chân lý

Chân lý có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể.

Tính khách quan của chân lý là tính độc lập về nội dung phản ánh của nó đối với ý thức của con

người và loài người Điều đó có nghĩa là nội dung của những tri thức đúng đắn không phải là sản phẩm thuần túy chủ quan, không phải là sự xác lập tùy tiện của con người hoặc có sẵn ở trong nhận thức mà nội dung đó thuộc về thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định

Ví dụ, luận điểm cho rằng "trái đất quay xung quanh mặt trời" là một chân lý Chân lý ấy có tính khách quan bởi vì nội dung của luận điểm đó phản ánh đúng sự kiện có thực, tồn tại độc lập đối với mọi người, không lệ thuộc vào ý thức của mỗi người

Khẳng định chân lý có tính khách quan là một trong những đặc điểm nổi bật dùng để phân biệt quan niệm về chân lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng so với chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết Đồng thời đó cũng là sự thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất

Trang 8

Chân lý không chỉ có tính khách quan mà nó còn có tính tuyệt đối và tính tương đối Tính tuyệt đối của chân lý là tính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữa nội dung phản ánh của tri thức với hiện

thực khách quan Về nguyên tắc, chúng ta có thể đạt đến tính tuyệt đối của chân lý (chân lý tuyệt đối) Bởi vì, trong thế giới khách quan không tồn tại một sự vật, hiện tượng nào mà con người hoàn toàn không thể nhận thức được Khả năng đó trong quá trình phát triển là vô hạn Song khả năng đó lại bị hạn chế bởi những điều kiện cụ thể của từng thế hệ khác nhau và bởi điều kiện xác định về không gian và thời gian của đối tượng được phản ánh Do đó chân lý lại có tính tương đối

Tính tương đối của chân lý là tính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ giữa nội dung phản ánh của những tri thức với hiện thực khách quan Điều đó có nghĩa là giữa nội dung của chân lý với khách thể được phản ánh chỉ mới phù hợp từng phần, từng bộ phận, ở một số mặt, một số khía cạnh nào đó trong những điều kiện nhất định

Tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý không tồn tại tách rời nhau mà có sự thống nhất biện chứng với nhau Một mặt, tính tuyệt đối của chân lý là tổng số các tính tương đối Mặt khác, trong mỗi chân lý mang tính tương đối bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố của tính tuyệt đối V.I.Lênin viết: "Chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lý tương đối đang phát triển; chân lý tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập với nhân loại; những phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lý khoa học, dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối"

Nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý có một ý nghĩa quan trọng trong việc phê phán và khắc phục những sai lầm cực đoan trong nhận thức và trong hành động Nếu cường điệu tính tuyệt đối của chân lý, hạ thấp tính tương đối của nó sẽ rơi vào quan điểm siêu hình, chủ nghĩa giáo điều, bệnh bảo thủ, trì trệ Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa tính tương đối của chân lý, hạ thấp vai trò của tính tuyệt đối của nó

sẽ rơi vào chủ nghĩa tương đối Từ đó dẫn đến chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa xét lại, thuật ngụy biện, thuyết hoài nghi và không thể biết

Ngoài tính khách quan, tính tuyệt đối và tính tương đối, chân lý còn có tính cụ thể Tính cụ thể

của chân lý là đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với một đối tượng nhất định

cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể Điều đó có nghĩa là mỗi tri thức đúng đắn bao giờ cũng có một nội dung nhất định Nội dung đó không phải là sự trừu tượng thuần túy thoát ly hiện thực mà nó luôn luôn gắn liền với một đối tượng xác định, diễn ra trong một không gian, thời gian hay một hoàn cảnh nào đó, trong một mối liên hệ, quan hệ cụ thể Vì vậy, bất kỳ chân lý nào cũng gắn liền với những điều kiện lịch sử - cụ thể, cũng có tính cụ thể Nếu thoát ly những điều kiện lịch sử cụ thể thì những tri thức được hình thành trong quá trình nhận thức sẽ rơi vào sự trừu tượng thuần túy Vì thế nó không phải là những tri thức đúng đắn và không được coi là chân lý Khi nhấn mạnh đặc tính này V.I.Lênin đã viết: ""không có chân lý trừu tượng", rằng "chân lý luôn luôn là cụ thể""1

Căn cứ để phân biệt các trường phái triết học trong lịch sử? Trảlời:

Triết học là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới vật chất và về vị trí của con người trong thế giới đó; nó đã có lịch sử ra đời và phát triển trên hai ngàn năm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Tổng kết toàn bộ lịch sử triết họ, đặc biệt là lịch sử triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen đã khái quát: “vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại” Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Thứ nhất, giữa ý thức và

Trang 9

vật chất: cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Thứ hai, con người có khả

Mọi triết học đều tập trung giải quyết hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học, chính vì vậy, vấn

đề cơ bản của triết học là chuẩn mực để phân biệt các trường phái triết học trong lịch sử Vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa ồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần là vấn đề cơ bản của triết học Tất cả những hiện tượng mà chúng ta gặp thường ngày chỉ có thể hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức chúng ta, hoặc là hình thức tinh thần tồn tại trong ý thức chúng ta Không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực đó Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập đến và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, bằng hình thức này hoặc hình thức khác, trực tiếp hoặc gián tiếp Có thể nói, ở đâu và lúc nào việc nghiên cứu được tiến hành trên bình diện vấn đề quan hệ vật chất và ý thức thì lúc đó và ở đó việc nghiên cứu triết học được bắt đầu Kết quả và thái độ của việc giải quyết đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp của các nhà nghiên cứu; xác định bản chất của các trường phái triết

Trả lời cho câu hỏi, ý thức và vật chất, tinh thần hay giới tự nhiên, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Tùy thuộc vào lời giải đáp cho câu hỏi này, các học thuyết khác nhau chia làm thành hai trào lưu cơ bản chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sang tạo ra; còn ý thức là phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất Chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng Đối lập với chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tinh thần, ý thức có trước và là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên, của vật chất Trong chủ nghĩa duy tâm những người cho rằng, cảm giác, ý thức của con người là cái có trước và quyết định sự tồn tại của mọi

sự vật và hiện tượng bên ngoài Các sự vật và hiện tượng chỉ là “ những tổng hợp của cảm giác “

và tư tưởng Phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách của các sự vật, hiện tượng Đó là những nhà triết học duy tâm chủ quan Con những người cho rằng; tinh thần, ý niệm(“lý tính thế giới” “tinh thần tuyệt đối” hay “ý niệm tuyệt đối”) là cái có trước thế giới vật chất, nó quyết đinh sự tồn tại của giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người.; tất cả mọi sự vật và hình thuức trong giới tự nhiên, xã hội là hiện thân của tinh thần, ý niệm đó Cái thực thể đó tồn tại bên ngoài con người

và tồn tại độc lập với con người Đó là những nhà triết học duy tâm chủ quan Nhưng dù biểu hiện khác nhau thì các nhà triết học duy tâm chủ quan hay khách quan cũng chỉ là bằng cách này hay cách khác phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối lien hệ với khoa học Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là tuyệt đối hóa một mặt của các quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận

Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy tâm)giải thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những nhà triết học theo nhị nguyên luận, họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện tượng trong thế giới

họ cho rằng thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất; thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần

Trang 10

Về việc trả lời cho câu hỏi, khả năng nhận thức thế giới của con ngươì Chủ nghĩa duy vật xuất phát từ chỗ cho rằng, vật chất là nguồn gốc của ý thức và ý thúc là sự phản ánh của thế giới vật chất Do đó thừa nhận con người có khả năng, có thể nhận thức được thế giới và các quy luật của thế giới Đa số các nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể nhận thức được Nhưng do xuất phát từ quan niện cho rằng, ý thức có trước vật chất và vật chất phụ thuộc vào ý thức, cho nên, theo họ, nhận thức thế giới không phản ánh thế giới mà chỉ là tự nhận thức, phủ nhận cảm giác, khả năng, ý niện của con người là cái phản ánh các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan

Trả lời câu hỏi mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học còn có những nhà triêt học bác bỏ về nguyên tắc khả năng của con người nhận thức được thế giới Đó là những nhà triết học theo thuyết bất khả tri(thuyết có thể biết)

Như vậy, việc trả lời cho hai câu hỏi của hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học chính là căn cứ

để phân biệt các trường phái triết học trong lịch sử: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; khả tri luận và bất khả tri luận; chủ nghĩa nhị nguyên và chủ nghĩa hoài nghi luận Nhưng về căn bản

có chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai trường phái chính và lớn nhất, còn về thực chất, chủ nghĩa nhị nguyên có cùng bản chất với chủ nghĩa duy tâm, còn hoài nghi luận thuộc về bất khả tri luận; mặt khác, bất khả tri luận thường có mối liên hệ mật thiết với chủ nghĩa duy tâm, còn khả tri luận thường gắn với chủ nghĩa duy vật

CÂU 4: Phân tích một chức năng của Triết học mà anh, chị tâm đắc Liên hệ thực tiễn công việc của anh, chị đang công tác.

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VI TCN gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp v.v Triết theo nghĩa chữ Hán là trí- sự hiểu biết của con người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới; theo nghĩa tiếng

Ấn Độ là Darshna, là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con đường đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung; theo tiếng Hy Lạp là philosophya (yêu mến sự thông thái) Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới

Triết học có các chức năng như :

- Chức năng thế giới quan: định hướng :

- Chức năng phương pháp luận: gợi mở :

- Chức năng dự đoán về triển vọng lịch sử

- Chức năng phê phán: để phát triển

- Chức năng giá trị

- Chức năng xã hội – nhân văn

Em thích và tâm đắc nhất với chức năng phê phán của triết học Chức năng chuẩn mực và phê phán - chức năng “phê phán và cách mạng”như C.Mác thường nói, của triết học Mác cũng đã được các nhà triết học mácxít sử dụng để khẳng định vai trò định hướng của triết học này trong các cuộc tranh luận giữa những quan niệm khác nhau về bản chất, nguyên nhân, quy mô và mức

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w